“TỨ SƠN KỆ”

ĐẦU XUÂN ĐỌC “TỨ SƠN KỆ” TRONG “KHOÁ HƯ KINH”
CỦA TRẦN THÁI TÔNG (1218 – 1277)

 

Sau phút Giao thừa – lệ thường người ta khai bút; mình thì lật tìm trên giá sách một quyển sách để đọc gọi là “khai tâm” đầu năm. Mắt dừng lại ở tập “Khóa hư kinh” của Trần Thái Tông. 

Trần Thái Tông huý là Trần Cảnh, vị vua đầu tiên của nhà Trần (1225 – 1400). Đối với lịch sử, ngài là một bậc anh quân. Đối với văn học, ngài vừa là một nhà thơ, vừa là một nhà văn, vừa là một triết gia đã ý thức được thân phận của con người trong trần thế hữu hạn, vô thường. Bản thân ngài đã từng trải và chiêm nghiệm được triết lý khổ đau khi tại vị đối mặt với những mưu đồ thị phi quyền lực, từng toan một lần cắt tóc đi tu khi ở thời điểm ban đầu lên ngôi. Chính vì thế, tuy là một bậc hoàng đế uy uyền nhưng phong thái của ngài vẫn là phong thái của một vị thiền sư. Cái phong thái đó, chúng ta bắt gặp ở Khoá Hư Kinh - một tác phẩm bàn đến triết lý Phật giáo của người. “Khóa Hư Kinh được viết vào khoảng năm 1258 – 1277, sau khi đã nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông, bước vào đường tu và trước khi qua đời.

 

“KHÓA nghĩa đen là những bài học dạy những điều xác thực để học tập hàng ngày; HƯ là rỗng không. KHOÁ HƯ là làm cho lòng mình rỗng không, trong sạch để nhận lấy những bài học hàng ngày. Vì vậy, có thể nói rằng “Khóa Hư Kinh” là là một cuốn kinh dạy những điều thực tiễn và người tu trì cố gắng noi theo để đạt đến Đạo. Với Khóa Hư kinh, Trần Thái Tông dường mong muốn giúp người đọc - người tu có phương pháp và thực hành chứ không muốn lưu truyền một tập triết lý đơn thuần” 1.

 

Khởi đầu của Khóa Hư Kinh”, ngài đã luận bàn và thuyết  “Tứ sơn kệ”. Với Tứ Sơn Kệ, Trần Thái Tông đã diễn và tượng trưng “khổ đế” trong “tứ diệu đế” của nhà Phật bằng bốn núi (tứ sơn). Bốn núi ấy là SANH – LÃO - BỆNH - TỬ.

 

Mở đầu của “KHOÁ HƯ KINH”, ngài viết:

 

“Tứ sơn tiểu bích vạn thanh tùng
Liễu ngộ đô vô vạn vật không
Hỷ đắc lư nhi tam cước tại
Mạch ky đả sấn thượng cao phong”

Hoàng Hoa tạm dịch:

”Bốn núi biếc xanh vạn bóng tùng
Liễu ngộ ra rằng vạn vật không
Mừng được chú lừa ba cước ấy
Cưỡi lên chạy thẳng đỉnh cao phong”

 

Tâm vọng động, với hình ảnh chú lừa tam cước, cứ phóng túng, cứ chập chùng đường mê, ngập ngụa luyến ái trầm luân khổ ải, phi cước mông lung trên đường trần bụi hồng phong sương. Cứ trầm thăng, xuống lên trong bốn núi chẳng ngơi nghỉ, chẳng dừng lại chút chốc để lắng nghe, để suy ngẫm, để tu mà cứ dấn bước đi - về mãi trong gió chướng cuộc đời triền miên không dứt.

 

Thoảng vọng trong bốn câu này của ngài rằng: Hãy dừng lại, dừng lại nhé tâm ta – chú lừa kia - để trong lắng tịch tịnh mà nhìn suốt rõ được cái âm u, điệp trùng của bốn tầng núi xanh với vạn tùng giăng mắc duyên - nghiệp luân lưu thâm căn cố đế. Hãy điều khiển “chú lừa” để nhận chân được rằng : “vô ngã là niết bàn”2., để rơi rụng hết những lăn xăn, vọng niệm để liễu ngộ ra rằng “vạn vật không!”

 

Tầng núi thứ nhất được ví như tướng “SINH”; dù siêu quần bạt tục, dù văn võ toàn tài, dù cao sang lực quyền tột đỉnh, dù đẹp trai như Tống Ngọc…, dù mỹ miều khuynh nước nghiêng thành Duơng Quý Phi …, dù nghèo hèn đói cơm rách áo, dù ngu dốt một chữ bẻ đôi không biết, dù giang hồ mặt ngựa đầu trâu …v.v…; tất cả đều vướng mắc lưới luân hồi sinh kiếp, đều nằm trong vòng “SINH HÓA”. Hỏi tự đâu khởi điểm tuớng sanh? Truy nguyên rối rắm - mù tịt mối manh! Tướng SINH của loài người cũng như mùa Xuân khởi đầu của một năm.  Với sắc Xuân, mọi vẻ đều tươi thắm, hưng thịnh:

 

“Chân tể huân đào vạn tượng thành
Bản lai phi triệu hựu phi manh
Chỉ sai hữu niệm vong vô niệm
Khước bội vô sinh thụ hữu sinh
Tỵ chước chư hương thiệt tham vị
Nhãn manh chúng sắc nhĩ văn thanh
Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình

(NHẤT SƠN KỆ)

Thiền Chửu dịch:

Tạo vật hun đúc nên muôn hình
Nguyên không mầm mống không mối manh
Chỉ sai: có nghĩ, quên không nghĩ
Trái lẽ: không sinh chịu, chịu khó sinh
Mũi lưỡi thích hương cùng thích vị
Mắt tai mê sắc lại mê thanh
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Tịnh độ quê xa mấy vạn trình

 

Bởi vô minh vọng động, lục căn cùng lục trần quấn quít, vướng víu nhau nên mãi lênh đênh đênh, mãi bập bềnh, mãi lãng đãng phong trần trong hạn kiếp làm người như kẻ lãng tử giang hồ nhìn quê nhà Tịnh độ mịt mù xa.

 

Tầng núi thứ hai được ví như tướng LÃO (GIÀ). Nhân sinh là phù âu. Thời gian như bóng câu qua cửa, tướng mạo, khí chất thịnh rồi suy. Thấm thoắt mùa xanh rồi mùa vàng! Có SINH thì có LÃO tự nhiên như bốn mùa luân lưu. Mới ngày nào trẻ thơ, xuân xanh... chớp mắt đã hình dong tiều tụy như liễu cuối hạ sang thu, như bóng chiều dần ngập chìm nương dâu. Mái tóc xưa dẫu đẹp như mái đầu chàng Phan An rồi cũng bạc như làn tóc cụ Lã Vọng; hình dáng đâu còn mãi... xưa rồi cũng sau. Vạn vật theo sự biến, sự hóa ; con người dẫu có biết, có nhớ, hay cố ý không biết, cố quên thì dòng sống vẫn thế... Thế sự vẫn trôi dài, buồn vui gì cũng đành, thọ - yểu gì cũng đành; cố ghì giữ nào được? Màn chiều vẫn buông xuống, mặt trời vẫn gác núi phía tây và dòng nước vẫn chảy về đông đấy thôi! Tầng núi khổ - LÃO - này vẫn vời vợi cao muôn đời đổ bóng vào hồn cô liêu của thế nhân :

 « Nhân sinh tại thế nhược phù âu
Thọ yểu nhân thiên, mạc vọng cầu
Cảnh bức tang du tương hướng vãn
Thân như bồ liễu tạm kinh thâu (thu)
Thanh điêu tích nhật Phan Phan lang mấn
Bạch biến đương niên Lã - Vọng đầu
Thế sự thao thao hồn bất cố
Tịch dương tây khứ thủy đông lưu

 

(NHỊ SƠN KỆ)

Thiền Chửu dịch:

Đời người như bọt biển nổi ngầu
Thọ yểu thiên nhiên lọ phải cầu
Cảnh tựa bóng dâu dần sắp tối
Thân như bồ liễu tạm qua thâu!
Bạc phơ cụ Lã đương khi đó
Xanh mượt chàng Phan thuở trước đâu !
Ngán nhẽ sự đời thôi mặc quách
Mặt trời gác núi nước xuôi mau.

 

Tầng núi thứ ba được ví như tướng BỆNH. Đã hữu sinh, tồn sinh nghĩa là đã  mang mầm bệnh dẫu già trẻ, lớn bé, sang hèn. Có thân là có bệnh, không bệnh thì thân cũng không có xác thân này. Càng lớn lên, càng già đi theo năm tháng - tuổi càng cao bệnh càng nhiều. Dần suy kiệt với bệnh tật, hai chân đi không nổi phải chống gậy. Chống gậy đi cũng không nổi thì nằm như khúc gỗ mục trôi theo dòng. Mạng người dần như đèn trước gió, như bọt nổi mặt sông chưa  biết tắt hay vỡ lúc nào. Sức tàn lực kiệt, bệnh tật dày vò thì ví như cụ Biển Thước hay Lư nhân có linh đơn; diệu dược thì cũng bó tay, vô phương cứu chữa. Chẳng có trường sinh thuật nào chống lại được lẽ tự nhiên làm cho con người ta bất tử cả! Chẳng có mùa Xuân đất trời nào là Xuân vĩnh viễn cả! Con người phải nhìn ngước và suy ngẫm về ngọn núi BỆNH cao ngất này để hiểu rõ được sự lý tự nhiên. Từ đó, người và ta « tảo nguyện viễn ly ma cảnh giới » đầy ảo ảnh, phù du này mà hồi tâm chuyển ý, quay về với đường Đạo - « con đường chân chánh tu tập » - để dưỡng thiên chân, huân tập hạnh đức, tạo nhân lành hòng nhẹ nhàng cưỡi mây đạp gió vượt thoát khỏi ngọn núi và dần hướng bước về nẻo tịnh chơn như:

 

Âm dương khiên đức bản tương nhân
Biến tác tai chuân cập thế nhân
Đại để hữu thân phương hữu bệnh
Nhược hoàn vô bệnh diệc vô thân
Linh đơn mạn xá trường sinh thuật              
Lương dược nan linh bất tử xuân
Tảo nguyện viễn ly ma cảnh giới
Hồi tâm hướng đạo dưỡng thiên chân

(TAM SƠN KỆ)

Tầng núi thứ tư được ví như tướng TỬ (CHẾT). Mang vác nỗi mình, nghiệp đời cõng nặng trên đôi vai, con người cứ thế dần lật, bò, đi, chạy và lết qua ba tầng núi SANH – LÃO - BỆNH rồi đến tầng núi thứ tư CHẾT. Khúc hát « Kinh khổ » của trần gian với khúc dạo đầu ngập tiếng cười của mẹ cha chan hòa, êm đềm tao nôi với tiếng khóc trẻ thơ dần cũng đến đoạn chìm lắng của mấy chữ « lìa xa trần thế ». Chẳng ai sống thay ai mà cũng chẳng ai chết thay ai được, có sinh thì có diệt, dẫu là thánh - hiền, phàm - ngu. Một « nhịp đời » lắng lại để một nhịp khác nối theo. Quả lắc sinh diệt – chu kỳ thành trụ - hoại – không muôn thuở đong đưa! Cơn giông thổi ào cuốn lá vàng rời cành, rớt về nguồn, rã mục hòa vào đất mẹ, cát bụi trở về với cát bụi. Đến với cuộc đời với hai bàn tay trắng, rời bỏ trần thế rồi cũng trắng hai bàn tay! Cái xác thân còn chẳng giữ được mà còn nỗi thống hận bởi chẳng mang theo được gì ư? Sau cánh cửu khép kín yên lắng hoang liêu của dạ đài, xác thân còn ý thức được chi - nếu có cũng chỉ là lời thở than ngậm ngùi của gió !? Đến tầng núi thứ tư, con người lại thành bụi nhập hòa luân hồi với gió trời bao la.

Với « Tứ Sơn Kệ », cái chết được diễn tả rất khác thường và rất thơ, rất « thiền ». Đó dường như là một lời cảnh tỉnh nhân thế rằng đời người chỉ là một ảo ảnh giữa bão giông rồi sẽ biến mất, chỉ còn lại sự tỉnh lặng ngàn đời qua hình ảnh ngư ông say túy lúy trên chiếc thuyền câu mong manh trong cuồng phong và giòng sông với bóng trăng. Phải chăng ngài muốn nêu lên triết lý về tính bất định, hư ảo và giả tạm của cuộc đời:  

 

Bãi đãng cuồng phong quét địa sinh
Ngư ông túy lúy điếu chu hoành
Tứ thùy vân hợp âm mai sắc
Nhất phái ba phiên cổ động thanh
Vũ cước trận thôi phiêu lịch lịch
Lôi xa luân chuyển nộ oanh oanh
Tạm thời trần liễm thiên biên tịch
Nguyệt lạc trường giang dạ kỷ canh.


(TỨ SƠN KỆ)

 

Thiền Chửu dịch:

Mặt đất cơn giông gió thổi cuồng
Ngư ông say tít mặc thuyền buông
Bốn phương mây phủ màu đen kịt
Một dải sông reo tiếng sóng cuồng
Chuyển vận ĩ ầm xe sấm động
Tóc tung sầm sập trận mưa tuôn
Tạm thời bụi cuốn bên trời tạnh
Đêm trắng sông trường bóng Nguyệt suông

 

Chợt nhớ đến bốn câu thơ của Thiền sư Vạn Hạnh:

Thị chúng:

"Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô."

(Việt Nam PG sử lược, TT.Mật Thể, Minh Ðức xuất bản, Huế, 1960, tr 120)

Tạm dịch:

Nói cho chúng Tăng biết:

Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi thu lại khô
Gẫm cơn suy thịnh lòng không sợ
Thịnh suy đầu cỏ hạt sương phô.

 

Trầm ngâm trong « Tứ  Sơn Kệ » và chiêm nghiệm về triết lý về KHỔ ĐẾ của đạo Phật, chợt cũng quên thời gian đang cuộn chảy! Bất chợt giật mình khi chuông Thiên Mụ điểm vọng, thân mình cũng cảm thấy se lạnh. Bước chân ra hiên nhà, nhành hoàng mai trở mình bung cánh. Trời dần chuyển canh về sáng, nguyên đán sương giăng và dần dần tan; tâm hồn cũng chớm rạng :

“ Hỏi rằng người đến từ đâu?
Thưa rằng: bãi bể nương dâu cuộc đời!
Về đâu? - Lặng lẽ không lời.
Miên trường ngày tháng buông lơi…
ấy là!...”


(Hoàng Hoa – Dòng sống)

Cảm ân cha mẹ đã sinh ra con có đủ hình hài của thân người, có trái tim và tâm hồn để Văn – Tư - Tu. Cảm ân từ phụ bổn sư với đạo pháp nhiệm mầu, cảm ân ngài Trần Thái Tông đã để lại một « Khóa Hư Kinh » để trong thời khắc giao mùa này con được đọc, được ngẫm, được nhận chân được chữ « Khổ » mà cố gắng tinh tấn tu học.

 

Khai bút năm nay, xin được ghi lại nỗi lòng sau khi đọc « Tứ Sơn Kệ » của « Khóa Hư Kinh » để chia sẻ cùng những người đồng đạo như là những ánh sáng « khai tâm » đầu năm bằng cách nhận chân « Khổ đế ».   

Nguyện an lành đến với người với mình.

 

Tháng Giêng 2007

_________________

Tham khảo :

1. Trích trong Vườn Thơ Đạo Lý, Liên Hoa số 10, năm thứ mười 1964, Nguyên Hạnh viết.
2.  Vô Ngã là Niết Bàn – Thích Thiện Siêu

* Ba bài dịch Nhất Sơn Kệ, Nhị Sơn Kệ và Tứ Sơn Kệ  – trích trong cuốn « THÁI TÔN HOÀNG ĐẾ NGỰ CHẾ KHÓA KINH »  của tu sỹ dịch giả Thiền Chửu , nhà in Hưng Long – Saigon ấn tống 1961, trang 86, 87,88



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả