Tế Nam Giao Tại Việt Nam
I/ Định Nghĩa :
Tế Nam Giao là một lễ tế vô cùng quan trọng trong các triều đại quân chủ xa xưa có từ ngàn năm của Trung Hoa . Vì ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa, nước Việt Nam từ các triều đại xa xưa vẫn giữ đúng các mỹ tục đó. Tế Nam Giao là một cuộc tế Tạ Ơn trời đất do triều đình đứng ra tổ chức và người chủ tế trong cuộc tế đó phải là vị Hoàng Đế đương triều.
Theo như cổ tục từ xa xưa của nền văn hóa Á Đông quan niệm rằng: Thượng Đế là bậc chí tôn, ngài ban ơn hay trừng phạt những lỗi lầm của con ngườị Và đó cũng là căn bản của Khổng Giáo để từ đó đưa con người vào trật tự biết kính trời, sợ đất.
Và cũng theo quan niệm từ xa xưa của nền văn hóa Á Đông thì quyền năng tối thượng của Thượng Đế chỉ được trao cho một vị chân mạng Đế Vương để cầm quyền trong một nước. Do đó mà vị Hoàng Đế của một nước còn được gọi là vị Thiên Tử (con trời).
Từ xa xưa, đàn tế trong buổi tế Nam Giao thường được thiết lập cách Kinh Đô một trăm dặm về hướng Nam. Vì tế Nam Giao là buổi lễ để tạ ơn Thượng Đế - hay còn gọi là lễ tế Trời Đất. Do đó, người đứng chủ tế phải là vị Thiên Tử (tức Hoàng Đế).
Lễ tế Nam Giao, trước đây cứ hàng năm tổ chức một lần. Nhưng đến triều đại Nhà Nguyễn vào đầu thế kỷ thứ 20 - thì buổi tế đó được rút xuống chỉ tổ chức 3 năm một lần mà thôi.
II/ Thiết lập Đàn Tế Nam Giao :
Từ ngàn xưa, đàn tế Nam Giao thường được thiết lập tại hướng Nam của Kinh Độ Đến đời Nhà Nguyễn - Vua Gia Long đặt ra đàn tế này được thiết lập ở giữa nhiều đồi núi ở gần Kinh Đô Huế - Trên có những cây thông và nằm hướng theo chiều Bắc Nam có bốn vòng đai lồng vào nhau; toàn thể được bao bọc bằng một tường gạch - chiều dài 390 mét từ Bắc chí Nam và chiều ngang 265 mét từ Đông sang Tây. Hàng rào thứ hai hình vuông - mỗi chiều 165 mét. Hàng rào thứ ba cũng hình vuông mỗi chiều 85 mét - đây được mệnh danh là bàn thờ Đất. Cuối cùng thì hàng rào thứ ba - tức bàn thờ Đất - trèo lên khoảng 12 bậc thì đến một bàn thờ hình tròn đường
kính 12 mét - được gọi là bàn thờ Trời - Ở giữa bàn thờ này có lợp một chiếc lều vải rộng bằng vóc màu xanh để tượng trưng cho bầu trời.
Chúng ta cũng nên nhớ rằng, theo quan niệm xa xưa. Đất
tượng trưng bằng hình vuông và Trời tượng trưng là hình tròn. Do đó mà trong lễ tế của dân làng hay lễ tế tổ tiên. Cha ông ta từ thời lập quốc mới có tục lệ làm bánh dày (hình tròn) tượng trưng cho Trời hay Người Cha và bánh chưng (hình vuông) tượng trưng cho Đất hay Người Mẹ.
Trong bốn bức tường kể trên, mỗi bức tường đều có bốn cửa theo bốn hướng (mà ta gọi là Tứ Phương): Đông, Tây, Nam, Bắc. Riêng cửa phương Nam có ba cổng ra vào được xây bằng gạch. Cửa chính giữa dành cho các bậc Thần Linh, cửa bên hữu (bên phải) dành cho Hoàng Đế, còn cửa bên tả (bên trái) thì các quan tế điện mới được bước vào. Mỗi cửa đều có chiếc bình phong - cốt để ngăn chặn các Tà Thần.
Bàn thờ Đất ngay giữa khu này, được dựng một chiếc lều bằng vóc vàng mà ta thường gọi là "Nhà Vàng" - tại đây có đặt một hương án xếp đầy lễ vật. Hai bên có tám hương án để thờ các vị thần linh là:
- Dương Quang Tinh Tú Thần (Thần mặt trời và các vì sao)
- Phong Vũ Vân Lôi Thần (Thần gió, mưa, mây, sấm )
- Binh Tướng Nguyệt Đức Thần (Tức Thần mặt trăng, và quân đội trên trời)
- Sơn Hải Hà Hồ Thần (Thần núi, biển, sông, hồ)
- Bình Nguyên Phì Địa Thần (Thần của các Đồng Bằng và màu mỡ)
- Dạ Quang Thần (Thần ban đêm)
- Du Thần (là các Thần có ảnh hưởng đối với trái đất và tất cả con người)
Tại bàn thờ Trời, đặt tại mô đất tròn chính giữa trong khu đất trung tâm của đàn Tế Nam Giaọ Nơi đây có hương án thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, xung quanh có nhiều hương án để thờ các vị Tiên Đế đương triều.
III/ Sửa soạn trước buổi lễ Nam Giao :
Tế Nam Giao là một buổi tế đối với các triều đại quân chủ là một cuộc tế lễ để tạ ơn trời đất, để tỏ sự tôn sùng đối với Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế cai quản chư thần, đồng thời cũng mang một hình thái cầu xin xá tội của bậc Hoàng Đế đối với Thiên Nhan, xin Đức Ngọc Hoàng đại xá cho những lỗi lầm đã trót mắc phải. Vì những lẽ đó cuộc tế lễ phải được tổ chức vô cùng trọng thể mà phải do chính vị Hoàng Đế đứng chủ tế.
Trước ngày tế ba tháng, Vua sẽ ra chỉ dụ và do Toà Khâm Thiên Giám đã chọn được ngày trước. Lời "cáo tri" được một viên quan Đại Thần tuyên đọc, với nội dung của bản "cáo tri" này không phải cho thần dân trong nước mà mục đích là để báo cáo cho các bậc Thần Linh:
Bản "cáo tri" này đại để như sau :
"Đại Nam Quốc, tuế thứ........
Tiểu thần Nguyễn........, phụng ngự chiếu của Đức Việt Nam Hoàng Đế, kế thế các tiên triều liệt thánh, cẩn tấu Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, đến ngày tháng........Toàn dân nước Việt Nam sẽ dâng lễ tế Nam Giao, tiểu thần kính cẩn cáo tri trước Thiên Nhan và chư thần. Cẩn tấu."
Hai tuần lễ trước ngày tế, thì "cáo tri" với các đấng Tiên Đế để cung thỉnh các ngài về dự lễ. Ba ngày trước hôm tế, một sắc chỉ của Hoàng Đế được ban bố để nhắc nhở các người dự tế phải ăn chay giới và dọn mình thật thanh khiết.
Việc chay giới này rất quan trọng. Để nhắc nhở nhà vua, trước đó bốn ngày, người ta mang đến cho nhà vua một tượng người bằng đồng còn gọi là "đồng nhân", rước tượng này đến cung điện của vua, để ngày đêm vua nhìn thấy vị thần tượng trưng cho trong sạch và chay tịnh. Hầu cho nhà vua cũng giữ mình y như vậy.
IV/ Buổi Rước Lễ Nam Giao :
Hôm tế Nam Giao, từ 8:00 sáng tức giữa giờ Thìn, khi tiếng súng thần công báo hiệu mở đầu. Một đám rước kiệu tập trung sẵn tại Điện Cần Chánh để khởi hành. Đám rước chia làm ba đoạn: tiền quân, trung quân, và hậu quân. Tiền quân là một hàng voi choàng đầy phẩm phục rất lộng lẫy, có một quản tượng và một vị quan ngồi có lọng che, theo sau là một đoàn nhạc công, mang các trống, chiêng, và các đồ nghi trượng như : loa đồng, cờ xí, hương án, tàn lọng và nhạc cụ. Trung quân quan trọng nhất, ngoài các phần việc còn có lính thị vệ mang "hèo" và "trượng" là hai loại vũ khí chỉ huy và hộ vệ, mang kiếm của Đức Vua và các tinh kỳ riêng biệt.
Sau đó là đoàn quân vác cờ, thuộc cờ biểu tượng của Thiên Đình như cờ: Đại Hùng Tinh, Cờ Nhật Nguyệt, các cờ Ngũ Hành...thuộc về Dịch Lý. Vua sẽ ngồi trong chiếc ngự liễn sơn son thiếp vàng đi ở giữa, xung quanh có các kiệu Hoàng Thân, quốc thích. Ngự liễn của vua phải có 06 người khiêng, che hai chiếc tán lớn và có 1 vị đại thần đi phò giá, hai hàng võ quan đi sát hai bên, lính ngự lâm và cung thủ mang những phủ việt đi hộ vệ, sau đó là xe ngựa của các vị Thượng Thư và các quan dự lễ. Hậu quân là một hàng quân gồm những người mang nhạc khí như bát âm, một chiếc chuông lớn, mười hai chiếc lục lạc nhỏ, một trống cái lớn gọi là Đại Cổ để trên một
chiếc giá trống lớn, mười hai chiếc khánh đá, mỗi chiếc có một tiếng vang cao thấp khác nhau, một chiếc đàn thập lục mang hình đầu hổ, một chiếc sáo lớn, một chiếc cổ cầm thật lớn; cuối cùng là hai con voi khoác vải vóc lộng lẫy đi sau cùng.
V/ Tế Nam Giao :
Đám rước đến đàn tế vào khoảng giờ ngọ (12 giờ trưa). Vua được đưa đến phía Tây Nam của đàn tế, vào một cung gọi là Trai Cung - Vua sẽ nghỉ ở đó một đêm để suy tưởng trước hôm hành lễ.
Hôm Tế Nam Giao; vào giờ Sửu (khoảng 02 giờ sáng), Đại Kỳ được kéo lên. Vua lên kiệu vào cửa Tây, ở đó vua sẽ xuống kiệu đi bộ leo lên đàn về phía phải và do cửa Nam tiến vào. Vua dừng lại một nơi gọi là "Mục Dục" để làm lễ rửa tay.
Góc Đông Nam của đàn tế, lập một nhà bếp của chư thần gọi là Thần Trù, đây là nơi làm lễ Tam Sinh: thiêu một con nghé và phần việc phải nhóm lửa luôn tay cho lửa cháy thật to.
Kể từ lúc rửa tay xong, nhà vua phải đi đúng nhịp, sao cho hoà đồng với các viên bồi tế - và đúng nghi thức tiến, thoái theo tiếng xướng của viên lễ sinh. Vẫn bằng cửa Nam, nhà vua tiến vào bàn thờ Đất. Khi vua bước vào, các phần việc phải đốt to ngọn lửa thiêu con nghé, lông và huyết phải chôn xuống đất để cúng dâng cho Đất. Vua đốt hương, các bồi tế khấn vái và tụng bài Thái Hoà để ca tụng sự thái bình an lạc.
Khi vái tạ các thần xong, vua bước lên bàn thờ Trời - Vua dâng ngọc ngà, vóc lụa - sau đó vua rót rượu cúng để lên bàn thờ cùng các lễ vật khác. Trong lúc đó, phần việc mang chiếc mâm đựng thịt tam sinh (gồm thịt nghé, thịt heo và thịt dê) cũng được đặt lên bàn thờ.
Đây là lúc quan trọng nhất của buổi tế. Các lễ sinh xướng phủ phục, vua và các viên bồi tế đều phải quỳ xuống. Một vị quan Đại Thần đến trước Hương Án lấy bài văn tế và quỳ xuống rồi tiến quỳ (tức là quỳ và di chyuển theo thế đó) trước mặt vua. Bài văn tế này do cơ quan trong nội các viết - và để dành một phần trống ở trên để dành riêng cho vua vì chỉ có một mình nhà vua biết sẽ viết gì trong lời khấn này.
Sau khi viên quan đọc văn tế xong, nhà vua phải rót rượu hai lần để cúng - mỗi lần nhà vua phải bưng ly rượu đó bằng hai tay, nâng cao ngang trán và vái ba vái. Sau đó các viên quan bồi tế được chia nhau uống rượu này và ăn phần tế ngay lúc đó, gọi là được ban lộc Trời - còn phần nhà vua thì đặt phần tế vào khay để mang về cung dành cho nhà vua.
Những phẩm vật không chia phần sẽ cùng bài văn tế được đốt trong một cái chuông đồng không để sót một vật gì. Theo quan niệm cha ông ta, thì khói lửa sẽ mang hương vị của các lễ vật dâng cúng các vị thần linh.
Khi lễ vật đốt xong, viên quan bôì tế xướng: Lễ Tất ! Vua về Trai Cung - và ở ngoài sân của Trai Cung các Hoàng Thân Quốc Thích và các quan trong triều đến phủ phục và chúc nhà vua đã hoàn tất cuộc tế tốt đẹp. Chín phát súng thần công nổ vang, báo hiệu sự hồi cung của vua.
Khỏi phải nói, chúng ta cũng biết rằng trong buổi lễ long trọng và to lớn như vậy thì dân chúng sẽ tụ tập suốt dọc đường để xem cuộc tế đông như thế nào rồi.
Đối với Tế Nam Giao - buổi tế này mang một tính cách trọng đại - vì vị Hoàng Đế đương trị vì đã phục tùng vương đạo để giữ niềm tin: Kính Trời Sự Đất. Đó là một hành động mang tính chất của nền vương chính để đưa con người vào đúng đạo nghĩa. Do đó, nhà vua phải có một khuôn mẫu gấp đôi. Vừa là đại diện cho khắp thần dân và cũng lại vừa chứng tỏ rằng chính nhà vua cũng phải tôn trọng trật tự cũng như mọi người.
Có người đã hỏi Đức Khổng Phu Tử là tại sao con người lại phải kính trời - Khổng Tử đáp: "Chính ta cũng chẳng rõ, nhưng ai hiểu rõ, thì trị dân như trở bàn tay vậy".
Để kết bài sưu khảo nhỏ mọn này; chúng ta thấy rằng: từ ngàn năm xưa từ ngày lập quốc, tổ tiên ta đã đặt một nền tảng rất vững từ căn bản gia đình, làng thôn cho đến cao hơn là đầu não quốc gia là Triều Đình Vua Quan. Tại gia đình: để tưởng nhớ Tổ Tiên, mọi dòng họ đều có tổ đường và người Trưởng Tộc sẽ lo việc cúng giỗ tổ tiên thay cho cả họ trong các cuộc giỗ kỵ tổ tiên của giòng họ mình. Tại Hương Xã: hội làng đều có một đình làng thờ vị thần Hoàng và xuân thu nhị kỳ - vị tiên chỉ đại diện dân làng để làm chủ tế trong các buổi lễ Thần Hoàng cầu mong thần linh phù hộ cho dân làng được an lạc và mưa thuận gió hoà - mùa màng thịnh đạt. Và tại Triều Cương: Nhà Vua sẽ đại diện cho toàn thể dân tộc - chủ tế lễ Nam Giao tạ ơn Trời Đất - mong cho đất nước an bình và dân cư an lạc. Đó thật quả là một mỹ tục, và đặc trưng của một nền Văn Hóa Á Đông của chúng ta trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và bảo vệ quê hương của cha ông chúng ta.
..................
Phần Phụ Thêm:
Dưới đây là một bài văn tế Nam Giao của Cựu Hoàng Bảo Đại đọc trong một buổi tế Nam Giao :
"Tấu lạy Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế,
Hạ thần truyền nhân của liệt vị Hoàng Đế nước Đại Nam Quốc, nhân dịp đầu xuân, kính dâng Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và Đức Chúa tể cõi trần, lòng tôn thờ bất diệt.
Nhân dịp xuân về, giang sơn tô thắm, cây cỏ tốt tươi, người vật tràn trề nhựa sống, hạ thần thay mặt toàn thể thần dân, cùng các triều thần, hạ thần xin kính dâng lên Đức Chúa tể muôn loài của cõi Trời và cõi Đất, lễ vật tam sinh, ngọc ngà, tơ lụa, gạo rượu, hương hoa phẩm vật.
Theo lệ ba năm một lần, Lễ Nam Giao năm nay, hạ thần kính cẩn xin Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng như chư Thánh Tiền Triều Hoàng Đế. Đức vua khai sáng vĩ đại, đã đặt ra nền móng của triều đại. Sáng suốt và thấu đáo, công bình và đầy kinh nghiệm. Nhờ đức tính của ngài, đã giúp cho đàn hậu duệ nhiều sự phù trợ và che chở. Đệ nhị tiên Hoàng Đế, đã củng cố quyền uy do Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế uỷ nhiệm. Đã mở rộng sơn hà, luật pháp và văn hóa phát triển trung chính, đầy nhân ái và hiếu thuận. Đệ tam tiên Hoàng Đế, nhiều nhân ái và hiếu thuận. Đã tiếp tục công nghiệp của Tiên Đế Phụ Hoàng. Trong sạch, văn chương siêu quần. Thần cơ diện toán. Đệ tứ tiên Hoàng Đế, khuôn mẫu, hoàn toàn hiếu thuận, trung trinh, tinh vi đại đức. Đệ ngũ tiên Hoàng Đế, sáng suốt vô địch, củng cố ngai vàng, kiên nhẫn, sáng suốt vô tận về chính trị, văn chương trác tuyệt. Cung thỉnh Hoàng triều liệt thánh về ân hưởng phẩm vật, do kẻ truyền nhân hiếu tử kính đệ lên bàn thờ để kính dâng."
(Bút Nghiên)
"Đường xa mỏng mộng vô thường
Trái tim chợt tỉnh, tôi nhường nhịn tôi"
TCS-1992