Thơ ơi- nhận diện là sao?
THƠ ƠI- nhận diện là sao ?
TC Nguyễn
Ngôn từ thơ đựợc tu chỉnh cho thẩm mỹ bớt đi tính trần trụi của tiếng nói thời thường, mang một nghệ thuật sáng tạo cao độ vi nếu nói như nói chuyện nó quá rõ ràng xác định nói gì hiểu nấy… thì sự gợi ý cần thiết trong thơ không còn, ta lại trở về với văn xuôi.
Vì mang tính gợi ý, nên nhà thơ trở thành nhà tạo sinh, cây cỏ , núi non, sỏi đá… ngay vật dụng, thú vật bao quanh trở thành biến thể bằng mọi hình thức du nhập vào hồn bằng ngã ngách riêng tạo thành một thế giới huyền đồng không phân biệt giao thoa đi về nói năng… và thi sĩ nghe được tiếng nói thằm thì của vạn vật, bằng vào đó mà gởi gấm tâm tư tình cảm của mình…
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
(Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm)
Khi Hoàng Cầm dùng hai chữ nghiêng nghiêng để chỉ bóng dáng của dòng sông Đuống, đã gợi một cõi lòng chao đảo trong nỗi buồn khôn tả của một chiến binh thời tao loạn khi nghĩ về một cuộc kháng chiến trường kỳ mà khi đã buông mình vào cuộc chơi thì mấy ai trở về vì nó đã nghìêng trôi không điểm hặn…, chưa hẳn thế, vì là gợi ý nên ta có thể cảm nhận theo nhiều ngã và tha hồ mà theo chiều sông trôi, để cảm nhận về…
Khi một đứa trẻ vừa chập chững nhận thức được những sự vật chung quanh, có lẽ trong tâm não của chúng vương vướng ý thơ; chẳng hạn thấy đồ chơi quanh mình, vô tri vô giác, đối với chúng như có linh hồn, sự sống, sinh động và trở thành bạn bè không nghi kỵ, lớn lên nếu có kỳ duyên trờ thành thi sĩ thì tính chất trẻ con trong người hắn bộc phát, nhưng không giống như trẻ con vì là người trưởng thành theo thời gian với bao kinh qua kinh nghiệm trong cuộc sống, sẽ tự biến chế thần thoại hóa tri thức trẻ thơ thành mối giao hòa vạn vật bình đẳng trong cái ngây ngô, thành những hình tượng gởi gấm triết lý nhân sinh…và bộc phá thành một kỷ thuật thi ca khắc dấu một quá trình đời người.
Như Hàn Mạc Tử thường chơi với trăng, giỡn vớí trăng, làm như là của mình, muốn bán, muốn cho, muốn tặng thưởng ai hay đòi lại tùy hứng:
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng Trăng!
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Không bán đoàn viên, ước hẹn hò...
Bao giờ đậu trạng vinh qui đã
Anh lại đây tôi thối chữ thơ.
Không, Không, Không! Tôi chẳng bán hòn Trăng.
Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng
Tôi nói thiệt, là anh dại quá:
Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang.
…
(Trăng vàng trăng ngọc- Hàn Mạc Tử)
Muốn nhận diện thơ không thể dễ dàng, càng viết càng thấy thiếu thốn và có tội, khi đưa ra một khuôn sáo trong khi thơ là tạo ra đời sống tinh thần và thể xác cho vạn vật và cho những ý niệm trừu tượng như thời gian, không gian, dĩ vãng, kỷ niệm… Vì vậy mà Cao Bá Quát đã viết: “Phù, thi chi, nan ngôn dã”- ôi, cái chuyên thơ, khó nói thay !
Tính cách trẻ con khởi mào trong thơ bằng những ý tưởng phô bày dẫy đầy trong ngôn từ mang mang ẩn tích một suy tư hay cái nhìn nghiêng chiều qua một hướng khác, chữ dùng được coi như đồ vật thay vì gọi tên bình thường như trăng sao trên trời… thì nhà thơ tiếp xúc với sự vật rồi dùng kỷ năng ẩn tìm mân mê ngôn ngữ trong vùng ánh sáng riêng của mình, để tạo ra một thứ trăng sao khác có tương quan đến cõi tâm linh tạo ra hình ảnh :
Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
(HMT)
hay:
Rặng liễu dìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
(XD)
Trong cùng tận, hình như tạo hóa an bài cho mọi sự vật đều có sự quan hệ với nhau, khi đọc hai ngắt đoạn thơ trên, những rặng liễu, vầng trăng… nó không còn bình thường mà có dáng vóc, có linh hồn- háo hức hay buồn đau- tùy góc độ nhìn của thi nhân. Như vậy chữ nghĩa trong thơ biến thành chất liệu mà nhà thơ dùng để nắn nót, nhào nặn, pha chế, trộn lẫn, tạo ra âm thanh, màu sắc, hình tượng nhập vào hồn rồi được đẩy xô ra đó là thơ…
Vậy trong sâu thẳm nhà thơ đã tạo cho mình một sự cảm nhận khác thường, nhờ vào năng khiếu ẩn tìm tự trong tâm thức thản thốt gieo thơ nhiều khi người tạo thơ trở thành máy móc đưa ra tiếng lòng chồng chất từ tiềm thức và trong khoảng chốc mơ màng nhập hồn vào trong gió, trong trăng tạo ra ảo ảnh bằng những dòng thơ miên man như nhạc đệm đưa xa trong quên lãng, không còn thấy sự hiện hữu thực tại là đâu !?.
Tôi vẫn có hồn tôi trong gió ấy
Vì xưa kia ngồi nghỉ dưới trăng sao
Từng mảnh biếc hồn tôi trăng đã lấy
Gió đem luôn đi tận tháng năm nào
(XD)
Thi sĩ đã nhận diện trong cõi hỗn mang khi mà trời đất còn giao thoa là lúc thi sĩ đã ngồi bên thềm trăng sao cho nên giờ đây hồn trở về nơi xưa bằng thuyền gió nhẹ đưa đến Quảng Hằng có lẽ gặp lại người yêu- Hằng Nga- lạnh lẽo run chờ- có lẽ ?!…, vi ngữ nghĩa, âm điệu mang mang phiếm định, dẫn đưa người thưởng ngoạn rong chơi cùng với nhà thơ qua thể hồn tha hồ mà đi xa, mỗi người tùy theo góc độ nhìn, cộng hưởng với tri thức trải qua mà nghiệm cho từng bối cảnh môi trường tác động ảnh hưởng và tìm ra một niềm riêng cho mình bơi lội có khác nhau trong bể khơi sóng chờn vờn giao động, nhưng cùng chung một cảm nhận về thơ:- là thế ấy !...
Khi một bài thơ hiện hữu, thị giác là cơ quan tiếp nhận, nhờ nó người thưởng ngoạn khai mở lần mò trong im lặng cảm nhận qua tiết điệu, ngữ nghĩa và cái đẹp (thẫm mỹ) của bài thơ nương vào đó đẩy đưa trí tưởng tượng đi vào một thế giới chọn lựa đã được ghi trong ký ức của mỗi người khác nhau tạo ra một tâm ảnh phù hợp với thơ theo toan tính cá biệt, vì trong ký ức có hàng vạn bức tranh được ghi, kinh qua những kinh nghiệm sống từ ấu thơ đến hiện tại giờ có dịp tiếp cận thơ tự bộc phát ngẫu nhiên một cách tình cờ…
Con người do Thượng Đế tạo ra bằng tình yêu mà thơ là cõi lòng được ban phát, là nơi ẩn chứa hỉ, nộ, ái, ố, sầu bi… làm chất liệu cho thơ nhào lộn phô bày, thi sĩ Vũ Hoàng Chương khi bị mất người yêu đ ã phản ứng m ột cách nghiệt ngã :
Kiều Thu, hề, Tố em ơi
Ta dong lửa đốt tơi bời Mái Tây
(VHC)
Chỉ hai câu thơ gây cho ta đầy ấn tượng và rung động khi nghe hai chữ em ơi não nuột khi hạ liên dòng Ta dong… tơi bời…, cho thấy một sự đau khổ cùng tận không kìm giữ được hành động nên phải đốt tơi bời Mái Tây, thế là hết, là chung cuộc không còn sót lại một mảy may nào cho cuộc tình !...
Sự đam mê trong tình yêu nó có tính cách chủ quan, tuy nhiên nó vẫn có cái chung đó là khi đọc được bài thơ trong đó có đôi câu xuất thần cũng làm cho mọi người ngẩn ngơ xúc động, vì khi chúng ta dùng chung một ngôn ngữ đã được chau chuốt thi cái đẹp óng ả của thơ nó sẽ vang đậm ghi dấu và gợi ý thì dầu cò cảm nhận khác nhau nhưng sự rung động về một nỗi niềm vẫn là chung.
Khi ta ráng tìm kiếm trong thơ một ý nghĩa thì nó không còn ý nghĩa gì cả, vì thơ là san sẻ cõi lòng, mọi sự vật bình thường trong thơ phải vượt qua những thử thách tạo mới, bỗng chốc biến thể qua trí tưởng yên nghỉ trong tâm cảnh vẽ vời làm sự vật trở thành xa lạ với chính nó, rồi tự nối kết, hoán chuyển từ vị trí nầy sang vị trí kia, cho nên khó thể nhận diện nếu không có sự thức tỉnh từ bên trong do sự tưởng tượng kéo dài khi chiêm nghiệm các dòng thơ, người thưởng ngoạn tự mình liên quan đến những sự việc đã trải qua trong cuộc sống của chính mình để san sẻ ngược lại với nhà thơ về những điều chợt thấy được.
Mỗi chữ trong thơ đều mang một linh hồn cá biệt và từ đó thi sĩ cấy vào hình ảnh lung linh trong ngữ nghĩa tạo ra những mảnh hồn nhảy múa xung quanh mình :
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu, bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.
(Mắt buồn - Bùi Giáng)
Chỉ gẫy gọn sáu câu thơ, xô đẩy ta vào một chân trời thật lạ lẫm, những hình tượng đẹp xấu trong cõi ta bà đều bỏ hết và sau đó là sư cô đơn cùng tận để rồi phải đối diên với chính mình chỉ còn một con mắt (cho riêng mình) vì con mắt kia dành để khóc cho người, và rồi cũng có thể nẩy sinh ra ý khác ngược lại, thi sĩ là người kiêu ngạo coi như trong đời những cái người ta cho là cao qúy hay hèn mạt, bất cần đều là đồ bỏ, còn lại hai con mắt, một con rọi vào lòng mình để mà tự hãnh diện cho mình là cao cả trên hết ?!..., còn con mắt kia thì dùng để khóc nhạo báng tha nhân sao quá đỗi ngu si ?!...
Đi tìm ra chân tướng trong thơ khó thật, vì thơ mang tính cách nhất thể hòa nhập vào vũ trụ trong cái đại ngã vô cùng tận, trong khi con người luôn mang tính nhị nguyên, vì sự phân chia nầy, thi sĩ cùng với người thưởng ngoạn bị giới hạn trong cái tiểu ngã nhỏ nhoi để tìm kiếm vóc dáng nường thơ trang trải thì thật là chuyện “mò kim đáy biển” vậy !...