Trương Chi khác
Ngày xưa, có lẽ lâu lắm rồi, khi Sài Gòn còn là nơi chằng chịt sông rạch, thì ở một bến sông…Vào những đêm trăng sáng lấp lánh dát vàng trên mặt nước lăn tăn. Người ta thường nghe văng vẳng tiếng đọc thơ thật buồn của một trung niên. Giọng chàng không hay, nhưng hình như không ai không cảm nhận thơ của chàng đã nói lên số phận một con người. Đó là Trương Chi…
Dân làng không rõ Trương Chi tên thật là gì, chỉ biết chàng đến đây, đến với bến sông này vào đầu mùa hạ khi kinh thành thất thủ - khi hoa bần rụng trắng hai bên bờ sông. Và dân làng cũng chẳng thèm để ý tới gốc gác của Trương Chi, một người từng trải, có học thức, từ Trường An lưu lạc đến xứ lạ quê người. Chàng được dân làng yêu mến, bởi chàng là một nghệ sĩ, là người làm thơ, sống nhân hậu, có tấm lòng giữa xã hội vàng thau lẫn lộn. Cuộc sống bình lặng trôi đi, giá như không có một ngày chàng gặp Mỵ Nương…
Mỵ Nương - em gái họ của viên quan huyện họ Nguyễn. Dạo đó, Mỵ Nương vừa hai mươi mùa xuân, nàng thật dễ thương, nhưng có lẽ đẹp nhất là vết sẹo dưới chân mày phải. Nghe nói, khi nàng sinh ra, mẹ nàng đã làm dấu cho con phòng khi thất lạc giữa thời binh đao. Mỵ Nương có một tâm hồn đa cảm, đa sầu đã say mê những bài thơ chứa nhiều nỗi buồn của Trương Chi. Hai tâm hồn đồng điệu gặp nhau với khát khao vươn tới một tương lai, một tình yêu, bằng những lời thề non hẹn biển- dù bất cứ nghịch cảnh nào, họ cũng quyết vượt qua để giữ vẹn lời thủy chung. Họ thường ví ” Nhất nhật bất kiến như tam thu hề” (Một ngày không gặp tưởng chừng dài ba thu). Tình yêu của họ tưởng không có gì chia cắt được với sự quyết tâm sắt đá đó. Nhưng….
Thấm thoát ba mùa trăng, sau chuyến về quê thăm cha mẹ. trở lại bến sông xưa gặp Trương Chi, Mỵ Nương đã không còn là một Mỵ Nương đầy niềm tin, đầy nghị lực, vượt qua mọi sóng gió đi tìm hạnh phúc cùng Trương Chi. Nàng đột nhiên chao đảo, ngã nghiêng trước con đường tình xa lắc xa lơ. Trương Chi hiểu tâm trạng cân phân, đắn đo của nàng, chàng buồn rầu cất tiếng đọc thơ. Giọng chàng bay vút chín tầng mây, bay khắp cùng dòng sông Sài Gòn. Bay mãi… bay mãi đến tai gã lý trưởng. Từ lâu, gã đã biết mối liên hệ của Trương Chi và Mỵ Nương, gã bèn báo cáo lên viên quan huyện. Viên quan huyện tức giận, một mặt sai thuộc hạ ngày đêm về làng gặp cha mẹ Mỵ Nương bàn gả nàng cho con trai một phú hộ. Một mặt,truyền cho lý trưởng tìm cách chia rẽ mối tình của hai người. Tên lý trưởng gian ác ra lệnh cắt lưỡi Trương Chi để chàng không bao giờ còn đọc những bài thơ ai oán- chặt đôi tay Trương Chi để chàng không còn làm thơ vạch mặt mưu mô độc ác của hắn. Trương Chi đau đớn tột cùng, cái đau đớn thể xác lẫn tâm hồn của cuộc sống nhân gian.
Một ngày, Mỵ Nương lên kiệu hoa. Khi ngang qua bến sông nơi túp lều trú ngụ của Trương Chi. Lửa bỗng cháy đỏ rực túp lều, Trương Chi đã hủy hoại thân xác tàn phế của chàng. Mỵ Nương đứng chết lặng nhìn lửa cháy thiêu đốt túp lều và thể xác Trương Chi. Mỵ Nương như người mất trí, nàng băng mình vào đống tro tàn mong tìm lại được chút kỷ vật của người xưa. Đôi mắt Mỵ Nương sáng long lanh khi bắt gặp dưới đống tàn tro trái tim của Trương Chi. Một trái tim lửa không thể thiêu đốt được trước một tình yêu làm rúng động trời đất của chàng. Một trái tim đã hóa thành ngọc. Mỵ Nương òa khóc - những giọt nước mắt ân hận muộn màng rơi xuống đọng trên trái tim. Và trong những giọt nước kia, bỗng hiện ra hình bóng Trương Chi ngồi lặng lẽ bên bến sông. Chàng không còn đọc thơ vì lưỡi đã bị cắt - chàng không còn làm thơ vì đôi tay đã bị chặt. Đôi mắt Trương Chi vời vợi ngó vào khoảng xa xăm, nủa như bao dung - tha thứ, nửa như oán trách - căm hờn…
Từ đó, dân làng đã không còn nghe tiếng đọc thơ thống thiết của chàng, không còn thấy hình bóng một con người nhân hậu đã chết vì tình yêu và sự độc ác của thế gian. Và từ đó, dân làng không còn ai biết Mỵ Nương trôi dạt phương trời nào. Cuộc sống của nàng có hạnh phúc hay không bên một người nàng không thương yêu. Chỉ biết rằng đời sau, truyền thuyết Trương Chi-Mỵ Nương đã trở thành “tam sao thất bản”, với nhiều cốt truyện khác nhau, được lưu truyền trong văn học dân gian