Đọc Tác Phẩm Nguyễn Nam An
Vào khoảng năm 1997 tôi tình cờ nghe trên làn sóng phát thanh Tiếng Nói Hoa Kỳ, VOA, một truyện ngắn rất cảm động về một gia đình tị nạn Việt Nam, một mảnh đời tị nạn long đong điển hình khi trôi giạt vào xứ sở văn minh Mỹ Quốc nàỵ Người đọc truyện "Chờ" là chị Thái Hà, tức nhà văn Bùi Bích Hà. Người viết không ai khác hơn là thi sĩ Nguyễn Nam An cũng là nhà văn An Phú Vang (APV), một bút danh khác của ông.
Nói đến APV thì phải nói đến hai lảnh vực thơ và văn. Ông làm thơ lúc còn đi học lại ở Mỹ. Thời gian đó cộng đồng Việt Nam có tờ Việt Nam Hải Ngoại ở San Diego, tạp chí Nhân Văn ở San Jose, Việt Chiến ở Virginia... Thơ Nguyễn Nam An xuất hiện thường xuyên ở Nhân Văn, từ những số đầu cho đến khi tờ tạp chí này đình bản. Khoảng thời gian sau ông viết lạị Bắt đầu là những bài thơ và truyện ngắn "Động Đất, Ví Dụ Một" ký tên An Phú Vang đăng ở Hợp Lưụ Thơ ông dùng tên Nguyễn Nam An, đăng ở Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Tạp Chí Phố Văn... Ông sáng tác cả hai thể loại với ngòi bút rất chuẩn và độc đáọ Một số thơ của ông được phổ nhạc, điển hình là bài "Tiểu Cô Nương". nhạc Lê Đức Long trong băng Asia Video 14, Yêu - Tiểu Cô Nương, CD nhạc, hay "Santa Ana, Bài Gởi Lại" do nhạc sĩ Trần Duy Đức viết, Trần Thái Hòa hát trong chương trình nhạc thính phòng gần đây, mà tôi rất thích:
"Santa Ana, bài gởi lại
Chân ai qua, bước tình dài
Mùa xuân hồng bàn tay vươn hái
Khi trở về tôi nhớ gì ai
...
Hoài giàn dây leo nương tình khôn lớn
Hoài con sông già khô nước buồn đêm
Hoài nụ hoa kèn bên thềm nở chớm
Và hoài tình em trăng ngọt bên thềm
Santa Ana, gởi lại gì riêng
Con đường nhỏ buồn phiền vàng ánh điện
Hay một chỗ ngồi sau khung cửa kiếng
Em pha cho chàng một tách cà phê..."
Tôi được đọc hai tác phẩm mới của ông. Thi tập đầu có tên TiCi, Tân Thư xuất bản. Lối đặt tên lạ dính liền nhau làm người ta khó đoán. Có hỏi ông chỉ cườị (Hình như Thương Ai [i] Chờ [i], người viết đoán vậy!). Sau hai năm tác phẩm trình làng, ông cho phổ biến hạn chế CD đọc thơ TiCị Người chọn đọc và hoàn tất CD thơ này là người đọc thơ rất có hồn: Thúy Chị Hình như cô ta "bắt mạch" được những gì APV viết trong những bài thơ tình chiếm hầu hết trang giấy của thi tập TiCị
TiCi dày 160 trang, khổ nhỏ 8.5"X5.5", bìa full color lộng lẫỵ Sách gồm trên 100 bài thơ. giá ủng hộ $12.00.
Thi phẩm này phản ảnh cuộc sống của tác giả tại đất nước thứ hai Mỹ Quốc và tình yêu thơ mộng mà tác giả đã giao động con tim. APV kể về những thổn thức, những lãng mạn trong tình yêu như bài "Gần Xa Em Vẫn Trong Tôi":
"Anh còn mùi hương vương vương trên áo
Còn lời chào không muốn về, em nói nhỏ nhớ anh
Còn đêm không ngủ được bên này
Em cũng vậy bên kia thuở trời đày hai đứa..."
Hay bài "Khi Nhớ Về TiCi":
"Anh đã chết thêm lần mà mắt mở
Trong lòng xe thuở cắt cớ chạy theo
Em nhăn nhó, em thương mà khó chịu
Anh thề trở luị Không được. lối một chiều!"
Thi ca về tình yêu APV còn rất nhiềụ Anh nói về tình yêu trong cơn mưa như bài "Chiều Mưa", rồi "Đêm Trăng", "Trăng Của Riêng tôi", rồi tình yêu thuở đi học, công viên hẹn hò... Còn quá nhiều để ghi ra hết đâỵ Tôi muốn đi sang thi tập thứ hai, tức thi phẩm Biển Thuở Chờ-Ai (BTCA). Không ai hiểu tại sao anh cố ý để dấu nối (-) giữa hai chữ cuối của tên tập thơ!
BTCA dày độ 160 trang, có gần 120 bài thơ, khổ tương tự như thi phẩm TiCị giá ủng hộ $12.00.
Trong thi phẩm này, APV viết nhiều về hơn hai năm theo chinh chiến, thời gian đi học lại ở Mỹ, và theo áo cơm bôn ba đường dàị Vì công việc, ông sống nhiều ở Á Châu (Tân Gia Ba, Mã Lai Á), lang thang ở Nam Dương, dừng chân ở Nhật. Những chuyến công tác xa ở Anh Quốc, xong công việc giang hồ qua Paris cũng được ông ghi lại với hồn mình. "Thơ Gởi Ngược Đường Bay" là một điển hình. Đúng:
"Đi như sóng, cứ đi hoài..."
BTCA đem đến người đọc bàng bạc những bài thơ trãi dài từ Túy Loan, Nam Ô Quảng Nam đến Xuân Lộc rồi Phước Tuy:
"Đây Túy Loan chốt cheo leo đầu núi
Nước lòng khe tí tách chảy nuôi quân
Bao gạo sấy ăn lót lòng nửa buổi
Lại nhắc nhớ về phố cũ bâng khuâng..." (Khi Ở Quảng Nam Tháng 3, 75)
"Có bao giờ em nghĩ
Xuân Lộc không lộc xuân
Có bao giờ chiến trận
Xóm đạo chuông vang lừng
...
Có bao giờ đôi lần
Ngồi ăn cơm nón sắt
Nghe chuông hồi xa xăm
Đâu trời và đâu đất
Chúa Phật bạn ân tình
Em, giữa lòng chiến trận
Vẫn lời nguyện câu kinh
Xin cho mai còn sống
Những bè bạn bạn bè
Vào vùng và đang tấp
Quê hương giờ tháng tư..." (Xuân Lộc Không Lộc Xuân)
"Về đây rồi lại bỏ đây
Bồ câu trên tháp phố bày thịt da" (Phước tuy 4, 75)
Đà Nẵng là quê hương ông. APV có những hoài niệm với tuổi thơ về nơi ông chào đời và lớn lên:
"Đà Nẵng của tôi thì ở rất xa
Như thơ ấu khắc ghi trong thành phố
Như hàng kiền kiền xanh cây cao bóng đổ
Cúi xuống vỗ về tuổi nhỏ, đơn côi
Đà Nẵng của tôi ngày mới lớn xa xôi
Biển, nắng, gió, tóc bay nghiêng vầng trán
Những chân đá, bãi cát vàng, bè bạn
Đêm tối nhìn trời mở rộng ngàn sao
Tuổi nhỏ đi về sớm tối xôn xao
Con nước lớn mộng tràn đôi tay bé
Khi chân bước vào hồn nghe rất khẽ
Là thơ tôi ngây dại viết rồi quăng
..."
APV kể nhiều về những kỷ niệm của quê hương nghèo khổ, nơi người dân sống giữa hai lằn đạn, chịu đựng sự thiệt thòi trong cuộc chiến:
"Rẫy nghèo dân ở ven sông
Phía trên vùng xôi đậu
...
Đứa bé cắp rỗ chiều rẫy mong manh
Đổi ngọn rau xanh vài bao gạo sấy
Ruộng đất mẹ gầy niềm vui lòng tay
...
Nam Ô à ơi bên này dựa núi
Bên kia dựa rừng, em nhỏ dựa aỉ"
Những ngày cuối tháng 4, 75 tham dự trận đánh Phước Tuy rồi trấn thủ bên này cầu Cỏ May, ông nói với chính ông, nói cho bè bạn khi nhìn hy vọng 'bốc hơi":
"Thôi giờ chào nhé Phước tuy
Hẹn ngày trở lại mong gì mai sau
Đường xa đất đỏ một màu
Ngã ba Chợ mới cúi đầu đạn bay..."
Ông viết tiếp về đoạn đường "Vài Ba Tháng Chân Đi", những biến chuyển dồn dập từ sự kiện đất nước mất dần. Những giòng thơ thật buồn:
"Cưu mang tôi hỡi quê nhà
Về đâu cũng thấy lệ nhòa Việt Nam
Tháng tư món nợ da vàng
Dân tôi trả nốt bàng hoàng xuôi nam."
APV còn viết rất nhiều về quê hương, về nỗi khổ đau của "món nơ da vàng" đè nặng trên quê hương. Từng dòng chữ là từng nhịp đập con tim của tác giả khi nhớ về bạn bè còn lại, bạn bè đã chết, về mẹ ở quê nhà với đàn em, về "Cha tử trận không về bỏ con mẹ bơ vơ. Con lớn lên chỉ còn nhớ chiếc xe Dodge nhà binh chạy gập ghềnh trên đường thành phố. Màu cờ vàng phủ quan tài-màu tang trắng mẹ, chúng con mang..." Nỗi khoắc khoải của anh đã cho thấy nhiều sự kiện lịch sử đã diễn ra trên quê hương, trên đường di tản, và cuộc sống tầm gửi quê ngườị
Tóm lại, những điều tôi đọc, rồi miên man đọc, tôi thấy thơ APV đã gắn liền với dòng sinh mệnh dân tộc. Tôi tìm thấy những dấu yêu với người tình của ông, những hạnh phúc cá nhân của tuổi mới lớn, rồi cao hơn nữa là tình thương đối với quê hương đất nước. Những tình tự dân tộc, quê hương, tình bạn, tình chiến hữu, tình yêu trong thi ca của ông đã đưa tên tuổi APV gần gũi với người đọc hay yêu thích thơ văn ông. Ông đã tạo cho mình một hướng đi riêng trong hàng hàng lớp lớp những người làm thơ từ bỏ nước. Thơ ông "hiền khô", dễ hiểu nhưng chứa đựng bầu trời, không gian và nhất là những ý nghĩ riêng rất Việt Nam.
Trần Việt Hải, Los Angeles
Về hai tác phẩm TiCi và Biển Thuở Chờ-Ai, đọc giả có thể liên lạc về nhà sách:
Quyên's Bookstore/Email: daltonbros4@yahoo.com
Si j'étais un nuage
Je volerais à sa recherche
Si j'étais la lune
J'éclairerais le sentier
Si je pouvais me fondre en pluie
Je l'escorterais sur le chemin du retour