"Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine"
Chiều nắng nhạt trên bờ tường, những con chữ chảy mềm xuống góc tối đọng vào vóc sách. Les Fleurs du Mal. Những đứa con của sự thật sanh ra bị chối từ, bức tử đều quặn mình trồi lên để thở, rồi hiên ngang sống trong lòng người, mở đường cho những hơi thở phần tử yếu đuối cạn nghẹt dòng tự do.
Theo tài liệu tường thuật, tập thơ Les Fleurs du Mal của Charles Baudelaire đã bị cấm xuất bản và phải quy trả một số tiền bởi một số bài thơ bị cho là "khiêu dâm, phỉ báng đấng tối cao (blasphemy), lăng mạ xỉ nhục luân lý đạo đức, tục lệ con người". Có lẽ sách của nhà thơ này đã không về đến Việt Nam vào thời Pháp thuộc vì lẽ sự tẩy chay ở đất mẹ nhưng thế hệ đàn em của ông và không ít người cùng thời tìm hiểu đọc những gì đã bị cấm đoán, trong đó có Verlaine và Rimbaud. Hai nhà thơ nổi danh Âu Châu vào thế kỷ thứ 19 có một cuộc tình sóng gió kéo dài hai năm đã được Xuân Diệu nhắc đến trong tập Thơ Thơ của ông ta. Bài thơ
Tình Trai
Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine
Hai chàng thi sĩ choáng hơi men
Say thơ xa lạ, mê tình bạn
Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen
Những bước song song xéo dặm trường
Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương
Họ đi, tay yếu trong tay mạnh
Nghe hát ân tình giữa gió sương
Kể chi chuyện trước với ngày sau
Quên gió môi son với áo màu
Thây kệ thiên đường và địa ngục
Không hề mặc cả, họ yêu nhau....
đến với tôi vào một buổi chiều nắng vàng bên khung cửa. Khi đó tôi còn quá trẻ để hiểu rõ chính mình nhưng trong thâm tâm "À há" và biết đó là một đề tài chẳng nên, chẳng thể hỏi ai. Bẵng rồi tôi xa Xuân Diệu từ đó, lâu lâu loáng thoáng vài câu ướt át của ông cho đến khi đọc bài viết của Trần Nghi Hoàng với tựa đề "Xuân Diệu, Tô Hoài và mối Tình Trai" cũng như của Minh Nguyệt "Xuân Diệu và Huy Cận: hai nhà thơ đồng tính luyến ái?" tôi trở về thơ Xuân Diệu với những hình ảnh "EM TRAI" trong thơ ông. Tôi chẳng thể còn nhìn những người "Em" trong thơ ông là những người con gái mà là những cậu con trai ông đã yêu, được yêu và cảm nhận thơ ông hơn khi xưa.
Thời gian trôi. Dòng đời trôi tôi vòng quanh, nhúng tôi vào Fleurs du Mal. Khởi sự từ những cánh hoa bị chối bỏ tôi gặp tôi đâu đó. Khoanh tay nhìn nắng tàn dần trên bờ tường ngày qua ngày tôi chợt "nhớ Rimbaud với Verlaine". Một cuộc tình đầy khắc khoải "choáng hơi men. Say thơ xa lạ, mê tình bạn", trác táng "khinh bỏ khuôn mòn, bỏ lối quen". Họ đã có những bước chân bên nhau "những bước song song xéo dặm trường", xéo lên "Thây kệ thiên đường và địa ngục" để rồi không còn lời nói nào cho nhau, để rồi một người im lìm với những bước chân du gió sương, một người ở lại với cuộc đời nhạt nhẽo, để rồi cả hai trả lại cho đời những sóng ngầm vạt ngược những câu hỏi chẳng thể giải tỏa.
Athur Rimbaud sinh năm 1854 tại Charleville, miền đông bắc nước Pháp. Vào năm 17 tuổi ông liên lạc với nhà thơ Paul Verlaine và được Verlaine mời đến nhà tại Paris "Come, dear great soul, you are called, you are awaited". Và cuộc tình khởi đầu nơi đây. Verlaine lớn hơn Rimbaud mười tuổi đời, tuy đã lập gia đình và sống cùng gia đình nhà vợ nhưng ông vẫn giao tình với Rimbaud. Khi Rimbaud đến ông không được gia đình Verlaine chấp nhận và đón tiếp bởi cung cách "khiếm nhã, vô lễ, bất lịch sự, ngông cuồng" nên Verlaine phải tìm cho Rimbaud một nơi trú trọ ở các nhà bạn văn thơ, nhưng rồi những người đó cũng không chịu nỗi "khuôn mặt sầu thảm, cá tánh hung hăng kèm những lời lăng mạ, xỉ nhục của Rimbaud" nên họ chán ghét và xa lánh ông. Khác với mọi người Verlaine lại hiểu và thông cảm cho Rimbaud.
Theo sự thông cảm, đồng cảm tình yêu của họ lớn với thời gian, nảy nở bên những ly rượu absinth, trong những quán cafe dưới những hàng cây phố Paris, cạnh những dòng thơ tay trao tay. Những đồng điệu, cảm nhận cũng như sự cảm phục thơ tài nhau đã biến họ thành một, nhưng cuộc sống luôn trắc trở và lãnh đạm với tất cả cảm nhận con người nên đã tách họ ra, để họ khắc khoải tìm về lại với nhau rất nhiều lần nhưng rồi chính họ không vượt qua nổi sự yếu đuối của mình, không ngưng được vòng xoay chuyển và lề luật con người đã đặt ra. Tình yêu nam nữ ở thời đại họ sống cũng cần môn đăng hộ đối, cũng cần cân xứng với đồng tiền và địa vị đôi bên, cũng cần sự đồng tình thân phụ mẫu và giao mối chứ không thể tự quyết định được. Đó chỉ mới nói đến giao tình nam nữ danh chính ngôn thuận chứ chưa nói đến những giao tình khác cũng là nam nữ nhưng chênh lệch địa vị chủ tớ, màu da vv mà đây lại là một "thứ vô cùng trái tai gai mắt, ghê tởm" đi ngược cả triết lý sống con người, "không thể là tình yêu" mà là sự "khiêu dâm, phỉ báng đấng tối cao" một sự ra mặt "lăng mạ xỉ nhục luân lý đạo đức, tục lệ con người" thì chẳng ai có thể chấp nhận được. Với một loạt án hình như thế thì dù có bản lỉnh đến đâu cũng bị chao đảo cho đến khi không còn cách nào ngoài ngoan ngoãn nhận tội và tránh xa đối tượng, dẹp bỏ ý tưởng "tình yêu là sự thật, là lý lẽ quyết thắng tất cả". Và hơn hết sự tồn tại của mỗi một con người luôn cần có sự giao tiếp, không nhiều thì ít nhưng phải có vì nó là sự chứng minh sự hiện hữu trong đời sống con người. Không có, con người sẽ dần dần tan biến và sẽ không còn biết chính mình là ai. Trong tận thâm tâm Rimbaud và Verlaine họ hiểu điều đó. Họ biết tình yêu của họ không được chấp nhận nên họ đã rời Paris để chu du. Một đôi bạn cùng nhau du lịch thì chẳng ai biết được họ là ai, là gì của nhau và cũng chẳng thắc mắc nhưng du lịch mãi mà không có tiền thì sống làm sao cho nên họ phải dừng chân một nơi nào đó để tìm việc. Khi có công việc thì phải hội nhập và buột phải nhịn nhục vào khuôn khổ ngày thường và "sự thường" luôn kèm với chấp nhận, khôn khéo tránh những phần tử khó chịu xảy ra, sự chịu đựng cũng có chừng và chính ở London, nơi dừng chân của đôi bạn đã đem đến cho họ nhiều khó khăn cũng như sự đối diện với mình, với sự yếu đuối, bổn phận và "lý lẽ phải trái" để rồi đem đến sự chia tay.
Hai năm dài Verlaine theo tiếng gọi tình yêu gạt trách nhiệm và bổn phận làm cha làm chồng của mình, gạt chúng qua một bên "nắm tay người yêu" chu du đến tận xứ sương mù, một nơi hầu như mưa nhiều hơn nắng rồi như không thể tránh được, cuộc tình của họ bị phát hiện. Vợ Verlaine vội vàng tìm đến để kêu gọi ông trở về, ban đầu ông chấp nhận nhưng sau rồi tình yêu giữ chân ông ở lại cùng Rimbaud. Nhưng ông cũng buồn bã nhận ra sự thiếu trách nhiệm và bổn phận với vợ con mà có lẽ Rimbaud không hiểu được nên trong thâm tâm ông luôn bị giằng xé để rồi càng chìm đắm trong rượu, thuốc nhiều hơn nữa. Thêm vào tình cảnh cuộc sống tạm bợ, ảm đạm, trác táng hằng ngày của cả hai đẩy tinh thần ông xuống dốc. Giữa ông và Rimbaud càng ngày càng xảy ra nhiều cãi vã, xung đột đem đến những vết thương trong và ngoài thâm tâm hai người. Họ đã nhiều lần tách ra rồi lại tìm về với nhau, vì giữa những khắc khoải họ vẫn nhận ra tình yêu cho nhau trong trái tim họ nhưng những gì đã đổ vỡ thì không thể hàn gắn lại mà dù có cố hàn gắn vẫn không tránh được những vết nứt rẽ luôn luôn chực chờ để bứt nát đâm vào thâm tâm những "linh hồn thủy tinh".
Trong khoảng thời gian này Verlaine và Rimbaud viết khá nhiều và những gì được giữ lại cũng là những phần tử để đời. Rimbaud bắt tay vào "A Season in Hell", còn Verlaine khởi viết "Romances sans paroles" trong hai năm ở tù. Trong hai năm dài đó Rimbaud bơ vơ, quay cuồng trong sự dằn vặt, chối bỏ, chê ghét, xa lánh của mọi người và với bản tánh bất chấp ông tự tách ra cô lập chính mình để hoàn tất bản thảo cuối cùng của đời ông cũng như đốt bỏ hầu hết những gì ông đã viết rồi giao bước sang một cuộc sống hoàn toàn không còn dính líu đến thơ văn nữa. Verlaine khi rời nhà khám thì cũng không còn gì trong tay, vợ và con cũng không còn nhìn nhận. Họ lại tìm đến nhau nhưng ngã rẽ đã vạch ranh giới, đẩy hai con người yêu nhau rời xa nhau thêm, họ hoàn toàn không còn gì để nói với nhau.
Hơn 100 năm sau người người tìm về lại, lục lọi, tìm kiếm mong hiểu được những quanh quẩn hơi thở nín lặng, ẩn chìm của nhà thơ Rimbaud. Câu hỏi luôn được đặt ra trong hoạt trình tìm kiếm của số đông là tại sao Rimbaud lại bẻ bút trong khi ông ta chỉ mới bắt đầu viết? ông bắt đầu làm thơ từ khi còn rất trẻ và khi ông bước vào cuộc tình với Verlaine ở khoảng tuổi 16, 17. Sau hai năm bên nhau giữa hai người đã có nhiều cuộc xung đột dẫn đến chia tay rồi cuối cùng viên đạn đâm sâu vào cổ tay Rimbaud đã lưu Verlaine trong tù hai năm. Trong thời gian đó Rimbaud trở về Roche và hoàn tất "Une Saison en Enfer", công trình kiệt tác của ông khi ông vừa 19 tuổi. Vào tháng 2 năm 1875 ông có gặp lại Verlaine một lần tại Stuttgart, nước Đức rồi chia tay nhau thật sự. Từ đó ông xa lánh con đường văn chương, tự trau dồi ngoại ngữ, chu du khắp nơi đến tận Indonesia. Đôi ba lần quay trở về quê hương nhưng cuối cùng ông chọn sống tại Abyssinia, Ethiopia hiện nay. Đến năm 37 tuổi ông bị cưa chân khi trở về lại Pháp từ Abyssinia và sống tại nhà thân mẫu một thời gian và qua đời vì ung thư xương chân tại Marseille bên cạnh người em gái. Nguyên thời gian dài chu du khắp nơi không khi nào ông động đến cây viết ngoài những khi thư từ cho gia đình.
Ở Pháp trong những năm xa cách Verlaine đã cho xuất bản tập thơ "Les Illuminations" và những bài thơ của ông đã làm cho giới văn thơ Pháp chú ý đến "genius Rimbaud", họ đã tìm và liên lạc được với ông, nhưng ông không trả lời. Các nhà nghiên cứu, tìm hiểu về Rimbaud và số người yêu thích ông vẫn cố gắng tìm một chứng nhận mong manh, cho rằng Rimbaud chỉ ngưng nghỉ một thời gian chứ không hoàn toàn bẻ bút, hoàn toàn không còn nghĩ đến con đường thơ văn như lời một số bạn bè ông đã ghi lại. Mong manh, thật là mong manh như tôi cũng mong đâu đó chỉ là sự gián đoạn cố hữu, một quyết định của tuổi trẻ nhưng đâu đó tôi cũng ngấm ngầm cơn chống cự sự rối mù của chữ nghĩa và con người. Tất cả tình cảm, sự ẩn hiện của suy tư, suy nghiệm, cảm giác gom lại, nhét vào những chùm chữ quay cuồng định mệnh của mỗi con người yêu văn chương, sự yếu đuối, đau khổ trước sức mạnh của trừu tượng, phức tạp lôi cuốn tâm linh. Tôi như muốn ông chống lại sự yếu đuối, cho rằng ông chống lại ước mơ tận đáy tâm hồn như từ bỏ chính con người mình ở bề ngoài, tạm dùng hình thức "bỏ" và "đi" để giam cầm ước mơ chính mình, chỉ cho riêng mình, cho Verlaine và cho cả mai sau. Những bước đi trốn chạy đến những nơi khô khan, nắng cháy. Một nơi đốt hơi thở, chỉ còn cách khom người ngấm rút những còn lại ở thinh không và tình yêu đã trao đã nhận. Như trong thư Rimbaud gởi cho gia đình: "[...] the most probable is that we rather go where we don't want to, and that we rather do what we would not like to do, and that we live and die quite differently than we would not ever like it, without hope of any sort of compensation [...]"
Trong những bài tham khảo tôi đọc chẳng ai nói đến vì cuộc tình mà rồi ông bẻ bút, nhưng tôi chắc chắn họ đã giao cảm được sự liên quan quay mặt với văn chương của ông có dính líu đến. Hãy thử liên tưởng một cậu con trai rất trẻ, yêu thích văn thơ và với những cá tánh ương ngạch, chuộng đổi mới, chuộng tự do tìm đến một nhà thơ cùng thời, hiểu nhau, phục nhau vì thơ, cảm nhau rồi yêu nhau, bất chấp xã hội quanh mình. Rồi cả một vùng trời cố chấp ụp xuống tình yêu để con người yếu đuối tự xung đột chính mình và xung đột lẫn nhau. Rồi chia tay. Biết bao nhiêu điều không thể chia xẻ cho nhau, không nói với nhau được. Rồi bất chấp. Rồi bỏ luôn. Có lẽ tình yêu của cả hai không thể chống lại một xã hội đầy chướng ngại vật. Cuộc sống yêu đương hạnh phúc của cả hai chắc chỉ như những cơn mưa rào trong những ngày hè chói chang, và chẳng có một nền tảng nào để níu kéo, giữ được ngoài những con chữ. Những dằng xé trong tâm hồn của Verlaine khi thì muốn trở về với vợ khi thì không, những khắc khoải, âu lo và chống chọi chỉ có thể đồng cảm trong thơ, rượu, thuốc phiện nhưng khi tỉnh lại thì cuộc sống quá phủ phàng. Con chữ cũng chẳng giúp được gì. Sự yêu thương đi kèm sự chán ghét, đạo đức, luân lý ép sát con người làm cho cả hai mệt mỏi và không còn đủ nghị lực, không còn đủ sức đứng thẳng để chống đối tất cả. Phải nói đến cuối thế kỷ 20 ở Âu Châu đời sống con người đồng tính vẫn còn bị lên án và hiện tại vẫn còn là đề tài dài dòng đầy những uẩn ức khắp nơi. Cuộc sống con người đồng tính bị đặt vào một chỗ đứng rất thấp nói chi ở những năm 1880 bao nhiêu đó tại Âu Châu. Có lẽ cả hai là một cặp lộ diện đầu tiên đương thời, là bản phong đứng đầu, can đảm sống, dám sống không cần che đậy tình yêu của mình. Nhưng cuối cùng thất bại, phải chia tay vì sức ép, vì bản tánh khác nhau để rồi mỗi người một phương trời cách biệt nhưng hiện hữu trong ký ức "temple of Memory" trong bài thơ mà Verlaine đã gởi cho Rimbaud:
To Arthur Rimbaud
Mortal, angel and demon, as to say Rimbaud,
You deserve the first place in this book of mine,
Despite of such smart scribbler called you a beardless ribaud,
And a budding monster, and a drunken schoolboy.
The first place yet in the temple of Memory
All the spirals of incense, all the chords of lute!
And your radiant name will sing in the glory,
Because you loved me as it had to be.
The women will see you, tall young man very strong,
Very handsome of a rustic and wily beauty,
With an indolently daring attitude;
History sculptured you triumphing over death
Omnipotent Poet and victorious of life,
Your white feet put on Envy's heads.
Paul Verlaine
Với tôi, "as it had to be", tình yêu của hai người chẳng thể thất bại mà nó đang sống mạnh, vươn cao nở những nụ sáng đến tận cùng góc ngách đen tối. Trao cho hậu thế và tương lai "Những bước song song xéo dặm trường". "Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương" đang tỏa lan những hơi thở vào ngực phổi hậu thế để "Nghe hát ân tình giữa gió sương". Vâng, ân tình giữa những mù mịt phức tạp cuộc đời nhưng hiện hữu vô cùng thật.
Nắng đã tàn thay vào đó ánh nến lấp lánh nhảy đùa với con chữ. Những cánh hoa bị cấm đoán nở từ bàn tay Baudelaire lẳng lặng nhoẻn miệng cười. Dòng chảy chẳng thể ngừng. Sự thật, sự hiện hữu chẳng thể nào chối từ.
Autumn 2005
VânNghiên
Tài Liệu Đọc và Tham Khảo
Tình Trai (phổ từ thơ Xuân Diệu do nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)
Vào năm 1995 đạo diễn người Ba Lan Agnieszka Holland đã cho ra cuốn phim Total Eclipse, nói về Rimbaud và Verlaine với diễn viên chính Leonardo DiCaprio as Rimbaud và David Thewlis as Verlaine.
[01]Tình Trai, thơ Xuân Diệu
[02]Les Fleurs du Mal, nxb dtv
[03]http://en.wikipedia.org/wiki/Charles_Baudelaire
[04]http://en.wikipedia.org/wiki/Paul_Verlaine
[05]http://en.wikipedia.org/wiki/Arthur_Rimbaud
[06]http://gio-o.com/trannghihoangXuanDieu.html
[07]http://www.tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&artworkId=75
[08]http://athena.english.vt.edu/~maclaugh/illum2.htm
[09]http://www.mag4.net/Rimbaud/Biography.html
[10]http://www.q.co.za/2001/2003/01/14-pastout.html
[11]http://partners.nytimes.com/books/00/11/19/reviews/001119.19howardt.html
[12]http://www.geocities.com/Hollywood/Makeup/4825/starkey.html
[13]http://www.kirjasto.sci.fi/verlaine.htm
[14]http://www.geocities.com/hojotoho/personaggi/arthur.html
[15]http://partners.nytimes.com/books/00/11/19/reviews/001119.19howardt.html
[16]http://www.angelfire.com/ny/gaybooks/rimbaud.html#season
[17]http://www.rimbaud.150m.com/jnar.html
[18]http://www.mag4.net/Verlaine/Biographie.html
[19]http://www.geocities.com/tuthienvovi/xuandieu.html
[20]http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=2709
[21]http://ttvnonline.net/vanhoc/132809/trang-15.ttvn

