Đại cương về các thể thơ thường gặp (3) / Thơ Lục Bát


THƠ LỤC BÁT

(Xin bổ túc thêm bài của Hàn Sĩ Nguyên)


Lục Bát là 1 trong 2 thể loại thơ chính tông của Việt Nam. Thơ Lục Bát khác hơn Ngũ Ngôn hoặc Thất Ngôn của Hán văn ở chổ Ngũ Ngôn và Thất Ngôn chỉ có CƯỚC VẬN (vần ở cuối câu), còn Lục Bát có cả CƯỚC VẬN & YÊU VẬN (Vần Yêu còn gọi là vần LƯNG).


Thơ Lục Bát đã thấm nhuần vào tâm hồn người Việt chúng ta vì đó là thể thơ trong ca dao, đồng dao và các bài ru con. Thơ LB rất giản dị về quy luật, dễ làm nhưng hay hay không thì hoàn toàn tùy thuộc vào người viết, dùng lời hay đễ diễn dạt ý đẹp trong cung điệu êm đềm.


Thơ LB theo như tên gọi gồm các cặp hai câu có sáu chữ và tám chữ, số câu trong bài không giới hạn. Thông thường thì bắt đầu bằng câu sáu chữ và chấm dứt ở câu tám. Nhưng cũng có khi kết thúc bằng câu sáu để đạt tính cách lơ lửng, hiểu ngầm, hay hầu đạt tính cách đột ngột.


--------------

1. LỤC BÁT THÔNG THƯỜNG


x B x T x B(v)

x B x T x B(v) x B(v)


B= bằng, T = trắc, x = sao cũng được


Luật bằng trắc

--------------------------


a. Chữ cuối của câu nào cũng là vần Bằng.

b. Chữ thứ 6 của câu 6 vần với chữ thứ 6 của câu 8 tiếp theo

c. Chữ thứ 8 của câu 8 vần với chữ thứ 6 của câu 6 tiếp theo

d. Chữ thứ 6 và thứ 8 của câu tám nên thay đổi, hễ chữ này không dấu thì chữ kia có dấu hyền hay ngược lạị


(Thí dụ của Nhất Lang)

ĐÚNG:
Đêm nay trăng tỏ sao MỜ,

Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em QUA

hay

Đò ngang vĩ tuyến còn MƠ em VỀ.


SAI:

Đêm nay trăng tỏ sao MỜ,

Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em VỀ.

hay

Đò ngang vĩ tuyến còn MƠ em QUA



Luật "Nhất Tam Ngũ bất luận, Nhị Tứ Lục phân minh " cũng áp dụng với thơ này, tức là các chữ lẻ bằng hay trắc gì cũng được trong khi chữ chẵn phải đúng luật.


Thơ Thí dụ


Khi buồn tôi nghĩ chuyện vui

khi vui tôi nghĩ vừa thôi kẻo buồn

đợi người ấy biết yêu đương

đời tôi cũng đã nửa đường đắng caỵ


TVB



__________________________________________


VIỄN KHÁCH


nửa khuya chợt thức trăng về

nhìn ra sông núi bốn bề quạnh hiu

dòng đời mỏi bước cô liêu

gối đêm trung thổ, đợi chiều thảo nguyên

nghẹn ngào giọt lệ đỗ quyên

nỗi đau cố xứ nặng triền sóng xô

sương gieo ngàn sợi mơ hồ

thời gian rụng cánh lá khô lạnh lùng.





Mạc Phương Đình

3-03-03




Ngoại lệ: Nhiều khi chữ thứ hai có vần trắc thay vì vần bằng nếu câu sáu có nhịp 3,3 hay câu tám có nhịp 4,4 (Ca dao)


"Mai CỐT cách, tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười

......

Đau ĐỚN thay phận đàn bà

.....

Nguyễn Du

"


"Cá không ăn muối cá ươn

Con CÃI cha mẹ, trăm đường con hư" (Ca dao)


"Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa MẸ như nước trong nguồn chảy ra" (Ca dao)


2. LỤC BÁT BIẾN THỂ


x B x T x B(v)

x x x B(v) x T x B(v)



Chú ý: Chữ thứ 6 của câu 6 vần với chữ thứ 4 của câu 8 tiếp theo



Thường thì thể này chỉ có cho ca dao ngắn 2 hoặc 4 câu là nhiều vì không trôi chảỵ


"Cưới vợ thì cưới liền TAY

Chớ để lâu NGÀY, lắm kẻ dèm pha"


"Con thơ tay ẳm tay BỒNG

Tay dắt mẹ CHỒNG, đầu đội thúng bông"

(Ca dao)



3. LỤC BÁT ĐOẠN CÚ


Trong biến thể này các câu 6,8 được cắt thành từng phần tùy theo ý tưởng, hay ngắt ở các chữ lẻ (3 hay 5). Thể này tương đối mới và chỉ thấy nhiều từ thập niên 60's.



THÍ DỤ LỤC BÁT ĐOẠN CÚ



Ngọt ngào trên mắt môi hồng


Ngồi đây

trong lặng lẽ này

Nhẹ nhàng một chiếc lá bay qua thềm

Tơ trùng lắng giọt sương đêm

Hồi chuông xứ đạo

vọng lên cung trầm

Ngân nga rồi nhỏ,

nhỏ dần

Trong đêm tịch mịch thấy gần anh hơn

Ngẩng đầu

đón nhận nụ hôn

Ngọt mềm trên mắt môi hồng,

anh cho ...

(Pham Doanh)


--------------------------------------


Ru em theo tiếng dương cầm Chopin


Ngủ đi!

Em!

Giấc ngoan hiền

Tiếng à ơi

vọng lên miền

trung du

Xoay tròn,

từng chiếc,

lá thu

Bay theo những áng mây mù

quanh ta

Mang sầu thương đến trời xa

Tóc thơm,

xoã gối lụa là,

là đây

Em ơi, ngủ nhé,

ngủ say!

Có anh bên cạnh

những ngày cuối năm

Anh nằm xuống,

mắt ngang tầm

Ru em theo tiếng

dương cầm

Chopin.

(Pham Doanh)


_________________________________________________


Hoàng Hôn Biển Vắng


Quả cầu lửa,

Bỏng chân trời,

Bạc đầu hoa sóng ngàn khơi vỗ bờ.

Rì rào gió mặn vu vơ,

Dã tràng se cát xây nhà uyên ương.

Biển,

Mênh mông đến muôn trùng,

Dấu chân trên cát,

Ngập ngừng,

Lẻ loi .

Xõa tung tóc rối bờ vai,

Hải âu hòa giọng u hoài,

Cô liêu .

Hồn chơi vơi với thủy triều,

Hóa thân bọt biển dập dìu,

Lênh đênh.

Tan vào con sóng đầu ghềnh,

Nghe hiu quạnh,

Vút lên không,

Vỡ òa .


04/2001


NTT


___________________________________________


ƠN EM ƠN TRỜI



Đường xa

Đôi bánh lăn lăn

Chiếc sên thẳng cứng

Dùng dằng nghiến răng


Mưa reo

Nước chảy

Phăng phăng

Anh gò lưng đạp

Em đằng sau ôm


Che chung

Một tấm nhựa còm

Tình chung

Hai quả

Tim ... nhom nhóm lò


Ơn trời

Gió lớn sấm to


Ơn em

Chịu khó ngồi cho anh đèo




Chu Hà


__________________________________________


Nếp Gấp Thời Gian



Tàn xuân

Hoa rụng bên tường

Thoảng

Trong cơn gió

Còn

Vương hương nồng

Tiếng tiêu

Vọng

Giữa thinh không

Âm ba lạc

Tận

Mênh mông cõi sầu

Giòng đời

Cuốn vội về đâu ?

Đường hoa xưa

Đã phai mầu thời gian

Ngã nào

Rẽ lối ly tan ?

Nẻo nào

Đưa đến

Địa đàng an nhiên ?

U hoài

Trong

Nỗi niềm riêng

Hằn sâu

Nếp gấp

Ưu phiền qui tâm

Gọi tên

Những sớm phù trầm

Tóc rơi

Từng sợi

Lặng câm phận buồn.



ngamngui

Mar 4, 2003




---------------------------------------------


Các điều nên tránh trong thơ nói chung và Lục Bát nói riêng


- Tránh trùng ngữ: 1 chữ làm vần (khởi vận= vần mở và tùng vận=vần theo) tuyệt đối không được dùng hai lần trong 1 đoạn 4 câu và nên tránh dùng lại ít nhất trong vòng 10 câu, nếu cứ dùng vần cũ tiếp theo kế hoặc vài câu kế đó thì nhạc điệu của bài thơ sẽ bị nhàm chán.


Thí dụ bài thơ không đạt:


"Hôm nay tôi thấy tôi buồn

Tại tôi hay tại cảnh buồn với tôi

Từ em chối bỏ tình tôi

Chỉ còn tôi với mình tôi nỗi buồn"


Bốn câu này dù đúng quy luật bằng trắc và có âm điệu êm tai nhưng dùng chữ "tôi" và "buồn" mỗi chữ 3 lần làm vần nên không phải là thơ hay được, đó là chưa nói đến tổng cộng 7 chữ "tôi". Dĩ nhiên không bắt buộc phải tránh điệp ngữ 1 cách tuyệt đối, có khi điệp ngữ được dùng cố ý để tạo sắc thái của đoạn thơ nhưng càng bớt được càng tốt.


- Tránh trùng vận: 1 vần nên tránh dùng lại (khởi vận) dù khác chữ ít nhất trong vòng 4 câu (trong vòng 10 thì tốt hơn) , bad example (vần "an" và "ay" bị dùng

lại):


BAD EXAMPLE:

"Nước non trùng điệp mây ngàn

Người ôm một nỗi điêu tàn trong tay

Mênh mông kỷ niệm về đây

Ngày xưa hoa bướm ngày nay muộn màng

Người về quên chuyện thế gian

Còn chăng là giấc mơ vàng đắm say

etc."


hay là


BAD EXAMPLE:

"Nước non trùng điệp mây ngàn

Người ôm một nỗi điêu tàn trong tay

Mênh mông kỷ niệm về đây

Chỉ mơ ước được ngày nay xum vầy

Dù tình xa tít chân mây

Hỏi người có hiểu tình này gió bay

etc."


Vần "ay" ("ây") dùng liên tiếp 3 lần: "tay", "vầy" và "bay", các chữ "đây", "nay" "mây" và "nay" thì không phạm luật vì phải đi theo (tùng vận) các chữ mở vần (khởi vận")


Tóm lại để tránh một vần được hay bị dùng lại thì chữ thứ 8 không được cùng vần với chữ thứ 6 của cùng câu


"Dừng chân trong nỗi hoang mang

Xuống con thuyền nhỏ về ngang thôn LÀNG"


Trong câu sau, chữ LÀNG hỏng vì bắt hai câu tiếp theo lại cùng vần "ANG" đã có .



Trong khi luật tránh trùng ngữ có tính cách tổng quát, luật tránh trùng vận, điệp vận dĩ nhiên không áp dụng cho các thể thơ chỉ có cước vận (vần ở cuối câu) như ngũ ngôn, thất ngôn etc.




Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả