Phan Rang Quê Ngoại và Tuổi Thơ của Tôi
Tiếng chuông điện thoại reo vang,
- hello!
- Cô có phải là dân Phan Rang không ?
- Dạ phải, Má tôi là dân Vạn Phước, Bưủ sơn, Tháp Chàm. Tôi sanh ra tại bệnh viện tại Phan Rang, 4 tuổi lên Đàlạt. à, mà tại sao anh biết mà hỏi tôi vậy?
- Tôi là đồng hương Phan Rang với cô đây! Tôi vô website của cô và đọc được tiểu sử mới biết cô cũng xuất xứ từ Phan Rang. Như vậy, Phan Rang là quê ngoại của cô, tại sao cô không viết một bài nào nhắc nhở tới quê ngoại vậy? Tôi hy vọng kỳ tới sẽ có sự tham dự của cô trong dịp Hội Ái Hữu Đồng Hương Ninh Thuận tổ chức, đừng quên viết về quê ngoại cô nhé!
Đây là lời đối thoại giữa tôi và anh Trịnh Đáng vào một buổi tối khi tôi đang viết nốt cuối cùng của bài nhạc Mưa Quê Hương. Sau này tôi biết anh là Hội Trưởng Đồng Hương Ninh Thuận. Câu anh nói: ‘’đừng quên quê ngoại ‘’, đã làm tôi giật mình, có lẽ từ lâu tôi đã quên... quên tuổi thơ leo trèo cây trứng cá, hò hét tắm mưa, sau những cơn nắng oi ả của mùa hè. Trí nhớ của tôi đã dần phai nhạt theo năm tháng, tất cả đã lùi vào dĩ vãng, nay lại được khơi nguồn, bừng sống dậy! Quê Nội Quỳnh Côi, Thái Bình ngoài Bắc xa xôi, nơi mà tôi chưa một lần về thăm. Quê Ngoại Vạn Phước, Phan Rang, gần gũi, cưu mang những tháng ngày loạn lạc, nơi tôi sanh ra và rong chơi vào mỗi kỳ nghỉ hè của thời thơ ấu !
.......
Tôi được sanh ra đời tại bịnh viện Phan Rang. Cha tôi là người gốc miền Bắc theo đoàn quân Vệ Quốc vào Nam đánh Pháp. Năm 1954, Hiệp định Geneve ký kết, ông đã ở lại Phan Rang. Má tôi là con gái làng Vạn Phước, quận Bửu Sơn, Tháp Chàm. Trong trí nhớ non nớt của tôi lúc ấy chỉ mới hai, ba tuổi, căn nhà là cái chái bếp phía sau ngôi nhà gạch của nhà bà Cố (Bà là người giàu có ở Phan Rang), vách nhà được đắp bằng đất sét, mái lợp tranh, bên cạnh là garage sửa xe của ông Bảy Gò. Trước mặt nhà tôi là bãi rác của các xe hư được thãi ra. Tôi nhớ mỗi đêm trăng sáng, trời hè oi ả, trời trong vắt, không gợn một áng mây. Mấy Cha con tôi hay kéo nhau lên mui xe nằm ngủ. Tôi nằm gối đầu lên tay cha tôi, bên cạnh là anh trai của tôi. Tôi nhìn lên trời, chỉ vào ông trăng sáng, có một đường ánh sáng lan toả chạy vòng quanh mà hỏi Cha tôi
- Bố ơi, tại sao có cái vòng tròn quanh ông trăng vậy Bố!
Cha tôi cười, vỗ lên đầu tôi nói:
- Đó là đường của Cha chú Cuội đi cắt cỏ, rồi ông đọc mấy câu ca dao:
Chú Cuội ngồi gốc cây đa,
Để trâu ăn lúa kêu cha ới ơi!
Cha còn cắt cỏ trên trời,
Mẹ còn xay lúa cho người thổi cơm
(Và cha tôi cất giọng kể ...). Ngày xưa, chú Cuội được Cha giao cho đi chăn trâu, nhưng vì lười biếng đã để trâu đói, trâu đã chạy vào ruộng lúa, ăn hết lúa của người ta, nên chú Cuội đã bị phạt ngồi ở gốc cây đa với con trâu cột bên cạnh ở trên mặt trăng ...
Nói tới đây, Cha tôi chỉ lên mặt trăng, cho tôi thấy những chấm đen tạo - thành những hình tưởng tượng ra cây đa, chú Cuội và con trâu. Và Cha tôi nói tiếp:
- Nếu con cũng lười biếng như chú Cuội thì cũng sẽ bị phạt sống một mình giống như chú Cuội trên mặt trăng.
Trong trí tưởng tượng thơ bé của tuổi dại, tôi đều tin vào chuyện cổ tích có thật, tôi sợ bị phạt như chú Cuội, nhưng lại có tính tò mò cũng muốn bị phạt để được lên ở trên mặt trăng, để được nhìn xuống trái đất xem như thế nào? Chắc chắn phải thú vị lắm! (Đến bây giờ tôi vẫn còn muốn tin vào chuyện cổ tích chị Hằng, cây đa, chú Cuội, con trâu, là có thật, và đã kể cho các con tôi nghe những gì mà ngày xưa Cha tôi đã kể cho tôi nghe, cũng giống như các em bé Tây Âu tin vào chuyện ông già Noel mỗi năm xuất hiện phát quà cho các em bé ngoan! Những chuyện cổ tích, những ước mơ thơ dại ấy, tôi chỉ mong người lớn khôn ngoan hơn, đừng bao giờ giết chết giấc mơ đẹp của bọn trẻ con, trong đó có tôi, dù rằng tôi không còn là đứa trẻ con năm xưa, tôi vẫn tìm kiếm Chị Hằng, Chú Cuội, Cây đa, vào mỗi đêm rằm nhìn lên ông trăng sáng, tôi mãi mãi mơ và thương cho chú Cuội đang ôm gốc cây đa khóc vì nhớ thương quê nhà!)
Trời gió mát, trăng thanh, giọng kể chuyện thật là hấp dẫn của Cha tôi đã ru tôi vào giấc ngủ. Và cứ thế đêm nào trời nóng oi ả tôi đều leo lên cái nóc xe hư để được ngắm trăng, được xem chú Cuội bị phạt ngồi chăn trâu suốt đời trên mặt trăng, để tưởng tượng chú đang cưỡi con trâu, ‘dzí, hò’, chạy quanh mặt trăng. Cái thú của tuổi thơ, mơ mộng thật ngây ngô, nó đã in một dấu ấn sâu sắc trong trí tưởng, tình cảm sâu đậm, được cất dấu một nơi nào đó trong trái tim, và một hôm được khơi nguồn sống dậy, nó tràn ra như sóng vỡ bờ. Và chỉ một đêm thôi, nó đã làm tôi nhớ lại tất cả những kỷ niệm được chắp vá, ráp nối, lúc mơ hồ, lúc rỏ rệt như chuyện mới xảy ra hôm qua! Tiếc rằng Cha tôi không còn hiện tiền để tôi có thể hỏi ông rỏ hơn những tháng ngày kỹ niệm tôi sống tại Phan Rang. Tôi chỉ nhớ khu nhà tôi ở nằm ngay đường Ngô Quyền, ngó qua đường là chùa Minh Hương. Tôi còn nhớ có một kỹ niệm với chùa Minh Hương...
Mỗi buổi trưa, tôi cùng lũ trẻ hàng xóm, đứng canh các Sư đi khất thực về chùa. Chùa Minh Hương có ba Sư (tôi không biết là Sư ông hay Ni sư, vì họ mặc áo tu quấn theo kiểu nhà sư Trung Hoa, lúc ấy tôi còn nhỏ quá, không nhớ rỏ). Họ thường xuyên đi khất thực mỗi ngày, cứ đúng ngọ thì các nhà Sư về tới chùa. Thấy ba nhà Sư ôm bình bát đi vào chùa, phía sau một lũ con nít cũng được ba, bốn đứa, lóc nhóc chạy theo. Vào trong chùa, ba nhà Sư ngồi xếp bằng trên nền gạch bông mát lạnh, ngay trước dãy hành lang phía trước chánh điện. Lũ trẻ đứa quì, đứa vòng tay ngồi chồm hổm nghe các nhà Sư đọc kinh để chờ bố thí (tôi gọi là đi ăn chực nhà chùa). Các nhà Sư mở bình bát, lấy ra tất cả những thức ăn do các thí chủ đã cúng dường đặt ra ngoài. Sau đó các Sư lấy mỗi thứ một ít, lúc ấy tôi cũng không thắc mắc tại sao các Sư làm như vậy, sau này tôi mới biết ra, Sư làm như vậy xem như chia cho đều tâm cúng dường của mỗi thí chủ, trái chuối được chia làm ba phần, các nhà Sư cho vào bình bát một phần, phần còn lại, tôi và lũ trẻ đang ngồi chực được hưởng. Mỗi lần niệm một đoạn kinh thì các Sư đưa muỗng múc thức ăn từ bình bát ra, rồi đưa từ bên trái sang bên phải trên miệng bình bát, làm rất đều tay, niệm xong rồi mới cùng đưa lên miệng ăn. Trong khi lũ trẻ còn la chí choé để tranh phần ăn. Bà Sáu, người làm công quả ở chùa, đã xách roi quất đuổi lũ trẻ quỉ quái đã phá phách sự yên tịnh của các nhà Sư. Nhưng các Sư đã cản ngăn không cho xua đuổi bọn trẻ chúng tôi, kêu bọn trẻ quì xuống và đọc kinh theo Sư, sau khi đọc kinh xong ba nhà Sư đem thức ăn chia đều cho lũ trẻ. Tôi chỉ thích ăn chuối và bánh qui, nên Sư dành cho tôi phần chuối nhiều hơn, có bửa tôi được hai trái chuối, vội vàng đứng dậy cắm đầu chạy bay về nhà chia cho lũ nhóc em tôi. Con nhà nghèo niềm vui chỉ có chừng ấy, nhưng hình như những món ăn chực vẫn thấy ngon hơn là của được Má mua từ chợ về. Sau này lớn lên tôi trở thành Phật Tử, và chuyện đi ‘’ăn chực’’ ở chùa hầu như đều có tôi tham dự. Tôi cứ nhớ mãi bài hát, "gia đình Phật Tử xông pha đi kiếm xôi chè". Mỗi năm đến mùa Vu Lan, chùa có lễ cúng thí thực cô hồn, thì lũ trẻ chúng tôi là một bọn cô hồn sống tranh nhau giành giựt thức ăn được cúng đặt trong nia lớn, bọn con trai lớn hơn chúng tôi, chúng bưng cái nia lớn chạy mất tiêu, để lại lũ con nít khù khờ như tôi đứng khóc bù lu bù loa ...
Mỗi buổi chiều, Cha tôi hay dắt anh em tôi đi dạo trên con đường Ngô Quyền, ra tới bùng binh Con Cóc để hóng gió mát thổi từ hơi nước của con Cóc phun ra. Anh em tôi hay leo lên bờ hồ nước, đưa tay hứng những dòng nước phun ra từ miệng Con Cóc. Có lần vì giành nhau hứng nước, tôi bị lũ trẻ đẩy ngã vào hồ nước. May mắn Cha tôi nắm kịp cái đầu của tôi lôi lên, nếu không tôi đã bị uống nước thì cái bụng cũng phình như bụng Cóc! Từ bùng binh Con Cóc nhìn qua là rạp hát Việt Tiến. Má tôi rất mê phim Ấn Độ. Vào thời đó phim Ấn Độ được chiếu thường xuyên tại rạp Việt Tiến. Tôi nhớ năm tôi 4 tuổi, rạp chiếu phim ‘Lâu Đài Trên Thác Nước’, phim thần thoại Ấn Độ anh chàng tài tử Ai -Dang đóng (tôi không biết có viết đúng tên ông tài tử này không?). Ngày nào Má tôi cũng đem chiếu vào trãi trong rạp cho bọn nhóc chúng tôi tha hồ nằm lăn ra mà coi xi nê!
Năm đó Má tôi sanh Thoa, em gái của tôi, nó giống hệt anh chàng tài tử Ai-Dang. Từ đôi mắt to đẹp, cho đến nước da bánh mật giống như Ấn Độ. Hàng xóm nói đùa Má tôi lấy trúng ông Chà Và đầu phố.
Đường vào nhà tôi có hàng cây Gòn cao, mát rượi. Mỗi năm đến mùa Gòn nở, trái bung ra lòi bông Gòn trắng xoá với những hạt gòn đen lấm tấm. Má tôi hay nhặt những trái Gòn này đem về gở ra bỏ vào cái bọc vải để làm gối. Khi gối đầu, tôi thường mân mê những hạt Gòn nổi cồm cộm bên trong làn vải, bóp cho nó bể nát ra, có đôi lúc tôi nhe răng cắn để nghe tiếng kêu lụp bụp của hạt Gòn, và vui với trò chơi vô vị ấy! Sát cạnh hàng cây Gòn là ngôi nhà của anh hàng xóm (tôi quên mất tên rồi!?), Anh cao lớn, có lẽ phải lớn hơn tôi cả chục tuổi. Nhà anh có hai cây trứng cá thật lớn. Anh em tôi thường được anh rủ qua nhà chơi. Anh cho phép tôi trèo lên cây hái trái trứng cá tha hồ ăn thoả thích. Ăn xong còn được anh hái cho một bọc, gói vào trong áo đem về cho bọn nhóc em tôi đang ở nhà chờ quà.
Nhà ông Bảy Gò, có cái garage sửa xe, Cha Tôi là thợ hàn đồng của Garage ông Bảy. Ông Bảy có hai cô con gái, cô Mận và cô Mại, hai cô rất xinh đẹp. Với tôi, các cô gái Phan Rang rất xinh đẹp, dễ thương, vì trong thời thơ ấu cho đến sau này, tôi đều gặp các cô gái Phan Rang, da mặt láng lẩy, trắng trẻo, tính tình chân thật, chất phác, không điêu ngoa. Ngày tết, hai cô dắt tôi qua nhà lấy phong bao màu đỏ chói được treo lủng lẳng trên cành cây Mai vàng lì xì cho tôi. Đàlạt tết có Mai hồng, thì Phan Rang cũng có Mai vàng rực rở trong những ngày tết. (Sau này nghe nói Cô Mận và Mại lấy chồng cũng cực khổ, vì hai cô là con gái nhà giàu hiền lành, lại lấy trúng hai anh chồng cờ bạc, rượu chè cả ngày, hai cô phải bán hết của hồi môn mà trả nợ cho chồng).
Gia Đình tôi rời Phan Rang năm tôi lên bốn tuổi. Cha tôi xin được việc làm với hãng Nhật trong đập Đa Nhim, và ông quyết định chuyển cả nhà lên Đàlạt. Ngày rời Phan Rang, tôi còn bé quá để có thể cảm nhận được sự luyến lưu, từ giã với lũ nhỏ hàng xóm đã cùng tôi đi ‘’ăn chực ‘’cơm chùa, hay chia tay với cây trứng cá của nhà anh hàng xóm. Cô Mận, cô Mại thì buồn vì mất cô bạn nhỏ. Hai cô sẽ không còn ai để cho hai cô thắt bím tóc, hay thoa son, đánh má phấn. Hai cô rất thích trang điểm, cuốn chải tóc, mà chỉ có tôi là người mẫu để cho hai cô tha hồ thực tập!
Đàlạt nối liền với Phan Rang bằng con đường đèo cao chạy ngoằn ngoèo như trôn ốc có tên là đèo Song Pha (Krongpha) vì con đường bắt đầu từ chân đèo là Đa Nhim- Song Pha. Thấy cảnh đẹp của đường đèo nên người Pháp đã đặt tên là Belle Vue, từ đó ta dịch ra từ Việt là Ngoạn Mục. Có lẽ tôi phải đổi tên hiệu của tôi thành là Ngoạn Mục mới phải. Tôi sanh ra tại Phan Rang, lớn lên ở ĐàLạt, đèo Ngoạn Mục nối liền hai miền biển núi, như tình tôi vương vấn khi đứng trên đỉnh đèo nhìn về phía chân đèo xa xa mái nhà lớp lớp, đồng ruộng xanh xanh, mờ mờ trong sương mai, mà nhớ mấy câu thơ, tôi đã có lỗi lầm là quên tên tác giả . . .
Nhớ núi mưa giăng, nhớ đèo sương phủ,
Nơi nao qua mà không thấy nhớ thương,
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn
Đất Phan Rang đã hoá trong tâm hồn tôi từ ngày tôi rời xa nơi ấy!
Sau này mỗi năm kỳ nghĩ hè tôi được theo chị Sáu là cháu gọi Má tôi bằng cô về thăm lại Phan Rang, nhưng chỉ về tới Tháp Chàm, huyện Bửu Sơn, đi qua cầu Mống có đường rầy xe lửa chạy song song với đường xe hơi, về Vạn Phước (quê ngoại của tôi). Từ con đường đất dẫn vào làng, có hàng cây Điệp, mùa hè Điệp có trái chín rớt dọc đường đi. Tôi say mê lượm trái Điệp, trái Điệp có hình cong vòng, tôi lượm đeo vào tay như chiếc vòng ngọc. Trái Điệp chín từ màu xanh ngả qua màu tím đỏ, gở ra có từng hạt nhỏ màu trắng, cơm của hạt Điệp ăn có vị ngọt, còn lại cái hạt bên trong trắng dai nhách, cạo lớp bọc ở ngoài ăn thấy nhân nhẩn, nhạt nhẻo, nhưng tôi vẫn thích nhai nó. Tôi nhớ chỉ Phan rang mới có trái Mằn tăn, Da đá, hình như trái ăn chua chua, tôi không nhớ rỏ lắm!
Làng Vạn Phước thời đó rất giàu có vì trồng chuối và nho để đóng thùng bán cho Mỹ. Trong làng nhà nào cũng có trồng dừa. Tôi có người cậu tên Tư Ký, vườn nhà cậu Tư trồng đủ thứ, từ dừa cho tới bưởi, bòng, chuối, mãng cầu. Mỗi khi tôi về thăm làng, câu đều kêu anh Kỳ con trai lớn của cậu, trèo lên cây dừa trước sân nhà. Nhìn thấy anh trèo như một con nhái, hai tay, hai chân cặp vào thân cây dừa, anh leo thật nhanh, chặt thật mạnh, và thả xuống một buồng dừa lớn, từ trên cây anh tụt xuống thật lẹ, tôi phục lăn tài leo cây của anh quá xá! Tôi xin anh dạy cho tôi cách trèo cây hái dừa, nhưng anh không cho, nói con gái không được leo trèo cây cao, té chết! Hôm đó tôi tha hồ được anh chặt dừa cho uống nước thoả thích, lấy dao cậy những miếng cơm dừa trắng dày cui, ăn béo ngậy! Nhớ tới đây, khiến tôi nhớ hương vị thơm ngon của cùi dừa ăn với bánh tráng (hình như món cùi dừa bánh tráng là món của người Quảng du nhập vào Phan Rang thì phải), những tô nước dừa ngọt lịm, mà có lẽ tôi sẽ không bao giờ còn có cơ hội để được ngồi chồm hổm, trên tay cầm lăm le cái tô để hứng những giòng nước chảy ra từ cái lổ thủng được khoét từ trái dừa tươi. Hay ăn những miếng xoài xanh cắt mỏng chấm nước mắm đường. Nhà anh Ba tôi có cây xoài Canh Nông sai trái. Năm nào tôi về chơi đều được tay xách kệ nệ một giỏ xoài xanh đem về Đàlạt, xoài Canh Nông trái nhỏ, màu da xanh mướt như xoài tượng, nhưng chấm mắm đường ăn rất ngon. Nhắc tới đây, mà thèm chảy nước miếng các bạn ơi!
Một buổi sáng, tôi được anh Bảy đánh thức dậy sớm, anh dẫn tôi len lỏi theo con lạch đào chảy quanh vườn, anh chỉ cho tôi xem những con chuột đồng trắng phau, bé xiú, bị anh gài bẩy, bắt đem về thui với mớ rơm phơi khô trong vườn. Tôi sợ quá, không dám nhìn thấy con chuột nhỏ xinh xắn kia đang bị đem lên giàn hỏa, nên bịt mắt chạy trốn. Ngày hôm đó cả nhà dọn cơm ăn với thịt chuột đồng. Tôi nhịn không ăn, chỉ ăn cơm trắng. Cả nhà cười nói: ‘con nhỏ này chắc tu rồi’. Tôi im thin thít, rưng rưng nước mắt, ấm ức vì sợ con chuột, chứ chẳng phải vì tôi muốn đi tu như mọi người đã cười tôi!
Có một món mà tôi thèm ăn nhất là món bánh căn, mỡ hành, nước mắm nêm được bằm với miếng ớt cay cay. Mỗi buổi sáng tôi được mấy đứa cháu, chúng cũng ngang ngửa tuổi với tôi, dắt nhau ra hàng bánh căn để ăn sáng. Có lẽ không có món ăn nào thật rẻ tiền, thật bình dân mà cũng thật là ngon tuyệt cú mèo như món bánh căn của dân Phan Rang. Bây giờ nếu bạn đổi mâm bánh căn để lấy con gà thì tôi xin dơ tay đổi ngay! Có người thích ăn bánh Căn với một vài muổng trứng gà đập đổ vào bánh khi bột mới đổ vào khuôn, cái bánh sẽ phồng lên và trứng chín nổi trên mặt. Nhưng tôi chỉ thích ngồi chồm hổm trên cái đòn ngồi nhỏ, thấp, hay lấy cục gạch kê thành cái đòn để ngồi, đôi khi được ngồi ké cái đòn gánh của bác Hai bán cá, ăn bánh căn với một muỗng hành mỡ cho vào chén nước mắm, và bánh Căn đổ thật dòn, nóng, vừa ăn, vừa hít hà, vừa thổi, đủ thấy cái vị ngon của bánh Căn nhà quê rồi. Tôi kể tới đây chắc chắn các bạn Phan Rang sẽ hiểu tôi hơn, vì tôi biết trong các bạn cũng đã có người thích ăn món bánh Căn theo kiểu của tôi. Tháng Tư năm 1975, khi di tản vào Vũng Tàu, tôi được ăn bánh Căn đổ theo kiểu khác. Họ dùng cái lò đổ bánh cũng giống y cái lò đất của dân Phan Rang (tôi nhớ người Hời (Chăm)hay đội cái lò này đi bán), cũng bột gạo xay, nhưng lại cho con tôm vào bánh, rồi còn thêm muỗng nước dừa và đổi lại tên bánh Căn thành bánh Khọt. Tuy món bánh Khọt ăn có thêm tôm, thịt, nước dừa béo, nhưng tôi không thích bằng được ăn món bánh Căn Phan Rang.Tôi không hiểu tại sao người dân Phan Rang gọi là bánh Căn, dân miền Nam gọi là bánh Khọt. Tôi xin chịu, vì hỏi Má tôi, bà cũng không biết, có lẽ đây là tiếng gọi xuất phát từ gốc của người Chăm chăng?. Những tháng năm sống tại Đàlạt, tôi vẫn thường xuyên được ăn sáng với món bánh Căn. Trong xóm tôi ở, phần đông dân Phan Rang tạm trú rất đông, nên món bánh Căn cũng rất thịnh hành ở xứ lạnh này. Ăn bánh Căn ở Đàlạt có cảm giác ngon hơn ở Phan Rang, có lẽ nhờ khí hậu lạnh, ăn bánh Căn nóng, nước mắm cay cay, nên thấy ngon chi lạ!
Buổi sáng ở làng Vạn Phước, tôi thường chạy ra cánh đồng lúa, nhìn đàn cò trắng phau phau bay tận cuối chân trời. Tôi chờ chúng đáp xuống cánh đồng là cùng lũ trẻ hò hét chạy đuổi cho chúng bay lên, rồi khoái trá cười khanh khách. Nhìn xuyên qua cánh đồng Vạn Phước là làng Trường Sanh, tôi có người cậu là anh em chú bác với má tôi đang sinh sống ở làng bên đó, nhưng tôi chưa hề đến thăm làng Trường Sanh lần nào cả, nghe nói làng Trường Sanh chuyên sống bằng nghề trồng trầu cau. Tôi đã đứng hướng mắt về làng Trường Sanh nhìn xa xa thấy hàng cau cao vút xanh um.
Những ngày tháng nghỉ hè của tôi cũng vèo qua nhanh. Tôi lại trở về Đàlạt, đi từ cổng làng, qua cầu Mống, tới ga xe lửa Tháp chàm. Mỗi lần đi như thế tôi thường nhìn lên đỉnh Tháp Chàm trơ trọi giữa bóng chiều nghiêng nắng. Kiến trúc cổ mỹ thuật cho ta thấy một thời hoàng kim của người Chăm. Làm cho tôi nhớ tới câu chuyện công chúa Huyền Trân, con gái của vua Trần Nhân Tông, đã hy sinh lấy vua Chế Mân để đổi hai châu Ô, Lý (bây giờ là Quảng Trị, Quảng Bình). Người xưa đã có câu ca dao ví von ‘’Tiếc thay cây Quế giữa rừng, để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo’’ ...
Phan Rang là một thị xã nằm trong tỉnh Ninh Thuận. Một tỉnh có nguồn thu nhập rất là phong phú về hải sản như cá, mắm, còn đồng bằng thì có lúa gạo, đất không bị khô cằn sỏi đá, lụt lội nhiều như miền Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên. Dân Ninh Thuận, Bình Thuận được đất trời ưu đãi, hiếm khi bị mất mùa đói kém. Đàlạt nhờ nguồn cung cấp cá, mắm từ Phan Rang, Phan Thiết, nha Trang. Tôi nhớ có nguồn nước suối thiên nhiên Vĩnh Hảo, nước có nhiều chất khoáng, ăn khó tiêu, đầy hơi, uống nước suối Vĩnh Hảo vào sẽ khoẻ ngay. Má tôi bị đau thương hàn, ăn uống không được, nhưng nhờ uống nước suối từ nguồn nước Vĩnh Hảo ấy mà đã khỏi bịnh. Cha tôi cho biết nơi chổ lấy nước suối, cây xanh tốt tươi, cát trắng phau, cảnh thiên nhiên đẹp như thiên thai, vì cây lá bốn mùa đều tươi tốt. Tôi không nhớ chổ dòng nước suối Vĩnh Hảo thuộc vùng nào, có thuộc tỉnh Ninh Thuận không? chỉ thấy Cha tôi dùng xe đò sáng đi thì chiều đã về tới rồi!
Những ngày loạn lạc năm 1975, gia đình tôi đã chạy về quê ngoại, Vạn Phước, tránh lửa đạn chiến tranh. Ngày ấy, tôi lưu lạc ở Vũng Tàu, nghe nói máy bay thả bom tại Tháp Chàm, mà lòng đau như cắt, tôi lo lắng ăn ngủ không yên, vì nơi ấy đang có người thân yêu của tôi nương náu!
Biển Ninh Chử nước rất ấm, trước khi rời Việt Nam qua Mỹ, tôi đã về thăm lại Phan Rang lần cuối. Tôi đã bơi ngụp lặn trong giòng nước biển ấm áp ấy. Bây giờ ở đất Mỹ mỗi lần ra biển Hungtington Beach chơi, tôi đều nhớ làn nước biển thật ấm áp của Phan Rang. Nước biển ở Mỹ chịu ảnh hưởng của giòng nước lạnh chảy từ Bắc Cực xuống cho nên nước biển lạnh quá! người Việt Nam lại nhỏ nhắn như tôi, nên sức chịu lạnh đành chào thua!
Má tôi còn một người em gái cùng cha khác mẹ là dì Nguyệt, Dì và Má tôi giống nhau như hai giọt nước, dì lấy chồng và lập nghiệp ở Cửa hay Nại, tôi không nhớ rỏ lắm! Từ đó Má tôi mất tin tức của Dì. Lâu lâu, nhớ về quê hương, tôi vẫn muốn tìm kiếm dì Nguyệt. Má tôi già rồi trí nhớ không còn để có thể chỉ cho tôi biết những chi tiết về Dì. Có những lúc băn khoăn tôi tự hỏi, gia đình Dì có được đi thoát tới Mỹ không, vì Dì ở gần biển! Nếu không thì bây giờ Dì đang ở phương nào? Tình máu mủ, tình quê hương, tình xóm làng, lúc nào cũng làm tôi xúc động, nước mắt rưng rưng khi nghĩ đến!
Cảm ơn những người đồng hương Phan Rang đã gợi cho tôi nhớ lại những ngày thơ ấu tại Phan Rang. Còn rất nhiều kỹ niệm mà tôi nhớ chưa hết. Tôi xin hẹn một dịp khác sẽ cùng hàn huyên với các bạn về những kỹ niệm mà biết đâu nơi đó tôi và bạn cũng đã từng gặp gỡ... Và tôi xin cảm ơn chị Cúc, anh Đáng vì nhờ hai người mà Má tôi đã gặp được người đồng hương tại làng Vạn Phước là chú Mâu. Nhà Chú ở sát cạnh nhà Má tôi. Hai người già mấy mươi năm xa quê hương, họ đã rời xa làng quê khi tuổi còn rất trẻ, nay ở xứ người cách xa quê hương cả nửa vòng trái đất mà được gặp nhau thì thật là một điều hiếm có...
Sương trắng bên đồi núi của ai
Mà sao rưng rức nhớ quê nhà
Quê hương còn đó sao xa cách
Mỗi bước gian nan mỗi nhớ nhà . . .
Ngoạn Mục (Bella Vue)
(aka. Miên Du Đàlạt)
CA Dec. 12, 2006