Thơ Lục Bát (5)




MỸ TỪ PHÁP ... (Tt)

V-Thủ pháp Điệp ngữ :


Điệp ngữ là thủ thuật lặp đi lặp lại có chủ ý một từ nào đó , mục đích để thi vị hoá câu thơ, đồng thời nhấn mạnh hoặc giảm nhẹ một điểm đặc trưng trong câu. Điệp ngữ cũng có nhiều hình thức khác nhau và cũng thường được sử dụng xen lẫn vào trong các thủ pháp khác, đặc biệt là hay đi kèm cùng câu đồng dạng


1-Điệp ngữ qua hình thức sử dụng “từ láy” :


Trong tiếng Anh, khi một tính từ (Adjective) nhận thêm một hậu tố (Suffix) ISH, ta sẽ có được một tính từ mới có nghĩa nhẹ nhàng hơn . Ex :


Brown --------- Brownish

Yellow -------- Yellowish


Trong tiếng Việt, cách dùng Điệp ngữ dưới hình thức “từ láy” cũng có giá trị tương tự, trong đó, chữ thêm vào đặt trước chữ chính . Thí dụ :


Xa xa --------- hơi hơi xa

Xanh xanh ----- hơi hơi xanh, xanh nhạt

Nho nhỏ ------- hơi hơi nhỏ

Tim tím ------- hơi hơi tím, tím nhạt


Để ý rằng :

-Nếu chữ chính thanh bằng (Xa, Xanh, Buồn...): Lặp lại y nguyên chữ đó (Xa xa, xanh xanh, Buồn buồn...)

-Nếu chữ chính thanh trắc (Nhỏ, Tím, Đỏ...) : Lặp lại bằng từ thanh bằng tiệm cận với từ ấy (Nho nhỏ, Tim tím, Đo đỏ, Biền biệt, Văng vẳng, Đằng đẵng ...)


***Các thí dụ về Điệp ngữ dùng “Từ láy” trong thơ lục bát :


Tà tà bóng ngả về tây

Chị em thơ thẩn dang tay ra về

Bước lần theo ngọn tiểu khê

Nhìn xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nấm đất bên đàng

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

.................……………..(Nguyễn Du-Kiều)


Đau lòng kẻ ở người đi

Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm

Trời hôm mây kéo tối rầm

Dàu dàu ngọn cỏ, đầm đầm cành sương

.................……………..(Nguyễn Du-Kiều)


Nàng thì chiếc bóng song mai

Đêm thâu đằng đẵng nhặt cài then mây

Sân rêu chẳng vẽ dấu giày

Cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân

Đoái trông muôn dặm tử phần

Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa

................………….(Nguyễn Du-Kiều)


Hỏi han hết mực kính nhường

Cớ sao cố ý chặn đường xe qua

Ba lần hỏi, chẳng thèm thưa

Trước sau vờ vĩnh pho pho ngáy đều

Gió đưa râu bạc phiêu phiêu

Phơ phơ tóc trắng, ra chiều tiên nhân

...............……………….(HSN-ƯHPT)


Gióng cương trực chỉ Tây Hà

Tần kề một bước, Nguỵ xa ngàn trùng

Rừng mai khuất đám bụi hồng

Lửa hương se thắt chạnh lòng mà đau

Băng băng xe lướt ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt khơi sầu chinh nhân

Xa xa thấp thoáng non Tần

Biết bao gian khổ khó khăn sẵn chờ

...............………………..(HSN-ƯHPT)


Trời chiều, bóng ngả cô liêu

Hai quân im tiếng, đìu hiu chiến trường

Xa xa hạc lẻ kêu sương

Đó đây văng vẳng tiếng hờn âm u

Oan hồn tử sĩ phiêu du

Khói hương chẳng có, mịt mù sầu dâng

............………………....(HSN-ƯHPT)


Nhanh chân núp dưới tường hoa

Em không có nón, trời mưa tầm tầm

Đường xa, trời tối, mưa dầm

Người không quen biết xăm xăm ngỏ lời

........………..(HSN-Lời người trong mưa)


Từ khi trao gửi trâm vàng

Chia tay rời khỏi miệng hang trở về

Đường xa muôn dặm sơn khê

Nước đi biền biệt không về cùng non

Nghẹn ngào đá lấp, người chôn

Chẳng hay quân tử mất còn nơi nao

Rưng rưng ruột xót gan bào

Bời bời hoa lá, dàu dàu cỏ cây

.......(HSN-Thạch Sanh Lý Thông Tân Biên)


2-Điệp ngữ đi cùng câu đồng dạng trong một trường đoạn:

(Xin xem lại ở phần Câu đồng dạng)


***Thêm một số các thí dụ :


Rút trâm giắt sẵn mái đầu

Vạch da cây, vịnh bốn câu ba vần

Lại càng mê mẩn tâm thần

Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra

Lại càng ủ dột nét hoa

Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài

......................(Nguyễn Du-Kiều)... 3 lần “Lại càng”


Ngọn đèn khi tỏ khi mờ

Khiến người ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu

Khi tựa gối, khi cúi đầu

Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày

......................(Nguyễn Du-Kiều)... 4 chữ “Khi”


Đã nguyền hai chữ đồng tâm

Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai

Còn non còn nước còn dài

Còn về còn nhớ đến người hôm nay

......................(Nguyễn Du-Kiều) ... 5 chữ “Còn”


Xem gương trong bấy nhiêu ngày

Thân con chẳng khỏi mắc tay bợm già

Khi về bỏ vắng trong nhà

Khi vào dúng dắng, khi ra vội vàng

Khi ăn khi nói lỡ làng

Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh

......................(Nguyễn Du-Kiều) ... 7 chữ “Khi”


Lo gì việc ấy mà lo

Kiến trong miệng chén có bò đi đâu

Làm cho nhìn chẳng được nhau

Làm cho đày đoạ cất đầu chẳng lên

Làm cho trông thấy nhãn tiền

Cho người thăm ván bán thuyền biết tay !

......................(Nguyễn Du-Kiều) ... 3 lần “Làm cho”


Vợ chồng chén tạc chén thù

Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi

Bắt khoan bắt nhặt đến lời

Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay

......................(Nguyễn Du-Kiều) ... 5 chữ “Bắt”


Sẵn Quan âm các vườn ta

Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa

Có cổ thụ, có sơn hồ

Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh

......................(Nguyễn Du-Kiều) ... 4 chữ “Có”


Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông nội cỏ dàu dàu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh

ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

......................(Nguyễn Du-Kiều) ... 4 lần “Buồn trông”



Nguỵ Tề càng đánh càng điên

Men say càng bốc, ghét ghen càng nồng :

Đánh cho chết đứa cuồng ngông

Đánh cho hết kẻ ám thông nước ngoài

Đánh cho tuyệt nọc tay sai

Đánh cho trắng mắt những loài gièm pha !

.......(HSN-Ứng Hầu Phạm Thư) ... 4 “Càng”, và 4 lần “Đánh cho”


Nhớ chăng gương Bá Lý Hề

Bảy mươi chăn ngựa nuôi dê xứ người

Nhớ chăng Câu Tiễn nằm gai

Phơi sương nếm mật có ngày nên công

...............(HSN-Ứng Hầu Phạm Thư) ... 2 lần “Nhớ chăng”


Chợt quen em, phút giây này

Long lanh mắt biếc, bay bay tóc huyền

Mỉm cười, duyên lại thêm duyên

Càng nghe càng mến, càng nhìn càng ưa

..................(HSN-Mưa tình cờ) ... 4 chữ “Càng”


Đường đời càng ngẫm càng đau

Càng buồn càng tủi càng sầu càng thương

Tơ không ai vấn mà vương

Chiêm bao chưa tỉnh hồn nương xứ nào ?

...................(HSN-Một thuở đưa đò) ... 6 chữ “Càng”


-Còn tiếp-


Hàn Sĩ Nguyên


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả