Bùi Thụy Đào Nguyên
[ Thi Hữu | Nhắn Tin]


Thiền sư , thi sĩ Huyền Quang ( phần 2)

       Góp một số suy nghĩ về thiền sư , thi sĩ Huyền Quang ( phần 2)

                               ***

 

.Tư tưởng & tâm trạng của Huyền Quang (HQ) :

 

Thật lòng khi viết phần này , tôi băn khoăn rất lâu. Bởi trước tác của ông còn lưu lại quá ít (1) , bởi không ít ý kiến cho rằng HQ là người:Tâm không còn phân biệt Ma- Phật , Mê-Ngộ , Thị phi vv…Nghĩa là lòng đã an tịnh , đã có cái nhìn “vong nhị kiến”…

 

Nhận xét như thế không phải không có lý , bởi HQ đã từng bộc lộ qua bài :

 

Chùa Diên Hựu

 

….Thành ngăn tục luỵ trần không vướng

Cửa mở vô ưu mắt rộng tầm

Thấy được thị phi cùng một tướng

Ma cung , Phật quốc cũng ngồi chung

(Nguyễn Lang dịch )

 

Và từ câu chuyện HQ thăm bệnh Pháp Loa (PL):

 

“Ngày 3/3/1330 , PL lại phát bệnh nặng . Nửa  đêm trở lại thăm thầy , HQ nói: - Xưa nay các bậc đạt ngộ khi giờ phút đến , muốn ở lại thì ở , muốn đi cứ ra đi …( cờ gì cứ trăn trở khi viên tịch ?)

PL nói : -Đi hay ở cũng đều không can hệ gì tớ ai .

HQ :- Vậy thì sao ?

PL : - Thì …tuỳ xứ tát-bà –ha !(2)

Câu trả lời làm HQ hả dạ …” vv…

 

Nhưng theo tôi , những tư tưởng nêu trên chỉ cho thấy được một khía cạnh HQ : có học thức và am tường kinh sách . Vì những lời lẽ ấy chỉ là những yếu lý cơ bản của triết học thiền tông mà tu sĩ thường thuộc nằm lòng  ; chỉ là xu hướng chung của dòng thơ thiền thời Lý Trần ; mà cụ thể là ở những người đi trước như Tuệ Trung , Trần Thái Tông , Trần Nhân Tông …Thí dụ :

 

Thân từ vô tướng vốn là không

Huyễn hoá phân ra thành nhị kiến

Không tâm , không thị cũng không phi

Không kiến , chẳng tà cũng chẳng chánh …

(Tuệ Trung )

 

Sinh già bệnh chết

Là lẽ đương nhiên

Muốn khỏi bốn bệnh

Bỏ hết tham luyến …

(trích Khoá hư lục –Trần Thái Tông )

 

Có có không không

Nhìn trái nhìn phải

Tra tra xét xét ,

Phố chợ ồn ào…

Có có không không

Đau buồn thương xót

Cắt đứt sắn  bìm  ,

Đó đây khoái hoạt …

(Hữu cú hữu vô – Trần Nhân Tông ) vv…

 

Trở lại vấn đề HQ , như tôi đã nói, thơ của ông còn lưu lại quá ít cộng thêm ý tứ tinh tế , thầm kín ( thơ thiền thường khó lý giải rốt ráo .)Và trừ một vài bài ta định được mốc thời gian ông viết , số nhiều còn lại thì không . Thôi thì, tôi tạm dựa vào cái biết được  để so sánh , với lòng mong mỏi được góp chút gì về ông chăng ? …

 

Nhìn lại , suốt những năm tháng của tuổi trẻ , HQ phải sống cảnh nghèo khó , thường bị miệt khinh . Đến khi đỗ đạt( Trạng nguyên thứ 6 /47 vị của nước ta ) rồi ra làm quan ,chắc gì nơi quan trường nhiều bon chen danh lợi đó , không làm cho trái tim ông ít nhiều vết xướt . Mặt khác , biết đâu nhờ “con đường mới”(Phật giáo ) , HQ có thể lý giải những gì trăn trở , day dứt …nơi lòng mà ông đã không thể tìm được ở Nho giáo . Có lẽ vì thế khi tuổi đã 51 , ông từ quan để tìm đến cửa thiền với tâm trạng khá hăm hở . Xin trích một đoạn bài phú nôm ông làm khi mới lên chùa Hoa Yên :

 

Buông niềm trần tục

Náu tới Hoa Yên

Chim thuỵ dõi tiếng ca chim thuỵ

Gió tiên đưa đòi bước thần tiên

Bầu đủng đỉnh giang hoà thế giới

Giày thong thả dạo khắp sơn xuyên …

Niết được tính ta nên Bụt thật

Ngại chi non nước cảnh đường xa

(Phú vịnh chùa Hoa yên – Nguyễn Lang  dịch )

 

 

Đề Đạm Thủy tự

(Đề chùa Đạm Thủy)

 

Bên đình Đạm Thủy nhiều cỏ nội

Núi quang , mây tạnh ,bóng xế tà

Nhân qua con đường vua đi mà vào thiền thất

Giúp nhà chùa đánh chuông và nhặt hoa rơi

 

Đề  động hiên đàn việt giả sơn

(Đề núi non bộ của người đàn việt )

 

Hoa cây vấn vít nhau trên bộ

Khói lồng trăng , hoa dầm sương lạnh

Từ đây sự lo nghĩ sẽ thanh tao hết trần tục

Do tìm được chỗ gió mát trong sạch gối đầu nghỉ yên

(Nguyễn Đăng Thục dịch )

 

Vâng . “Giúp nhà chù đánh chuông & nhặt hoa rơi”, “Tìm được chỗ trong sạch để nghĩ yên”. Những việc làm ấy thật đẹp, thật giản dị. Và có lẽ chính từ tâm trạng vui thích do không còn bị trói buộc  , được sống thật với chính mình ; HQ đã có cái nhìn rất thiền , rất thi sĩ đối với thiên nhiên , tạo vật :

 

Tảo Thu (Thu sớm )

 

Hơi mát thâu đêm lọt tới mành

Cây sân xào xạc báo thu thanh

Bên lều quên bẵng hương vừa tắt ,

Lưới bủa vầng trăng mấy khóm cành

(Nguyễn Đổng Chi dịch )

 

Hay là :

 

Chu Trung (Đi thuyền )

 

Mênh nông theo gió con thuyền nhỏ

Thu sáng ngời xanh bóng nước , cây

Tiếng sáo thôn chài, lau lách vọng

Trăng lặn lòng sông , móc trăng đầy

Và :

Ngọ thụy ( Ngủ trưa)

 

Mưa tạnh , khe núi tĩnh

Ngủ mát dưới rừng phong

Nhìn lại cõi nhân thế

Mắt mở vẫn say nồng

(Nguyễn Bang dịch )

 

Bên trong con người yêu mến thiên nhiên , khao khát thanh tịnh ấy , vẫn không sao che giấu được một trái tim giàu cảm xúc, nặng tình người :

Ai phù lỗ

(Thương tên giặc bị bắt )

Lấy máu đề thư , muốn gửi nhau

Cô đơn chiếc nhạn vút mây sầu

Bao nhà ngóng nguyệt đêm nay nhỉ ,

Hai chốn cách vời một nỗi đau

 

(Lịch sử PGVN, Viện triết học )

 

Có lẽ vì vậy trái tim ông rất dễ tổn thương khi bị người đơm đặt, gièm pha ( chuyện nàng Bích là một ví dụ ) :

Cúc hoa (bài 2)

 

Ruột héo mong gì nước rửa tươi

Vịnh mai trăm mục cũng nhường thôi

Buồn thu , già yếu còn ngâm hão

Vì cúc , tình thơ luống rối bời…

 

Do muộn phiền quá đỗi bởi những gì đa đoan cứ bám đuổi ,dù ông đã vào chốn thiền môn , cộng thêm ước muốn được tĩnh lặng thường thấy ở tuổi già . Từ Hoa Yên ông lui về Thanh Mai rồi Tư Phúc ở Côn Sơn hẻo lánh , để thổn thức với trời cao và vui buồn cùng  mai, cúc :

 

Mai hoa (Hoa mai )

 

Muốn hỏi trời xanh : Hoa tự đâu

Một mình gội tuyết chốn non sâu

Bẻ về , không để chưng vừa mắt ,

Chỉ mượn xuân này đỡ lão đau …

 

(Cảm nhận đạo Phật . Phạm Kế)

Cúc Hoa (bài 5)

Người ở trên lầu , hoa dưới sân

Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông

Hồn nhiên người với hoa vô biệt ,

Một đoá hoa vừa mới nở tung

( nguyễn Lang  dịch)

 

Năm 1330 , Pháp Loa mất .Ở tuổi 77 , ông phải đến nhận danh vị Tổ kế nghiệp . Tự biết sức mình khó đảm đương trọng trách lớn ; ông giao việc  điều hành giáo hội cho Quốc sư An Tâm , rồi một mình quày quả rời nơi đô hội về lại Côn Sơn , làm nhà ẩn cư cho đến hết đời …HQ thổ lộ :

 

Thạch thất (Nhà đá)

 

Nửa gian nhà đá , bạn cùng mây

Tấm áo lông thô , lạnh tháng ngày

Sư khểnh giường thiền , kinh trước án

Lò tàn , than lụi , sáng nào hay

(Huệ Chi dịch )

 Và:

 

Nhân sự đề Cứu Lan tự

(Nhân có việc , đề ở chùa Cứu Lan )

 

Đức bạc thẹn mình nối tổ đăng

Học theo Hàn , Thập dứt đa đoan

Hãy đi với bạn về non vắng ,

Rừng núi bao la mấy vạn từng

 

-Hàn Sơn & Thập Đắc là 2 cao tăng ẩn sĩ đời Đường

(Lược sử PGVN-T.T Thích Minh Tuệ )

 

Nói là “ học dứt đa đoan” hay cũng như bài thơ dưới đây , HQ nói “quên tất cả” :

 

Cúc hoa (bài 3)

 

Quên thân , quên thế , thảy đều quên

Thiền tọa ngồi lâu lạnh thắm giường

Trong núi năm tàn không có lịch

Thấy hoa cúc nở biết Trùng dương

 

 Ta vẫn thấy ở ông một thân phận bị xô đẩy , bị sắp đặt nhầm chổ :

 

 

Cúc hoa (bài 4)

 

Thu về , móc nhẹ , cúc đơm bông

Gió mát trăng thanh dịu nỗi lòng

Vẻ đẹp tinh khôi người chẳng hiểu

Bẻ về cài tóc , đáng cười không ?

(Băng Thanh dịch )

 

Vâng.Việc đời hay chuyện lòng , đâu phải lúc nào chúng  cũng thuận theo ý muốn  ; dẫu ông là  Trạng nguyên hay  vị Tổ , cũng vậy thôi . Vì lẽ đó , đọc thơ HQ ta nên chia sẻ cái khao khát , hụt hẫng  rồi ngậm ngùi …của một đời thường luôn mong muốn sống tốt đẹp cho đạo và cho mình ; hơn là vịn vào vai trò , cách hành xử không thể không làm , rồi nhạo báng hay trách cứ ông …

 

Trước khi tạm kết bài , xin mời đọc thêm :

 

Địa lô tức sự

(Trước bếp lò tức cảnh )

 

Củi hết lò còn vương khói nhẹ

Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh

Tay cầm dùi mõ , tay nâng sáo

Thiên hạ cười ta cứ mặc tình …

 ( Nguyễn Lang  dịch  )

 

 Và:

 

Thôi đã theo thiền lòng lặng tắt

Nỉ non tiếng dế vẫn vì ai ?…

(Sơn vũ. Huệ Chi dịch )

 

 .     Theo tôi , Chỉ ngần ấy câu cũng đủ nói lên quan niệm sống của ông . Đó tâm trạng của một người luôn mong muốn được sống hồn nhiên , hòa mình cùng tạo vật .Của một con người muốn thay đổi số phận nhưng lại gặp một số phận khác cũng  không kém não nề..Có thể vì vậy phần lớn thơ ông , ta dễ dàng bắt gặp nỗi khát khao, sầu tư thầm kín . Càng lạ hơn là ta chỉ thấy cái “tinh tế , phóng khoáng”của một Lão Trang mà không hề thấy cái triết lý khá rối rắm ,mơ hồ của nhà Phật mà ông đang là người đứng đầu. Càng không thấy cái thôi thúc muốn bỏ hết tham luyến  , muốn “chặt hết sắn bìm” để dứt niệm , kiến tánh , thành Phật vv...như các thiền sư khác cùng tác phẩm của họ vào thời Lý Trần …

 

Và không hiểu sao từ câu “ củi hết lò còn vương khói nhẹ…”, khiến tôi chạnh nhớ lại câu thơ đã dẫn ở phần I : “Phòng tiêu thưở trước từng khoe đẹp .Chùa núi sau này tựa cảnh không ” mà thương ông , thương cả nàng Bích , bởi vì đâu ?…rồi bất giác bồi hồi …

 

 

Bùi Thụy Đào Nguyên  (long xuyên )

 

Chú th ích :

 

(1).  Tác phẩm của HQ gồm : Chư phẩm kinh , Công văn tập , Phổ tuệ ngữ lục và tập thơ Ngọc liên tập .Nhưng tất cả đều không còn . Hiện nay chỉ còn 23 bài thơ chữ Hán & 1 bài phú nôm vịnh chùa Hoa yên (Yên Tử), được ghi trong Việt Âm thi tập , Trích Diễm thi tập .Tuy Ông là nhà sư , nhưng cũng là người được Lê Qúi Đôn & Phan Huy Chú khen là “ Ý tinh tế cao siêu”, “Lời bay bướm phóng khoáng.”

(2).  “Tuỳ xứ tát- bà- ha” : 2 từ đầu xin tạm hiểu là tuỳ duyên đi đến nơi nào đó; tát –bà-ha : phiên âm từ tiếng Phạn , nó thường đặt ở câu cuối niệm và có nghĩa khéo nói như thế

 

Vài lời với người đọc : Do khuôn khổ bài viết , nên tôi không thể trích dẫn cả phần thơ chữ Hán (Xin xem nơi trang Web http://annoymous.online.fr/Thivien/). Và vì người viết sinh sống ở tỉnh nên thiếu thầy, thiếu sách tra cứu . Vì vậy , nội dung bài soạn có gì chưa đúng hoặc sai trái , mong người đọc lượng thứ , góp ý ..để tôi được học hỏi thêm .Trân trọng .BTĐN

 

 

 

 



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả