MẸ ƠI ĐỪNG VỘI RA ĐI I

Trầm lặng lẽ nhìn hai người đàn ông đang khiêng Mẹ Trầm bước ngang qua chỗ Trầm đang ngồi dưới đất, vạt áo dài trắng của Mẹ lết dài dưới đất để lại một lằn nước ướt...

Cô bé nhìn theo vạt áo dài trắng của Mẹ mãi, tiếng một trong hai người đàn ông khiêng xác của Mẹ nói với những người hàng xóm tốt bụng đang chờ để giúp tẩn liệm người quá cố:
-- Sông nước mênh mông! May nhờ xác cô ấy tấp vào hàng đáy giăng của ông Năm, tụi tôi mới vớt được xác cô ấy, bằng không trôi mất xác không cách gì tìm được.

Cô bé cứ trân nhìn Mẹ, nghĩ rằng, chắc lát nữa Mẹ sẽ thức lại mà... Có tiếng một người nào đó nhắc:
-- Đừng cho con bé khóc rớt nước mắt trên người Mẹ nó không nên.

Lại có người nói:
-- Có ai tốt bụng trông chừng dùm con bé, tội nghiệp ghê! Đã không có Cha, giờ lại mồ côi Mẹ!

Trầm nghe tiếng nói mọi người như vọng về từ một thế giới xa lạ nào đó. Trầm tưởng như người ta đang nói về một con bé nào đó vừa bị mất mẹ, chứ không phải Trầm.

Con bé đến bên cái chõng tre, nơi Mẹ cô đang nằm. Mẹ cô nằm lặng yên như ngủ, nét mặt hiền dịu và bình thản. Mọi âu lo, nhọc nhằn, đau khổ, ưu tư như không còn chút dấu vết nào trên mặt Mẹ. Mặt Mẹ chỉ hơi tái xanh một chút.

Con bé cảm giác được sự lạnh lẽo toát ra từ xác Mẹ. Con bé giật mình sợ hãi hồi tưởng lại câu chuyên đêm qua.

Mới đêm qua, Mẹ còn ôm Trầm âu yếm với những nụ hôn nồng ấm yêu thương, sao giờ Mẹ im lặng lạnh lẽ như một người xa lạ. Môi Mẹ nhếch lên một chút như đang tươi cười, đôi mắt to đen đẹp của Mẹ hôm qua buồn thảm hờ hững khép kín. Mẹ đã đi rồi sao, Mẹ đã chìm vào giấc ngủ miên trường, bỏ lại những dằn vặt khổ đau của cuộc đời.

Mẹ đã tìm được gì trong cõi trời mơ ước của Mẹ ở thế giới bên kia khi Mẹ rời bỏ thế giới đầy đau khổ này? Mẹ đã tìm được bình yên trong thế giới vô thường, vô ngã, vô sinh hay Mẹ đã hiểu thấu chữ sắc không trong Bát Nhã tâm Kinh, hay Mẹ dã tìm lại được những gì cao quí nhất của đời sống tâm linh miên viễn.

Đêm qua, Mẹ vẫn mềm ấm ôm Trầm trong đôi cánh tay gầy guộc của Mẹ, âu yếm ôm Trầm sát lòng Mẹ, Mẹ nồng nàn hôn Trầm... Mẹ nói như than thở:
-- Lúc nào Mẹ vất vả lo kiếm tiền cho con ăn học, không còn thời giờ để săn sóc con kỹ lưỡng, con ốm quá, Trầm ạ!

Trầm sung sướng ôm chặt Mẹ, cảm giác ấm cúng trên người của Mẹ truyền sang Trầm, mơ hồ huyền ảo, tiếng của Mẹ than thở não ruột trong đêm khuya.
-- Con tôi còn bé bỏng quá!
-- Con biết không? Ngoài con ra, Mẹ yêu Cha con nhất trên đời này. Con là nửa linh hồn của Mẹ, Cha con là một nửa linh hồn kia của Mẹ, có ai mất cả linh hồn mà sống nổi đâu con. Mẹ không lo nổi cho con, phải giao cho ông Nội, con sẽ có ngày gặp Cha. Con phải ngoan ngoãn học hành, lo cho Cha tử tế Mẹ mới an lòng...

Mẹ ngâm những bài thơ Mẹ làm với Cha lúc hai người còn sống bên nhau. Mẹ kể về mối tình bi thương của Mẹ. Trong bóng đêm, giọng Mẹ chìm xuống trong nước mắt. Trầm phải cố gắng lắm mới nghe rõ được chuyện Mẹ kể về Cha.

Lúc xưa Trầm hay hỏi về Cha, Mẹ chỉ im lặng nhìn về nơi xa xôi rồi lảng đi không nói gì. Tự dưng bây giờ Trầm không hỏi, Mẹ lại kể ra. Một cảm giác sợ hãi làm tê thắt trái tim Trầm. Nhiều lúc giọng Mẹ phấn khởi hẳn lên kể về Cha. Trong màn đêm yên tĩnh, Trầm tưởng như mắt Mẹ đang ngời lên những tia sáng hạnh phúc. Cũng có khi giọng Mẹ trầm hẳn xuống khi nhắc đến đoạn buồn đau thương, mắt Mẹ chắc đen ngòm chìm xuống với bóng đêm đen. Giọng Mẹ kể về Cha tràn đầy hãnh diện yêu thương, thỉnh thoảng pha chút bi đát. Trầm cảm giác Cha là một vị anh hùng và là một vị thần linh Mẹ tôn sùng và vâng theo tuyệt đối.

Cũng như các sĩ quan của chế độ cũ, Hoàng phải đi học tập cải tạo từ ngày 25 tháng 5 năm 1975. Chàng là một sĩ quan xuất thân từ trường Chiến Tranh Chính Trị, chàng từ giã gia đình khăn gói ra đi mãi đến cuối tháng Tư năm 1985 mới được về nhờ phần nào chàng là sĩ quan biệt phái làm phóng viên chiến trường, chứ không phải là người cầm súng chiến đấu, hay làm trong bộ tham mưu...

Lúc đó chế độ dành cho các sĩ quan đi học tập cải tạo trở về chưa có qui chế rõ rệt, chính quyền địa phương quản lý tuỳ tiện gây khó khăn vô cùng cho cuộc sống. Hoàng cũng lâm vào hoàn cảnh đó, đời sống cực kỳ căng thẳng hoang mang, không biết làm sao.

Đang lúc lúng túng trong cuộc sống tựa như một phế nhân thi may mắn sao Hoàng gặp lại một người bạn thần từ hồi còn học chung khóa ở trường Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, đã cách biệt hai ngã khi ra trường, nhưng lại gặp nhau ở trại cải tạo Sơn La ngoài Bắc. Thật là quả đất cũng tròn, bạn thân gặp lại vui buồn có nhau. Cả hai được ân xá một lượt, về đoàn tụ với gia đình.

Hoàn cảnh khó khăn của những sĩ quan đi học tập về khiến họ gần như chẳng còn lối thoát nào là tìm đường vượt biên. Vĩnh Như Gia Lăng rủ Hoàng về quê vợ ở Thanh Phú, cùng đóng tàu đi vượt biển. Như tìm được chiếc phao, Hoàng lại khăn gói giã từ người vợ mà mẹ chàng cưới cho chàng và hai đứa con, một trai một gái để ra đi tìm tương lai.

Những ngày tháng sống với người bạn thật dễ dãi vì gia đình bên vợ của Vĩnh Như Gia Lăng có bà con đi tập kết ngoài Bắc mới về nên không bị khó dễ với chính quyền địa phương. Nhưng ngày tháng thoải mái vô tư không được bao lâu, niềm vui lúc nào cũng chóng tàn, nỗi buồn hay nói đúng hơn là bi kịch lại trờ đến.

Con gái út của Vĩnh Như Gia Lăng là Trầm Hương lo vụ nhập học năm đầu tiên ở Đại Học Bác Khoa ở thành phố Sài Gòn trở về. Trầm Hương là một cô gái nhỏ dễ thương, xinh đẹp, đài các. Đôi mắt Trầm Hương lấp lánh sáng ngời, long lanh như biết nói mỗi khi cô dịu dàng chuyện trò. Hoàng thực ra chẳng hiểu cô nói gì, chàng cứ tưởng như tiếng chim hót líu lo ngoài hiên nhà.

Trầm Hương là giấc mơ của biết bao nhiêu chàng thanh niên trẻ tuổi lúc bấy giờ và là thi tứ của biết bao nhiêu vần thơ tình yêu. Thật tình mà nói, Hoàng ít bao giờ dám nhìn đến người con gái nhỏ nhắn dễ thương đó. Với cái tuổi bốn mươi cộng thêm một vợ hai con, thân mới học tập cải tạo ra, còn đang trong vòng quản thúc, làm sao chàng dám mơ tưởng chuyện xa vời.

Con tạo oái oăm, duyên nợ trêu người. Định mệnh tưởng như đã viết sẵn, không buông tha cho Hoàng. Sự gần gũi chung nhà sớm tối gặp nhau giữa chàng và người con gái đang độ mười bảy ngây thơ dịu dàng đã nảy sinh một mối tình u uẩn.