Năm Ngọ và sao Thiên Mã
Chỉ còn 2 tuần lể là chúng ta bước qua Xuân Nhâm Ngọ 2002. Thêm một tuổi hay bớt một tuổi tùy theo quan niệm mỗi người.
Cứ mỗi mùa Tết, giở báo Xuân ra, độc giả tò mò hay lật coi Mục Tử Vi coi năm mới tốt hay xấu.
Dựa vào sấm ký và khoa học huyền bí là một lối giải trí, nhưng cũng có thể là lối thoát để giải đáp phần nào những bí ẩn của cuộc đời đầy nhiêu khê nan giải bất trắc này.
Ðể mở đầu bài này , tác giả muốn nhắc lại cảnh:
Long vỹ Xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khởi đao binh.

Cuối năm Rồng và năm Tị chúng ta đã chứng kiến chiến tranh, đã ảnh hưởng đến sinh mạng và tiền của như thế nào rồi.

Nếu sấm Nostradamus, Thông Ðiệp Fatima, sấm Trạng Trình, lời nguyền Técumseh đúng thì hai năm tới sẻ là năm:
Mã đề dương cước anh hùng tận.

Cuối năm Ngọ và đầu năm Dê. Trên thế giới này, có hai nước hay lạm dụng chữ "anh hùng" là Mỹ và Việt Nam, cái gì cũng anh hùng, phu đổ rác cũng thành anh hùng, đặt bom giết người vô tội cũng là anh hùng. Ðặc biệt là Mỹ muốn nên anh hùng phải còn sống, còn Việt Cộng muốn nên anh hùng thì phải chết.

Thân Dậu niên lai kiến thái bình. Mong lắm thay.

Theo sách Tử Vi Ðẩu Số Toàn Thư của Hi Di Trần Ðoàn thì sao Thiên Mã ở các cung đều có sự chế hóa. Vào cung Thân Mệnh, gọi là Dịch Mã thì cần Lộc Tồn, Tử Vi, Thiên Phủ , Xương khúc thủ hay chiếu mới thật tốt. Ðại Tiểu hạn gặp Thiên mã cũng cần mấy sao trên mới lợi. Ðồng cung với Lộc Tồn kêu bằng Lộc Mã Giao Trì hay Triết Chiêu Mã. Ðồng cung với Tử Phủ kêu bằng Phù Liễn Mã tức ngựa kéo xe vua. Ðồng cung với Hình Sát kêu là Phù Thi Mã, ngựa mang xác chết. Ðồng cung với Hỏa Tinh gọi là chiến mã, ngựa trận. Ðồng cung với Nhật Nguyệt kêu bằng Thư Hùng Mã. Gặp Không Vong gọi là Vong Mã, ngựa lạc đường. Ở nơi Tử Tuyệt gọi là Tử Mã, ngựa chết. Gặp Ðà La kêu bằng Triết Túc Mã, ngựa què.

Sách
Tử Vi Hàm Số của ông Nguyễn Phát Lộc, thì Thiên Mã thuộc hành Hỏa.
Ý nghĩa của cơ thể, Thiên Mã chỉ tứ chi, 2 tay, 2 chân, phương tiện di chuyển. Vì vậy, nếu Mã gặp sát tinh, tùy theo nặng nhẹ, chân tay sẽ bị tàn tật, từ trặc tay, trặc chân, phỏng tay chân cho đến mất tay chân, bất luận Thiên Mã ở cung nào.
Nói về
Ý nghĩa về vật dụng thì Thiên Mã chỉ xe cộ hay phương tiện di chuyển nói chung.

Nếu sao Thiên Mã gặp Không , Kiếp, Binh thì số có thể bị mất xe.

Nếu sao Thiên Mã gặp Kình , Ðà thì sốù có thể bị tai nạn xe cộ.

Nếu sao Thiên Ma gặp sao Thiên Cơ thì xe có thể bị trục trặc máy móc.

Nếu chỉ về súc vật, Thiên Mã chỉ gia súc gà, vịt , heo, bò, cừu. Nếu Mã gặp Tang hay Hà thì súc vật bị dịch chết.

Nếu nói về
Ý Nghĩa về Tài Năng thì Thiên Mã chỉ người đa tài, có khả năng trong nhiều lãnh vực, lại tháo vác, bén nhậy, mau mắn. Thiên Mã mà gặp Tướng Quân chỉ quân nhân có tài, Tướng Quân chỉ võ tính, sự cương cường , hiếu thắng, phách lối. Nếu Mã đi với Thiên Tướng cũng đồng nghĩa, nhưng đây là một quân nhân có kỷ luật hơn, vì Thiên Tướng vốn đôn hậu, đa năng, thao lược, xông pha. Người có Mã ở Quan hay Mệnh thường nhậm lẹ, lanh lợi, lăn lóc, từng trải cho nên đa hiệu. Có tư cách hơn sao Tướng Quân. Nếu Thiên Mã gặp sao Lực Sĩ thì đây là cách của một võ tướng có sức mạnh, vũ dũng, ít có mưu lược. Nếu là học trò thì giỏi nhiều môn., nếu là công chức thì đa năng, đa hiệu, đa nhiệm, nếu là nội trợ thì tề gia, quán xuyến một mình. Vì vậy, Thiên Mã là vì sao rất quí cho công danh, nghề nghiệp, bất luận ngành nào, nhất là khi đắc địa ở Mệnh, Thân , Quan, tại các cung Dần và Tị. Mã ở Thân thì kém, ở Hợi thì xấu, vì khắc với hành Hỏa.

Nếu nói về
Ý Nghĩa về sự Thay Ðổi, Thiên Mã là sao điển hình chủ về sự thay đổi hoặc chổ ở, chổ làm, hoặc làm việc có tính cách lưu động như Thanh tra, Ðại sứ, liên lạc viên, giao liên.

Nếu nói về chủ việc đi xa, xuất ngoại, ly hương , ly tông. Người có Thiên Mã ở Mệnh hay đi đây đi đó, làm việc lưu động (như quân nhân chinh chiến nhiều nơi) có dịp xuất ngoại thường, hoặc phải xa nhà thường. Nếu Mã ở Di thì ý nghĩa này càng chắc chắn: thường thì đây là những người làm công vụ ở xứ ngoài( Ðại Sứ, Tùy Viên Sứ Quán...)

Cũng trong
Ý Nghĩa thay đổi, Phu Thê xấu có Thiên Mã gặp Tuần Triệt, Ðịa ,Không, thì có nghĩa bỏ vợ bỏ chồng. hay vợ chồng bỏ nhau.

Nếu nói về Ý Nghĩa Thiên Mã với các sao thí có:
a) Các cách tốt:
- Mã Tử Phủ đồng cung: tài giỏi, giàu sang, phúc thọ song toàn. Gặp thời vận, như tôi ngay gặp chúa (đây là cách ngựa kéo xe cho vua chúa).
- Mã Nhật Nguyệt sáng sủa: Ðây gọi là cách hư Hùng Mã, chủ việc gặp vận hạn tốt, công danh tiến đạt suông sẻ.
- Mã, Lộc Tồn đồng cung, hoặc Tồn hay Lộc chiếu: Gọi là chiết tiển (bẻ roi đánh ngụa) hay Lộc Mã Giao Trì, chỉ sự hanh thông về quan trường, tài lộc. Thường thì đây là cách thương gia đắc tài đắc lộc.
- Mã Hỏa hay Linh đồng cung: Ðắc địa thì chủ về quân sự, binh quyền, hiển đạt (ý nghĩa chiến mã, ngựa lâm trận). Nếu hảm địa, thì bôn ba chật vật., có thể bị thương tích.
- Mã Khốc Khách: Gọi là tuấn ma nghĩa là ngựa hay gặp người cỡi giỏi, ám chỉ sự thao lược, chinh chiến dũng mãnh, lập công lớn, hay gặp thời vận may mắn.
- Mã, Tướng: làm nên vinh hiển.
- Mã gặp Lưu Mã: thăng quan tiến chức, thêm tài lộc, huy chương., có xuất ngoại hay đổi chổ ở, chổ làm.
- Tiền Cái Hậu Mã: Nếu cung Quan, trước gặp Hoa Cái sau gặp Thiên Mã là một biểu tượng của quyền uy, co Ngựa (Mã), có Lọng (Cái) theo chầu. Duy có cách này nên đóng ở cung ban ngày mới rạng.
b) Các cách xấu: - Mã Hình đồng cung: Gọi là Phù Thi Mã,
ngựa mang xác chết, chỉ sự tai họa khủng khiếp.
- Mã Tuyệt đồng cung hay hội chiếu: Gọi là Chiết Túc Mã hay ngựa què, chỉ sự suy bại, ngăn trở trong mọi công việc, gây tai họa.
- Mã Tuần Triệt: Gọi là Tử Mã, ngựïa chết: rất hung hãn, gây tai họa, bại hoại, chết chóc, thương tích tay chân. Không tai nạn xe cộ, thì ứng vào chức nghiệp, bộ sao này chỉ sự bất dụng, sự thiếu may mắn trong nghề nghiệp, làm cái gì cũng gặp thất bại, tai ương, xui xẻo khiến cho thượng cấp mất dần tín nhiệm, không dám giao phó đại sự. Cho nên công danh người có Mã, Tuần, Triệt tương đối nhỏ.
c) Ý nghĩa Mã ở các cung:
Ở cung Di, cung Quan: thường xuất ngoại, hay đi du lịch, làm việc lưu động, làm việc công vụ ở ngoại quốc.
Ở cung Phu Thê; vợ chồng gặp nhau ở xa quê quán. Có thể có vợ hay chồng ngoại quốc. Thường cưới hỏi nhau rất nhanh.
Ở Hạn: hay có sự thay đổi (nhà, chổ làm)

Sách
Tử Vi Ðẩu Số Toàn Thư có câu phú:
- Lộc Mã tối hỉ giao trì:( Mã cần gặp Lộc Tồn) tức Lộc Mã Giao Trì cách.
- Thiên mã tứ sinh, Thê cung phú quí hoàn đương phong tặng. (Sao Thiên Mã ở bốn cung Tràng Sinh gặp cung Thê ở đó, vợ con nhà phú quí còn được tặng phong tóm lại là số nhờ vợ)ï. Thiên Mã gặp Tràng Sinh ở Hợi là có cơ may tiến đạt. Nhưng hiềm vì ở cung Hợi (ban đêm)cho nên năng tài bị chìm trong bóng tối. Ðây là hạng ngưới kém may, không có cơ hội thi thố được, hoặc chỉ có danh mà không có quyền, chỉ có hư vị hơn là thế lực, hoặc bị đặt vào chổ tượng trưng để lợi dụng uy tín chớ không phải để hành sử quyền bính. Mã ở Hợi gọi là Mã Cùng Ðồ, ngựa bí lối, có nghiã như mã tuyệt.
- Mã Ngộ Không Vong: (Chung Thân Bôn Tẩu. Suốt đời chạy ngược chạy xuôi).

Mặt khác, cách hay kể trên còn tùy vị trí của sao Thiên Mã. Nếu ở Dần (Mộc) và Tị (Hỏa) thì tốt đẹp thêm, ở Thân (Kim) thì vất vả, còn ở Hợi (Thủy) thì lu mờ, sở dỉ như thế là vì hai cung Thân và Hợi nghịch hành với hành Hỏa của sao Thiên Mã và hơn nữa hai cung này thuộc về ban đêm nên Thiên Mã thiếu đắc đụng (ngụ ý đêm tối ngựa không thấy đường chạy).

Sau cùng, theo hành của bản Mệnh sung hay khắc với hành của Thiên mã mà quyết đoán tốt, xấu. Tốt khi nào Mã ở Dần (Mộc) mà bản Mệnh thuộc Mộc, Thiên Mã ở Tị (Hỏa) với Hỏa Mệnh, Mã ở Thân (Kim) với Kim Mệnh, Mã ở Hợi với Thủy Mệnh. Bao giờ gặp nghịch khắc giửa hai hành thì kém hoặc xấu: tài năng sút kém, trở ngại gia tăng, công danh không rạng.

Cho nên cái hay của
Thiên Mã tùy theo hai điều kiện rất linh động:

- Có cát tinh đi kèm, ví như ngựa hay gặp người cỡi giỏi, người tài gặp chúa biết trọng dụng.

- Ở vị thế hợp với bản mệnh và hợp với hoàn cảnh, ví như người tài gặp thời mới đắc vận, ngựa phải hoạt động đúng lúc của nó.

- Thiếu nhân sự, thiếu thời thế, Mã trở nên vô dụng tuy không thiếu tài năng. Tội thay những tài năng sanh bất phùng thời là thế.
Quay trở lại với việc anh hùng tận. Chúng ta có vài nhận xét riêng. Tổng Thống Bush là người có tướng đi phá tướng, không sang. Ông phải chẩm rải, khoan thai hơn, bớt ưởn người khi đi mới được. Lời nguyền (maudire) của Tù trưởng da đỏ Técumseh xưa kia vẫn còn đó, tám ông cựu Tổng Thống đắc cử vào năm ứng với con số 0 đàng sau hết bảy ông đều bị thảm sát, duy chỉ có Tổng Thống Reagan là bị thương thoát chết. Hơn một tỷ người Hồi giáo sẳn sàng đổi mạng với ông để thành thánh tử đạo (martyr) theo cột thứ năm Jihad (Holy War) của kinh Koran. Chúng ta nên cầu nguyện cho ông vì ông la người tốt khi ông trả thù ngọt ngào (sweet revenge) cho ông Bush cha khi ông thắng cử Thống Ðốc Texas, hạ bà Ann Richard đã hổn xược ngạo cha ông là đã sanh ra với đôi bottes de saut ở trong miệng. (He was born with a silver boot in his mouth). Ông còn trả lại thuế khi ngân sách Quốc Gia co thặng dư cho dân nghèo nhờ, như xưa kia vừa lên ngôi các vua chúa biết miển thuế đinh thuế điền cho dân ba năm. Ông đã không kỳ thị khi bổ nhậm người Việt Nam vào các chức vụ quan trọng trong Nội các của ông. Còn cái đám "anh hùng" rơm ở Việt Nam, lên ngôi chỉ lo tăng thuế, đánh thuế từ mỗi gốc cây ăn trái trong vườn, ngày xưa còn có nhà thương thí, bây giờ mọi dịch vụ y tế và giáo dục phải trả lệ phí, 51% tổng sản lượng lợi tức từ khai thác dầu hỏa đi đâu?, Sau 27 năm kiến trúc đáng kể nhất đã được thực hiện là cầu bắc Mỹ Thuận lại do vốn của Úc Ðại Lợi nên qua cầu phải nạp tiền mãi lộ (toll). Nước Saudi Arabia nhờ lợi tức dầu hỏa mà dân ở đó được hưởng chế độ Y tế, Giáo dục kể cả bậc đại học miển phí. Tư bản đỏ sanh ra giai cấp mới, nhà giàu mới, cường hào ác bá mới, quan lại mới, tham nhũng mới, con ông cháu cha mới. Một số cán bộ cao cấp ở Việt Nam tham nhũng thành tỷ phú đô la, gữi tiền ở ngân hàng Thụy Sĩ, đầu tư ở ngoại quốc, trong lúc dân vẫn đói, theo thống kê Liên Hiệp Quốc, Việt Nam nghèo đứng hàng thứ tư thế giới dựa vào lương trung bình hàng năm bổ đầu người (per capita income). Chỉ có con đường chạy ngang nhà Phan Văn Khải ở Củ Chi được tráng nhựa trong lúc tất cả các đường khác trong Quận lỵ bùn lầy nước đọng, nhà của Cao Ðăng Chiếm ở Trảng Bàng, hồi trước là căn nhà duy nhất có điện. Các nhà gần đó có đình đám muốn câu vài bóng phải trả tiền. Công An cán bộ lo đi cướp nhà, cướp của, cướp nước, cướp vợ, cướp đất đồng thời đem Ải Nam Quan và đèo Hữu Nghị, thác Bản Dốc, hải phận Trường Sa mà ngày xưa tiền nhân đã có công đổ máu để giữ từng tấc đất, nay đã bị đám Việt gian bán nước đem dâng cho Tàu phù. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ có cảnh hảnh diện khoe vượt chỉ tiêu về việc sản xuất lao động, đi làm mọi cho thiên hạ đánh đập, bạc đải. Trong lúc đó, nước Ấn Ðộ, nghèo với dân số một tỷ người, hảnh diện xứng đáng vì sản xuất toán học gia, chuyên viên điện toán cao cấp, khoa học gia, bác sĩ cho Hoa Kỳ (brain drain). Còn Việt Nam thì có vua Tầy buôn dân, sản xuất đàn bà đi làm vợ ngoại quốc, làm điếm ngoại quốc để dể bề đồng hóa dân Việt. Sao đám "anh hùng rơm" đó không "tận" sớm cho dân nhờ?