Ngày Xuân Nói Về Câu Ðối Trong Nền Văn Chương Việt Nam


Trong nền văn học Việt Nam ta, ngoài các thơ, phú, văn vần, văn xuôi ra; đặc biệt các cụ ta còn hay làm những vế đối - mà ta gọi là Câu Ðối. Câu Ðối là một loại văn đặc biệt chỉ có hai vế. Vế trên là vế đưa ra giống như một cái đề. Còn vế sau phải dùng chữ hoặc ý để đối lại sao cho chỉnh cả ý và cả từ. Ðến nay, ta nhận thấy rằng câu đối là một lối chơi chữ rất tài tình của các nhà Nho Ðông Phương; mà các nhà văn Âu Mỹ phải chịu thua là không có cái thú chơi chữ như vậy.

Nhân dịp đầu xuân, người viết đây xin lượm lặt một ít câu đối của các cụ ngày xưa để làm món quà chúc xuân cho các bạn trẻ ngày nay cũng như qúy vị cao niên và toàn thể quý vị đọc giả xa gần. Hãy tạm coi là một món quà đầu năm của những người Việt xa xứ trong dịp xuân về để chúng ta - kẻ tha hương - cùng ôn cố tri tân.

1) Ông Nghè Tân: tức ông Nghè Thượng Cốc, tên thật là Nguyễn Qúy Tân, hiệu Ðỉnh Trai còn tự gọi là Tuý Tiên biệt hiệu là Tản Tiên Ðình Cư Sĩ - một danh sĩ đời nhà Nguyễn được nổi tiếng về giọng văn thơ trào phúng vào thế kỷ 19. Ông người làng Thượng Cốc, huyện Gia Lộc, Tỉnh Hải Dương, sinh năm 1811 và mất năm 1858. Ông hay giả dạng học trò nghèo để thử các quan vì Vua Thiệu Trị cho ông đi làm Thanh Tra các tỉnh phía Bắc Việt Nam.

Một hôm, nhân gần cuối năm, ông giả dạng học trò nghèo đến viếng một quan Tổng Ðốc nọ để xin ăn và xin tiền. Quan Tổng Ðốc tưởng là học trò nghèo thật, nhân nhà còn thừa cỗ thịt; ông gọi lính cho ông Nghè Tân ăn uống tử tế, rồi bảo cho câu đối, nếu đối được mới cho tiền:

- Doanh quan lớn gọi là dinh, võng lọng, hèo hoa ngù giáo đỏ, quân kiệu sắp hàng đôi.

(Câu đối này khó ở chữ "Doanh" cũng nghĩa là "Dinh" - và nói lên được các đồ đạc nghi thức của một ông quan - và lại là một vế đối nôm.)

Ông Nghè Tân ăn uống no nê rồi giả bộ nửa tỉnh nửa say, gật gù đối lại rằng:

- Tiết ba mươi gọi là Tết, chè lam, bánh chưng nhân đậu xanh, dưa hành đánh miếng một.

Vế đối thật là chỉnh và hay ghê phải không quý vị? Hợp với dịp Tết mà lại lấy món ăn để chỉnh lại các đồ đạc của nhà quan nữa cơ đấy!

2) Tam Nguyên Yên Ðỗ: Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, hiệu Quế Sơn làng Yên Ðỗ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông tên thật là Nguyễn Văn Thắng. Năm 1864, ông đỗ giải Nguyên kỳ thi Hương, nhưng năm sau kỳ thi hội, ông bị hỏng (trượt), nên đổi tên là Nguyễn Khuyến. Năm Tự Ðức thứ 24 (1871), ông đậu thi Hội và thi Ðình. Vì có đủ "tam nguyên" nên người ta thường gọi là Tam Nguyên Yên Ðỗ. Như chúng ta biết: ông là một bậc thâm nho, ông đã viết rất nhiều văn thơ bằng chữ Nôm đủ các loại như: thơ, hát nói, văn tế, câu đối.

Câu đối "Ðám Công Danh - Nhờ Phúc Ấm", ông đã vận dụng hai câu tục ngữ Việt Nam đối với nhau là: "Có chí thì nên" và "Sống lâu nên lão" - Hai câu đều có ý đạt tới mục đích. Nào cùng đọc xem thử nghen:

- Ðám công danh, có chí thì nên, ơn làng giấy trắng, ơn vua giấy vàng, chiếu tung đình ngất ngưởng ngồi trên, ngôi tiên chỉ đó là rất đáng.

- Nhờ phúc ấm, sống lâu nên lão, anh cả bàn năm, anh hai bàn sáu, đàn tiểu tử xênh xang múa trước, tranh tam đa ai khéo vẽ cho nên.

Về đôi câu đối làm cho người vợ khóc chồng lúc "sinh thời" làm nghề thợ nhuộm, cái hay của nó là cụ Tam Nguyên đã vận dụng được các màu sắc để chỉ nghề nghiệp của người chồng. Xin cùng đọc xem sao nhé:

- Thiếp kể từ lá "thắm" xe duyên, khi vận "tía", lúc cơn "đen", "điều" dại, "điều" khôn nhờ bố "đỏ".

- Chàng ở suối "vàng" có biết, vợ má "hồng", con răng "trắng", "tím" gan, "tím" ruột với trời "xanh".

("thắm", "tía", "đen", "điều", "đỏ", "vàng", "hồng", "trắng", "tím", "xanh" đều là tên của những màu sắc cả.)

Có bản ghi là "Chàng ở suối vàng nghĩ lại" ở vế dưới, nhưng thiết tưởng không có nghĩa bằng "chàng ở suối vàng có biết" nên mong quý vị cao nhân chỉ bảo cho nhé.

Và một vế câu đối cụ khóc con đã đỗ Phó Bảng thì thật là tiếng khóc tự tâm can và chí tình làm sao. Ta thử xem nhé:

- Nghìn năm bia đá bảng vàng, tiếc thay người ấy !

- Trăm tuổi răng long đầu bạc, khổ lắm con ơi !

(Thật là lá vàng khóc lá xanh _ "Lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời" phải không hả quý vị?)

Một câu đối của một ông thầy đồ lỡ vận, thật là một tâm sự, thấy chữ nghĩa mình một ngày một "cùn", giận thân và tủi phận:

-
Chữ nghĩa mớm dần con trẻ hết

- Râu ria đâm mãi cái già ra !

Và một câu đối tả cảnh một anh "khóa" xem bảng thấy bị hỏng (thi rớt) - Như vẽ lại cái cảnh thi cử thuở xưa:

- Nghểnh cổ cò, trông bảng không tên: Giời đất hỡi, văn chương xuống bể (bể = biển).

- Lủi đầu cuốc, về nhà gọi vợ: Mẹ ơi, tiền bạc lên giời (giời = trời).

3) Trần Tế Xương: Nói đến câu đối ngày Tết, chúng mình không thể quên được nhà thơ làng Vị Xuyên, tức Trần Tế Xương. Ông trú tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Ðịnh. Ông sinh năm 1870 và mất năm 1907. Ông thật là "văn hay chữ tốt", vậy mà lại lận đận khoa trường. Ông đã để lại cho hậu thế chúng mình trên 200 bài thơ Nôm, đủ mọi thể loại: Ðường Luật, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, phú, văn tế, hát nói, lục bát và câu đối.

Hôm nay, nhân Xuân lại về, người viết xin mạo muội ghi lượm lại ít vế đối của Thi Sĩ làng Vị Xuyên trong dịp đầu năm để quý đọc giả cùng "thưởng lãm" nghen:

Câu 1:
-
Thiên hạ xác rồi, còn đốt pháo?
- Nhân tình trắng thế, lại bôi vôi
?

Câu 2:
-
Nực cười thay: nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà Tết.
- Thôi cũng được: rượu có, nem có, bánh chưng cũng có, thừa chơi
.

Câu 3:
-
Vui xuân, xuân cả một trời, có lẽ đâu đâu, đâu cũng vậy.
- Người học, học cho hết sách, sách là thế thế, thế mà thôi
.

Nói về câu đối của Ðông Phương chúng mình vào các dịp Tết, hội hè, đình đám, cưới xin, mừng thọ, mừng tân gia, mở hàng quán, v..v.. thậm chí cả những việc buồn trong gia đình như tang chế.

Các cụ ngày xưa đã vận dụng một cách tài tình biết là bao về cái lối chơi chữ này nhỉ. Ðây cũng là một đặc điểm của nền Văn Hóa Ðông Phương mà Tây Phương không có. Phải chăng đây chính là một niềm tự hào của người Ðông Phương nói chung và Văn Hoá Việt Nam chúng mình nói riêng?

Nếu nói về câu đối của cổ nhân thì thật còn rất nhiều và rất nhiều; chừng phải mất cả một cuốn sách dày thì mới đủ kia. Nhưng ở đây, người viết chỉ xin lượm lặt ít câu đối của tiền nhân để gọi là món quà vui đầu xuân góp phần nhỏ trong các chuyện vui đầu năm mới.

Ðể kết thúc bài này, người viết xin lấy đôi câu đối của Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ để cùng cầu chúc các bạn trẻ, quý đọc giả trong dịp xuân con cọp này vậy nha, mong quý vị thông cảm cho:

-
Tối ba mươi, co cẳng đạp thằng bần ra cửa
- Sáng mồng một, mở cửa bồng ông Phúc vào nhà
.

Rất mong thay! 

Bút Nghiên
 

Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả