Biên Hùng Liệt Sử
Biên Hùng Liệt Sử
Lời tựa:
Viết về một đề tài có màu sắc địa phương chắc chắn không ít thì nhiều cũng không tránh khỏi những nhận định chủ quan nhứt là cái mà người ta thường gọi là "óc địa phương."
Vì thế tác giả đã ráng viết cuốn sách nầy với tinh thần khách quan được chừng nào hay chừng ấy.
Nếu gọi quyển nầy là sách biên khảo hay lịch sử đều được vì phần đầu đã phần lớn dựa vào bộ Biên Hòa Sử Lược Toàn Biên của sử gia Lương Văn Lựu gồm Lịch sử, Ðịa Lý và Phong Thủy.
Phần sau, tác giả đã cập nhật hóa phần nhơn sự với sử liệu mà chỉ có nội bộ (insider) mới biết, thêm phần những kỷ niệm rời phản ảnh trung thực những gì tác giả đã thực sự làm nhơn chứng được xử dụng làm tư liệu không tìm thấy trong các sử sách.
Vì lý do nêu trên, nếu có thiếu sót và sơ xuất không thể tránh khỏi, thì điều đó ngoài ý muốn của tác giả. Phần còn lại tác giả xin để dành cho các biên khảo gia giàu kiến thức hơn bổ túc.
Tác giả đã cố tình thêm phần các đặc sản Biên Hòa để những ai đã làm việc hay đồn trú tại Biên Hòa ít nhiều đã gặp lại nhiều địa danh quen thuộc gây nhớ những kỷ niệm êm đềm của một thời đã qua.
Tác giả đã gắn bó với đất Biên Hùng từ thuở thiếu thời tới lúc phải rời bỏ nơi chốn chôn nhau cắt rún một cách tức tưởi, trừ những năm du học và đi làm việc xa nhà.
Riêng tác giả đã có dịp đồn trú tại quận Xuân Lộc (sau thành tỉnh Long Khánh), quận Long Thành, quận Công Thanh và quận Di~ An cộng thêm thời gian Ðại tá Tỉnh trưởng Lâm Quang Chính biệt phái ngoài bảng cấp số để đi theo phái đoàn ngủ lại các ấp theo chương trình "thăm dân cho biết sự tình" cùng các sĩ quan trưởng phòng Tiểu khu như Thiếu tá Thành, Thiếu tá Tấn, Thiếu tá Châu, Ðại uý Khuê, Ðại úy Cư và ban văn nghệ Tâm lý chiến.
Học hỏi về tỉnh nhà phong phú thêm khi Y sĩ Ðại tá Lương Khánh Chí, Bác sĩ của cố đại tướng Ðỗ Cao Trí, chỉ huy trưởng Liên Ðoàn 73 Quân Y cử tôi đi thanh tra về kỹ thuật với ba cố vấn Quân Y Mỹ bằng trực thăng hàng tuần, thăm các Quân Y Viện Tây Ninh; Quân Y Viện Nguyễn Văn Nhứt, Vũng Tàu; QYV Trần Ngọc Minh, Sài Gòn; Trung Tâm Hồi Lực Vũng Tàu; tải thương tại Bịnh Viện IV Dã chiến ở Bình Dương lúc chiến tranh đang dữ dội nhất, tàn khốc nhất, và các bịnh viện Tiểu khu phối hợp Quân Dân Y trong 13 tỉnh vùng III Chiến thuật để có dịp so sánh tinh hoa của từng địa phương.
Có nhận diện quê hương, tìm hiểu quê hương tường tận mới yêu quê hương nhiều hơn. Tôi đã để lại dấu chân cùng khắp quê nội và quê ngoại ở Tân Uyên nên muốn viết về quê hương với đầy đủ cảm quan trìu mến.
Cánh bên nội tiếp cận thì có Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, Kiến Trúc Sư Nguyễn Văn Nguyện, Giám đốc Nha Mỹ thuật Học Vụ, Giáo Sư tiến sĩ đệ tam cấp Liêng Khắc Văn, Ðại học Sydney, U¨c châu; Ðại tá Tống Ðình Bắc, Giám đốc Cảnh sát Ðặc Biệt Miền Ðông, Y sĩ Ðại tá Trần Nguơn Phiêu, Cục phó Cục Quân Y và Tổng Trưởng Xã Hội, Kỹ sư Ðỗ hữu Cảnh, Phó Giám đốc Nha Khoáng chất, chú Tư Trần Doãn Chấp, lục sự Tòa Án...
Cánh bên ngoại, má tôi là cô giáo Nguyễn Thị Mỹ, em má tôi là dì Út Ðạn, cũng cô giáo Tân Triều, Giáo sư Dương Ngọc Sum, Pétrus Ký, Giáo Sư Phan Công Minh, Giám đốc Nha Trung Tiểu học, Phan Công Tâm, Giám đốc Nha Tình Báo Nội Vụ, Trung tá Ngô Văn Thương, Quân Cụ; Bác sĩ Nguyễn Phú Cường, cậu Ba Phạm Văn Vang và cậu Tám Mai Văn Hạo (người đỗ ba bằng một lượt) là hai người vào bưng thời Việt Minh chống Pháp, cậu Ba Vang nhờ Pháp bắt bỏ tù nên sống sót, còn cậu Tám Hạo bị Lê Duẩn ám hại rồi đổ thừa Pháp giết vì từ chối không vô đảng Cộng Sản; cô Trương Tố Quyên, trước là Hộ sinh quốc Gia của Bịnh Viện Biên Hòa...
Ngoài ra trong tập sách nhỏ đầy ấp ân tình này, rải rác tôi có nhắc đến đại gia đình Biên Hòa, những người tôi đã từng học chung, đã được quen biết và những người tôi còn nhớ tên do một liên hệ nào đó, nhưng tôi tránh không nhắc tới vài người không đáng xếp vào loại liệt oanh như đề tựa thượng dẫn.
Viết về vùng đất quê hương có rất nhiều kỳ thú, được ôn lại những kỷ niệm ấu thơ tưởng chừng như đã quên. Các ký ức thân thương đi lạc có dịp tuôn về như thác đổ, những hồi ức đó như dòng sông Ðồng Nai trong xanh, lững lờ thốt lên thành lời thơ, khiến tôi một đời bâng khuâng, tiếc nuối đã không làm gì tốt đẹp cho quê hương, nạn nhân của bom đạn (vùng oanh kích tự do) và thuốc hóa học khai hoang (chemical defoliation) độc hại Orange Agent đã phá hại hoa màu và con người xứ bưởi..
Nếu có độc giả nào cho là tôi có óc địa phương thì tôi đành chấp nhận. Cũng như các tác giả khác khi đề cập đến quê cha đất tổ, nơi chôn nhau cắt rún của họ, chắc họ cũng làm y như vậy.
Tôi cũng xin lưu ý quý độc giả là phần trên Ðịa Lý Phong Thủy (feng shui, géomancy) và phần Ðịa lý (géography) ở cuối bài trong mục đặc sản là hai chữ có nghĩa hoàn toàn khác nhau.
Tôi đã viết theo phương pháp luận (méthodology) của sử học, mục đích trước tiên là để lưu niệm cho con dân tỉnh Biên Hòa còn nhớ nguồn gốc, hai là để giúp các biên khảo gia cần sử liệu, vì thế, để tôn trọng sự thật, tôi đã phản ảnh trung thực một số vấn đề không nên nói ra, điều quan trọng là tôi đã không bẻ cong ngòi bút dưới một áp lực nào. Và tôi xin gánh chịu mọi trách nhiệm và hậu quả những bí ẩn tôi đã đóng góp, tôi sẵn sàng làm nhơn chứng và sẵn sàng đối chất trước lịch sử.
Với lòng yêu quê hương vô bờ bến. Tôi xin ghi lại cái có thể gọi là phiến diện của một con dân tỉnh nhà Biên Hòa để cống hiến cho lịch sử và quê hương. (TTV)
BIÊN HÙNG LIỆT SỬ.
"Viết về một vùng đất quê hương mà chúng ta hưởng nhiều ân sủng cũng đã là yêu nước rồi ".
Câu nói trên của bạn bè đã khích lệ tôi rất nhiều để viết quyển sách nhỏ nầy.
Ðể tránh hiểu lầm từ mọi phía, tôi kính xin các bậc thức giả bổ túc, sửa sai hoặc đính chánh cho bài viết được đầy đủ và đúng với sự thật hơn, chỉ có trong tinh thần sĩ phu đó, người viết sử sẽ an tâm khi đụng đến một đề tài bén nhậy này của lịch sử.
Chúng ta đã nghe nhắc tới quận Triệu Phong, Quảng trị, là đất "Ðịa linh sanh nhân kiệt", có làng Ðại hào với Hoàng Xuân Tửu, Hoàng Xuân Lãm, Lê Duẫn, Bồ Liêu với Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết, Duy Khánh v. v..., cuộc đất "Ngũ Phụng Tề Phi" ở Quảng nam với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Cao Vân... (Ngũ phụng tề phi theo sách Khoa Cử Việt Nam của Ðỗ Bằng Ðoàn và Ðỗ Trọng Huề thì gốc từ vua Thành Thái ban cho danh hiệu năm vị học sĩ Ðất Quảng Nam: Phạm Liệu, Ðiện Bàn; Phan Quang, Quế Sơn; Phạm Tuấn, Ðiện Bàn; Ngô Chuân, Ðiện Bàn; Dương Hiển Tiến, Ðiện Bàn. Cả năm ông đều đỗ Tiến Sĩ - Phó Bảng một khoa (1898))...và cuộc đất có hàm rồng ở Hà Tiên với Mạc Cữu v. v... thì hôm nay, tôi xin lạm bàn đến cuộc đất Tứ Linh "Long Lân Qui Phụng" vói chút lịch sử, địa lý phong thủy (feng shui, géomancy) và nhơn sự đã khiến tôi chú ý.
A- Một chút lịch sử:
Ðại nguyên soái Nguyễn-Phúc-Ánh lên ngôi vương nhưng vẫn lấy niên hiệu nhà Lê (đời Cảnh Hưng), dùng ấn "Ðại Việt Quốc Nguyễn chúa Vĩnh Trấn" chế từ năm 1691 do chúa Hiến Tông Nguyễn Phước Châu. Tháng 11 năm Kỷ Hợi, Nguyễn Vương phân định cương giữa hai dinh Phiên trấn và Trấn biên thuộc Gia định thành, Vương đặt cho hiệu danh Biên Hòa, với ý nghĩ một doanh trấn ở biên cương trước bị loạn lạc, nay được bình định và hưởng an lạc thái hòa.
Trấn Biên Hòa có một huyện Phước Long gồm bốn Tổng: Tân chính, Bình an, Long thành, và Phước an.
Nguyễn Vương ra lệnh cho quan Lưu trấn chiêu tập nhóm dân phiêu bạt, quan binh của Tây Sơn còn trốn tránh, cho về trình diện và ghi vào hộ tịch, và cấp đất đai cho cày bừa để vỡ ruộng làm mùa tại các xã thôn, từ năm Kỷ Dậu (1789), Vương bổ nhậm quan Ðiền tuấn Trịnh Hoài Ðức mộ dân, cấp cho ruộng hoang, khuyên bảo hãy gắng sức làm ruộng, người nào không theo nghề nông, thì đi lính để thay cho phủ binh.
Thuyền buôn của người Trung quốc, các nước Ðông và Tây dương đến buôn bán tại Nông Nại Ðại Phố (nay là Cù lao Phố). Theo Hứa Hoành, là một trong bốn thương cảng tấp nập và phồn thịnh nhất thời bấy giờ.
Nguyễn Vương Phúc Ánh lên ngôi xưng đế hiệu là Gia Long, đặt quốc hiệu là Việt Nam.
Lúc bấy gìờ, Biên dinh vẫn còn là một trấn, nhưng được mang danh hiệu là Biên Hòa thống thuộc Gia định thành, được xem là hệ trọng nhất. Vì là phần đất màu mỡ mới thu phục của Thủy Chân Lạp nên triều đình rất chăm lo, đặt để đầy đủ các quan chức để an dân hưng quốc.
Từ đầu bổn triều được đặt tại thôn Phước Lư (cầu Rạch cát) đến năm 1815, được dời về thôn Tân Lân (khu chợ Bình Trước hiện nay) để mở rộng châu vi thị trấn.
Biên Hòa ngoài việc nổi danh "xứ bưởi" (được giải thưởng hội chợ Osaka, Nhật bản) còn được gọi là miền đất dưới đâm hà bá, trên phá sơn lâm (khai thác cát, đá, gỗ, và đất sét để làm gạch, đồ gốm mỹ nghệ còn là thắng cảnh núi, thác và suối, gần Sàigòn có nhiềøu du khách. Một tỉnh vừa giàu có về lâm sản lẫn thủy sản, hải sản (quận Nhơn trạch).
Dinh Chánh tham biện (Tỉnh trưởng), nguyên là một nhà nhỏ, cất hồi năm 1902, sau được cơi lầu, chỉnh trang năm 1922, thời tỉnh trưởng A.G. Sartor.
Ðến tỉnh trưởng Nguyễn Hữu Hậu (1950), ao sen và lục bình ở bờ sông được lấp để phóng nối dài con đường Trần Thượng Xuyên (mang tên Quai de Lanoue từ năm 1896), để mở cổng vào dinh do ngả mặt tiền. Cầu mát ở trước dinh tỉnh trưởng gọi là Cầu quan, chỉ dành cho các quan lớn, ngày lễ ra xem các cuộc vui tổ chức trên sông như chưng thủy lục (ghe hoa đăng), đua thuyền, đua bơi lội , thả vịt v.v...
Vị tỉnh trưỏng đầu tiên Việt Nam là ông Nguyễn văn Quí, Ðốc phủ sứ (nhà văn Thân Văn) được quân đội Nhật bổ nhậm vào trung tuần tháng ba năm 1945, dinh này mãi về sau nhường lại cho tướng tư lệnh Quân khu III. Tỉnh học Biên Hòa dưới thời Gia Long được đặt tại thôn Tân Lại (Xã Tân thành). Ðến đời Minh Mạng, dời về thôn Bang Lân (Bình Trúc) quản đốc hai phủ học Phước Long và Phước Tuy.
Sau trận bão lụt năm Thìn (1905), học đường Chasseloup Laubat bị ảnh hưởng nặng, nên dời lớp đến trạm để tiếp tục học tại Biên Hòa, tạm trong một trại lá cất ở phía đông. Sau đó được kiến trúc lại để làm trường Nguyễn Du hiện nay.
Tôi xin ghi lại đây coi là để nhớ ơn thầy: ba ông đồ cuối cùng dạy chữ Nho cho học trò lớp Tiếp Liên đã xong lớp nhứt, là ông thầy Trần Minh Ðức, con là ông Trần Văn Giáo, kế đó là ông Ðốc Vĩnh. Phải kể thêm ông Ðốc Tam, ông Ðốc Nga, đặc biệt thầy Tiếng mà bảy anh em tôi cùng lên học lớp nhất với ông, bên cạnh các thầy năm Hải, thầy Chinh, thầy An, cô Lựu, cô Hữu, thầy Soái, thầy Thi, thầy Thời, thầy Tư, thầy Bổ, thầy Khỏe, thầy Ngói đã góp công gầy dựng anh em chúng tôi nên người, tôi cũng không quên tri ân cô mụ Ký là nhơn chứng đứng tên trong khai sanh tất cả anh em chúng tôi...
Hồi đó, học sinh còn phải học làm vườn buổi chiều, có lẽû nhờ đó mà bây giờ chúng tôi ai cũng thích làm vườn và không ai quên hai cây sa kê (breadfruit) sau trường chỗ trường Tây gốc được quét vôi trắng.
Biên Hòa là một tỉnh lớn, trải dài từ Bù đăng Saray, Ba Biên Giới (Việt Miên Lào). Sau 1954, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm phân hạt hành chánh lại; miệt Lộc Ninh, Ðất Ðỏ, An Lộc thành tỉnh Bình Long. Bù Ðốp, Bà Rá, Sông Bé thành tỉnh Phước Long. Xuân Lộc, Ðịnh Quán thành tỉnh Long Khánh, có con đường đồn điền cao su Suzannah, chạy qua Bình Ba, Bình Giả, Phước Lễ. Các làng di cư Gia Kiệm, Bùi Chu, Phát Diệm; Quận Ðức Tu thì có Hố Nai, Tân Mai I, Tân Mai II, Phúc Hải, Quận Công Thanh dọc bờ Sông Ðồng Nai lên đến thác Trị An, Ðồng Nai Thượng, cũng có làng di cư; Quận Dĩ An có con đường qua Thủ Dầu Một, chạy ngang làng Tân Khánh nổi tiếng võ thuật, đàn bà dám đánh lại cọp, có hồ tắm suối thiên nhiên Lồ O, rất đông du khách, có trại nuôi heo Phát Ngân và nhà máy giấy. Quận Nhơn Trạch có kho đạn Thành Tuy Hạ chạy tới cửa sông Sàigòn, miệt Phú Hội có suối mát nổi tiếng con gái trắng và đẹp, đối diện Cần Giờ. Ba Biên Giới thì lọt vô tỉnh Ban Mê Thuột.
B- Một chút địa lý phong thủy: (feng shui, géomancy)
Việt Nam xưa đã từng gián tiếp chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, dân tộc ta tin tưởng vào phong thủy địa lý, mà xét đoán sự thạnh suy của đời sống gia đình, của sinh hoạt xã hội trong cộng đồng quốc gia.
Miền Ðồng Nai, Biên trấn được phước quả nằm trong một thế đất (thuộc khu vực ảnh hưởng của sao Dực và sao Chẩn, vị thứ sao Thuần vĩ, chiếu dương), là nơi tụ khí tàng phong, có khí hòa gió thuận).
Các nhà phong thủy thâm nho, các sử gia thường gọi xứ Biên Hùng là vùng đất linh; nhờ địa linh, mới sanh xuất nhiều bậc hiền tài, nhơn kiệt, được lưu danh trong quốc sử.
Ngoài đất địa linh vì khí thế oai hùng, nay nghiên cứu lại địa thế Biên-Hòa theo sử sách góp nhặt và nhận xét cá nhân, đất thiêng Ðồng Nai có phần lớn ẩn hình: Long, Lân, Qui, Phụng.
Bốn thú nầy được thần thoại Trung Quốc liệt vào bộ Tứ Linh, vì có những siêu tính xuất chúng: Theo sử gia Lương Văn Lựu thì đệ nhứt linh là:
a) Long, tức là con sông lớn uốn khúc chảy từ bắc xuống nam, rưới nguồn tươi mát lên đất Biên hùng, giống hình con long ẩn thủy. Dưới thời các chúa Nguyễn, có danh xưng là Phướùc long giang (về sau kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh di dân từ Quảng Bình vào lập cư, đặt là sông Ðồng Nai).
Ðúng là con sông rồng đem phước quả vào lãnh địa Biên Hòa.
Nơi bờ sông Long sơn, Long đại, Cù lao Cái Giắt (kinh châu Phước long thôn) xưa, có đền thờ Long vương Tam lang, rất linh ứng, được giới thương hồ tôn kính, khi thuyền qua, đều ghé cúng bái cầu an.
Tác giả Bình Nguyên Lộc trong tác phẩm Câu dầm có kể một ngư phủ ỏ Tân Uyên câu được con cá lạ là con của Long vương, ngư ông đem thả nên sau được đền ơn mời xuống Long điện làm thượng khách của Long Vương.
Hai ngọn núi Long ẩn (lấy đá) và Bình Ðiện (có ngôi Bửu phong cổ tự) tại xã Bửu long (Ðức Tu) kết hợp cùng các gò nổng uốn quanh, lồi lên lõm xuống, chạy qua các xã Tân Ba, An Thành, Tân Hiệp, Bình Trị, Hoá An, Võ Sa và ngọn núi Chiêu Thái (Châu Thới, có giả thuyết cho Châu Thới là trái châu ?), vì có Long mạch nên thầy địa lý Tàu mới chôn Chú Hỏa tên thiệt là Hui Bon Hỏa. Ở đó, giốc Chú Hỏa xưa làm ngoại cảnh quay cuốn phim "Con Ma Nhà Họ Hứa", có phải nhờ đó mà con cháu một người bán ve chai sau trở nên đại ky¾ nghệ gia bên Pháp ? ) ; gân đất cấu thành các bộ phận một con rồng khổng lồ, nằm vắt ngang dưới lưu vực sông Phước Long (ấp Tân Lại xã Tân Thành). Núi Long Ẩn là đầu, chuỗi gò nổng nối dài kể trên là mình rồng lượn khúc, núi Châu Thới phía nam là đuôi vảnh lên cao. Núi Bình Ðiện là trái ngọc châu.
Tư thế rồng nằm quay đầu về hướng bắc, ngậm trái châu Bình Ðiện.
Rồng đây là rồng quý, phần đầu là một vị trí tôn nghiêm, được quí trọng xem như bảo vật, xưa được lấy làm hậu bình cho Văn miếu tại thôn Tân Lại, thờ đức Khổng Phu Tử và các A¨ thánh Văn thần, địạ danh Bửu Long xuất phát trong khung cảnh nầy.
Biên Hòa xuất xứ từ cốt rồng nằm. Một số địa phương được mang tên với phụ danh "Long" như: Phước Long, Long Phứớc, Long Khánh, Long An, Long Tân, Bình Long, Long Hưng, Long Bình Tân, Long Bình (sau làm căn cứ quân đội Mỹ trấn đóng). Một tên lạ địa phương hay gọi là Cây Ðào để chỉ Tân Uyên mà tôi chưa tìm ra xuất xứ.
Vốn đất rồng và có người tin rồng lấy nước, nên Biên Hòa, cùng nhằm năm rồng giậy (Bính Thìn 1916 và Nhâm Thìn 1952) đã hai lần hứng chịu nạn lụt to, bão lớn.
Rồng là thú của thần thoại, loại rắn khổng lồ, mình có 4 chân, lưng đuôi viền kỳ, miệng rộng, mũi to, râu cọng dài, đầu hai sừng, sống dưới nước, trong biển sâu.
Rồng ở trên trời cao, lấy nước biển làm mưa cho thế nhân hưởng, ám chỉ nơi tôn nghiêm, tinh khiết, chỗ an vị của đức Văn Thù Bồ Tát, được gọi là Long nhiểu. Việt tộc chúng ta rất hãnh diện dưới nguồn gốc con Rồng cháu Tiên.
b) Ðệ nhị linh là Lân vốn là kỳ lân, thú cùng loại sư tử, hình thù cổ quái bởi sừng đuôi trâu, chân ngựa, nhưng tính tình rất hiền, không ăn sinh vật, khi xuất hiện, báo điềm lành.
Cuộc đất ấp Lân thành thuộc xã Bình Trước (tỉnh lỵ) nhưng ở vào vị trí của đồng quê. Tương truyền địa danh Tân Thành do thế đất nên được mệnh danh Lân Thành, do lân mà thành.
Ðể tìm hình thế, nhà địa lý nhận thấy con lân nằm mọp trong phần đất của ấp, đầu là Núi Ðất, quay về hướng bắc, lưng trải ra làm trung tâm ấp, vùng ở dưới thấp là mình oằn xuống, Gò Me cạnh sông Sa Hà (Rạch Cát) là chóp đuôi vảnh lên ở hướng nam. Núi Ðất ở sau câu lạc bộ hồ tắm Biên hòa, nay đã bị san bằng, nhưng vẫn giữ được danh xưng. Núi Ðất đặt cho một ấp hành chánh có đền thờ dũng tướng kháng Pháp Trương Công Ðịnh.
Giữa thân con Lân, dựng đền thờ Thần hoàng bổn xứ và chùa Thiên Long, đặc biệt, có hai ngôi mộ của cố Hồ văn Rạng là nội tổ và cố Trần thị, là bà dì của Tá Thiên Nhân Hoàng hậu, vợ vua Minh Mạng.
Cũng từ gốc Kỳ lân, thú lành, mà Biên trấn, đã phát xuất tục múa lân nhân dịp Tết Nguyên đán và Tết Nhi đồng Trung thu, chủ xướng bởi nhóm quan binh Tàu di cư đến lập ấp, vào khoảng năm 1700.
Về sau, hai nhóm lân vũ thành lập tại Bình trị Hóa an và Bửu long, để hiện gìờ, được tiếp nối, do hội Tân Bình Ðường và xóm đình Tân Lân và chùa Một cột, Phật bốn tay (đền Tân lân thờ đức Trần Thượng Xuyên gốc Hoa có công lớn di dân lập ấp, phát triển Biên hòa, sinh tiền ông rất ghét màu đỏ nên xe đò Liên hiệp muốn tránh tai họa phải sơn màu xanh).
Lân nhi là quí tướng, nên có câu: "Kỳ lân xuất hiện, thánh nhân ra đời", câu này ứng với đức Khổng tử, khi bà Nhan thị thấy con Kỳ lân hiện ra nhả tờ ngọc thơ có đề: Thủy tinh chi tử, kế suy Châu vị Tố vương, bà vội lấy dây lụa buộc vào sừng, Kỳ lân biến mất, bà mang thai, sau sanh Khổng Châu tự Trọng Ni, thành bậc thánh triết A¨ đông, được nhân dân ta suy tôn là "Vạn thế sư biểu".
c) Ðệ tam linh là Qui tức con rùa: là loài sinh vật có mai, bò sát, đầu đen, cổ rút, có thể nhịn ăn mà vẫn sống.
Cù Lao Rùa tại xã Thạnh hội còn gọi là cù lao Nhựt thạnh, nơi mà tôi đã chạy giặc Pháp rồi giặc Nhật về đó hồi mới 4 tuổi, ngó qua Tân triều là quê ngoại của tôi, và cũng là quê ngoại của Nam phương Hoàng Hậu, hiện tại ngôi nhà thờ từ đường còn miếng đá có khắc tên gia đình ông ngoại của bà là ông Lê Phát Ðạt. Biên Hòa nổi tiếng nhờ bưởi Tân triều, Cù lao Rùa có lò che do trâu kéo (lò đường) mà nơi đó, tôi tập trận cờ lau, thưởng thức mía lùi và kẹo kéo từ đường mật ngay tại cây cột bóng lưỡng của lò che. Ở phía Bồng giang (Sông Cái) thuộc quận Tân Uyên, được chánh sử ghi là đảo Qui Dự, nguyên là một gò đất nổi, trên có huyền vũ gồm một rừng cổ thọ, mà ngọn cây họp thành hai chòm như hai cái vung úp, cái lớn cao, cái nhỏ thấp, gần nhau, ở xa trông rõ là hình con linh qui khổng lồ, có đủ mai và quay đầu về hướng tây bắc nằm trên sông Phước Long. Hiện giờ hai chòm cây hình rùa không còn, vì đã bị đốn mất vào khoảng năm 1948, khi quân đội Pháp đến đóng đồn.
Phía bắc đảo Qui dự (đối diện ấp Tân lương xã Phước thành) là gò Thạch hỏa, có loại đá đen, khi nắng chiếu, bắn ra tia hỏa quang, lấp lánh như sao bay. Thêm nữa, dưới gò đất là bụng rùa, đồng bào Thạnh hội đào được rất nhiều đá bén, và Cồn gáo, đá hình lưỡi tầm sét có khả năng trị sốt và làm kinh, mà huyền thoại mê tín cho rằng thần qui giữ kho vũ khí của Lôi thần.
Một ngọn núi ở vào mạn bắc, trên ngọn Tiểu giang (Sông bé), dưới chân có hai tảng đá thật lớn, nằm khít nhau, trông giống hình rùa trong lòng sông.
Vị thế nằm của đá, tùy mực nước lên xuống và phía đứng, mà trông thấy rùa nằm ngang hay xuôi. Tương truyền rùa di chuyển để cản nước hoặc cho xuôi dòng. Thổ dân và các nhà khai thác lâm sản xem hiện tượng đó mà chiêm nghiệm, dự đoán nạn nước tràn ngập dưới đồng bằng.
Ðược sử ghi với danh xưng "Thần qui sơn" và "Thọ sơn" (rùa sống lâu). Người địa phương gọi là Núi Ba Ba.
Linh vật thứ ba được phó cho đội kinh và đội bia trong các đền thờ.
Rùa nghe kinh, tuổi rùa, hạc cưỡi rùa, mai rùa có bát quái đồ dược dùng để xủ quẻ, bói toán.
Rùa linh thiêng nên mới có truyện Thần Kim Quy cho An Dương Vương nỏ thần dẹp giặc ngay trong lịch sử Việt nam.
Ngày nay, chính phủ Cộng Sản không tin phong thủy nên cho khai thác cát bừa bãi nên Cù Lao Rùa gần bị sạt lở đứt gần cái cổ rùa. Với mục đích xóa bỏ tên làng Tân Tịch, chúng đã sát nhập vào làng Thượng Lảng gọi là làng Thượng Tân.
d) Ðệ tứ linh là Phụng, loài chim quí (con mái gọi là Hoàng hoặc Loan), lông đuôi dài, khi xoè lên, ửng hoa sao ngũ sắc, là chúa của thượng cầm).
Ðất các xã ở Biên hòa vùng Long Thạnh Mỹ (Thủ đức), xưa thuộc huyện Long thành, có chất đá ong thích hợp loại thổ sản dưa, đậu được cấu thành bởi hình dáng con phụng xòe cánh. Nơi đó là một cửa quan hiểm yếu, sử gia đặt "Khổng tước quan" là cửa ải Ðiểu công (cùng loại với Phụng). Người Biên-hòa gọi nôm na "Khổng tước nguyên" là Gò công.
Quanh vùng Gò công có một con rạch mang tên Trau Trảu (cũng là loại điểu thú).
Trên quốc lộ 15, dẫn đi Vũng tàu (tên xưa Thuyền U¨ùc), nơi trụ số 46, ranh giới xã Tân phước và Phước tân, có một chiếc cầu, sử ghi là Phụng kiều.
Gò dốc 47, Núi chùa (ngả vào ngọn Sông Buông) và núi đất đỏ (Hòn máu), có tháp canh cạnh khúc đường cua, nơi đầu ấp Tân Mai II, họp thành giống hình thể một con phụng có đầu mình và đuôi.
Miệt Võ Su, Võ Ðắt nổi tiếng là ông Võ Văn Trạng và con gái chuyên săn cọp, nơi mà hồi còn trẻ, tôi, Năm Tân và Ðỗ Cao Phước thường đi săn con minh (trâu rừng).
Dân quê địa phương đơn giản gọi là Cầu Vạc (loài chim ăn đêm, xưa thường đến đậu). Cầu Vạc chính là địa điểm này, chớ không phải là xã Bùi tiếng và lò gạch Tân mai (Bình Trườc).
Miền đông bắc Tân Uyên, là nê địa, sình lầy, không cần cày trâu, mà chỉ cuốc tay để làm ruộng, được mang tục danh là "Ðất cuốc" (xã Tân hòa) và Sình (Tân nhuận). Có làng đồng bào thượng tên Cát Tiên.
Nơi mà đồng bào tản cư năm 1945, đã lưu nhiều kỷ niệm, người Pháp đặt là chiến khu Ð.
Vùng đất thiêng nầy đã phát xuất nhiều huyền thoại. Tương truyền đây nguyên là một Phượng Trì (xã Chánh Hưng), vì vùng ao to rộng nầy, xưa có chim phượng tới tắm nước, rỉa lông (Phượng hoàng ẩm thủy). Do đó nhân dân địa phương đặt là Bàu Phụng (chớ không phải là bà Phụng).
Năm Bính Dần 1806, vua Gia Long và Thuận Thiên Hoàng Hậu tuyển con gái các quan đại thần trong triều để nạp làm phi cho Thái tử Ðảm, tức là vua Minh Mạng sau này. Con gái của Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi, quê ở làng Bình An, tỉnh Biên Hòa, sinh năm Tân Hợi 1791, cùng tuổi với Thái tử Ðảm, tên húy là Hồ thị Hoa trúng tuyển vào cung, sau chính là Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu, là người đoan trinh, hiền thục. Vua Gia Long cho là chữ "Hoa" như tên của bà chiết tự ra có nghĩa là "một chút hương thơm" thì e không tốt cho vận số, chi bằng đổi chữ "Hoa" thành chữ "Thực", có nghĩa là "quả" hay " quả phúc" thì tốt hơn. Sau sanh Nguyễn Phúc Tuyền Minh Tông thành vua Thiệu Trị. Bởi cung cách và phẩm hạnh của bà, vua Gia Long cấm gọi phạm húy tên bà, nên người trong Nam mới gọi là "bông", như bông sen thay vì hoa sen.
Biên Hòa có sông, có núi, nước không cần sâu nhưng cần có rồng, thì hóa linh; núi không cần cao, nhưng có tiên, nên thành thiêng, hồn thiêng sông núi hun đúc nhiều nhân tài, chí sĩ yêu nước.
Ðất Biên Hòa có Long mạch, nên phát sinh khí thế hồn thiêng. Một cuộc đất, nói theo phong thủy địa lý, có tiên thánh (núi Tiên Cước phía nam Long Thành) mà còn Long Lân Qui Phụng họp thành bộ "Tứ Linh", nên được linh thiêng, danh bia thanh sử.
Tôi không nuối tiếc chi nhiều
Bởi tôi còn vệt nắng chiều để mơ