Bùi Thụy Đào Nguyên
[ Thi Hữu | Nhắn Tin]


Nhớ Nguyễn Thông

Viết nhân ngày mất  Nguyễn Thông 07-7-1884  

 Nhớ Nguyễn Thông

 

Với nhân cách cùng tâm tư ấy chẳng bao giờ xa cũ; vẫn sẽ luôn là  tấm gương, là ánh đuốc cho mỗi người hôm nay soi rọi lại mình, để rồi biết sống tốt hơn nữa cho đất nước, cho đồng bào…

 

Nguyễn Thông ( 1827- 1884). Ông tự Hy Phần, biệt hiệu Đôn Am , người làng Bình Thạnh, huyện Tân Thạnh, tỉnh Gia Định; nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An .

 

Nguyễn Thông (NT) thời trai trẻ, ông theo học trường của thầy Võ Trường Toản tại Gia định .Năm 1849, ông  thi đỗ cử nhân lúc 23 tuổi . Hai năm sau thi hội, vào đến trường ba nhưng vì quyển thi lấm mực nên bị đánh hỏng. Nhà nghèo, không thể đeo đuổi việc học, NT đành phải nhận chức Huấn đạo ở huyện Phú Phong (An Giang ). Năm 1856, nội các đề cử ông ra Huế dự việc biên soạn sách . Ba năm sau, thực dân Pháp chiếm lấy Gia Định, NT xin vào nam tòng quân đánh giặc dưới quyền của Tôn Thất Hiệp. Năm 1862, triều đình nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp .

 

 Hưởng úng phong trào “tị địa”( không sống chung với giặc ), ông về miền Tây giữ chức Đốc học Vĩnh Long, dưới quyền Phan Thanh Giản . Khi ba tỉnh này cũng bị mất (1867), NT nhận chỉ ra Bình Thuận làm Án Sát rồi Bố Chánh tỉnh Quãng Ngãi. Ở những nơi ấy , ông cho lập nhiều trang trại, thu nạp dân Nam kỳ ra đấy ngụ cư , vận động nhân dân địa phương khẩn hoang, làm thủy lợi, trồng cây vv…và dốc sức diệt tệ nhũng lại, cường hào .

 

Thấy NT làm được nhiều việc, bọn xôi thịt, hủ lậu cấu kết nhau gièm pha ông . Cộng thêm ông bị tên Lê Doãn vu cáo; cả tin , triều đình ra lệnh cách chức, bắt giam và xử đánh roi ông . May mà nhờ bạn bè, nhân dân hết sức minh oan, ông mới được giảm tội …

 

Năm 1873 , do nhiều bệnh, NT xin cáo quan về nghỉ ở Trại Núi ( Bình Thuận ), lập thi xã , mở trường dạy học . Năm 1876 , ông ra Huế làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám , rồi lại về Bình thuận giữ chức Phó sứ Điền nông kiêm Đốc học.Bấy giờ bệnh của ông ngày càng nặng, bởi những trận đòn tra khảo năm xưa cùng tâm trạng luôn lo âu vì nạn dân , nạn nước …nên vào năm 1878 , NT xin nghỉ dài hạn tại Phan Thiết .

 

Dù vậy , thường ngày ông vẫn cùng quan lại địa phương sốt sắng giải quyết việc cho dân . Nơi đây ông lập một nhà học lấy tên Ngọa Du Sào (Tổ nằm chơi ) . Năm 1881, NT được lệnh ra Bình Thuận đảm đương trọng trách cũ và ông đã qua đời tại đấy ( ngày 7/7/1884 ), hưởng dương 57 tuổi .

 

Tác phẩm của ông gồm : Ngọa Du Sào thi tập , Ngọa Du sào văn tập , Kỳ xuyên công độc văn sao, Việt sử cương giám khảo lược , Nhân sự kim giám . 

 

Tất cả cho thấy NT không những là nhà thơ mà còn là nhà văn hóa , một người yêu nước, yêu dân tiêu biểu của Nam bộ ở nửa thế kỷ XIX

 

*

Từ những gì vừa kể phần nào giúp ta hình dung, NT sống vào thời kỳ phong kiến Việt Nam có nhiều biến cố.Nổi bật là cuộc đối đầu giữa dân tộc ta với thực dân bên ngoài.Là cuộc sống quá đổi bần hàn của người dân, vì giặc ngoại xâm, thiên tai gây mất mùa triền miên; vì nạn sưu thuế cao và bọn tham quan cường hào khiến loạn lạc xảy ra nhiều nơi  ( các cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Dương, Lê văn Khôi, Nông Văn Vân , Lê Duy Cự vv..)

 

Trước thực tại rối ren đó, một số quan lại yêu nước như Nguyễn Tư Giản, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Thông …cùng những trí thức nặng lòng với non sông như Hồ Huấn Nghiệp , Nguyễn Hữu Huân, Phan văn Trị , Học Lạc vv…sinh lòng ngao ngán bởi một triều đình chỉ giỏi nghi kỵ , bóc lột, đàn áp…nhưng lại tỏ ra hèn nhát, bất lực, không đoàn kết được dân tộc ….

 

Cho nên , mặc dù có nhiều cuộc kháng chiến anh dũng của những Trương Định, Nguyễn Trung Trực,Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân …và một số trung thần dốc sức chống đỡ như Tôn Thất Hiệp, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu …Nhưng cuối cùng, đất nước ta cũng mất dần vào tay ngoại xâm .

 

Có thể nói đa phần, những áng thơ văn của NT đều bộc lộ nhiều nỗi đau xót này . Xin trích một ít để ta cùng cảm thông những gì luôn nung nấu nơi tim ông :

 

…Quê nhà khói lủa mù xông

Biết bao cay đắng trong lòng bà con …

(Ngày tết năm Đinh Mão, 1867 )

 

Mịt mù khói lửa trời Nam

Biết anh đâu nhỉ để bàn nỗi riêng ?

(Gửi Hồ Huấn Ngiệp )

 

Chiến địa trời Nam máu hãy tanh

Mười năm yên ngựa nhớ Mai Đình

Ai hay mường mán nơi mưa khói

Có khách giang hồ thích dạo quanh

(Ở xứ Bình Hòa, gặp Hà Lăng …)

 

Quặn thắt hơn  vì triều đình cứ mãi nhân nhượng . Nên phía Nam thực dân mặc sức thao túng, hoành hành . Còn phía Bắc, thêm nhiều cuộc nổi dậy :

 

…Quân ra Bắc, lương đem qua núi

Tướng Nam về ngại nói việc binh

Ngâm thơ ngoài ải một mình  ,

Nằm nghe mưa nhỏ xung quanh mái thềm !

(Đọc Thu hoài của Tùng Đường )

 

Bên cạnh, thiên tai cùng sưu thuế cao càng đẩy dân tình thêm khốn đốn , lầm than :

Khe lạnh , mưa tràn , nước lụt lui

Khôn tìm bờ bến- nước phăng trôi

Ruộng bồi mép biển thành ao hết ,

Vườn quế chân non hóa bãi bồi !

(Ghi cảnh Lệ Giang -Giản Chi dịch  )

 

…Thời tiết thường thay đổi luôn

Mùa màng được mất khó lường đón ra

Huyện quan dù có quen  ta

Thuế sưu nếu thiếu , chẳng tha chút nào

( Trích “Trồng Trọt” . Lê Thước & Phạm Khắc Khoan  dịch )

 

Song song những tình cảm thâm sâu dành cho dân , cho nước . Ở NT ta còn nhận ra một trái tim bình dị, đôn hậu, nhiều khăng khít với xóm làng. Sau đây là một đoạn thơ ông làm khi rời nhà đi “tị địa” :

 

…Người thì khuyên gắng uống ăn

Người thì bịn rịn nói toàn nhớ thương

Rượu đưa gượng uống vị lòng

Đầm đìa đôi má ròng ròng lệ sa …

( Thuật mối cảm hoài )

 

Trái tim ấy cũng không hề thiếu nghĩa tình đối với người vợ trẻ mà ông phải bỏ lại, để rảnh tay lo việc quân, việc nước :

 

Màn the mộng quyện lệ đầm

Tóc xanh ai để lược trâm biếng cài

Sóng xuân e cánh đào trôi

Chi đôi trăng sáng, lẻ loi thuyền về

(Đưa vợ Ngô Vũ Khanh về Nam . Thanh Xuân dịch )

 

Nặng lòng với cả nấm mồ quạnh quẽ của người em còn  ở nơi đất khách :

 

Nạn giặc bao giờ hết ,

Nấm mồ ngày cách xa

Một chung trên nhúm cỏ,

Dòng lệ lúc chiều tà …

( Từ biệt mộ người em . Phạm Thiều dịch )

 

NT cũng làm nhiều thơ nói về bằng hữu . Nhất là đối với những người làm được nhiều việc cho nước, cho dân mà bị gièm pha hoặc ở nơi thường khi mịt mù khói lửa :

 

…Bị tạm trích, danh kia vẫn chói

Tiếc mình chưa vạch thói gièm pha

Bá Lăng ông có đi qua

Làm thinh chớ nói mình là cựu quan

(Mừng ông Trần Tử Mẫn …)

 

Hùm beo từng ở từng ở Ba Phan

Mịt mù đường tới miền Nam xa vời

Chiến tranh nên vắng bóng người,

Lại thêm xâu thuế tháng ngày mòn hao

Dân tình dân tỉnh tính sao,

Gió xuân gởi tới khi nào giặc yên ?

Nhớ nhau, ngày tới trăng lên

Hai nơi ta, bạn nỗi niềm giống nhau

(Phụng họa “Thuật hoài” của Tuần phủ họ Bùi )

 

Cho những ai vì “nghĩa lớn” phải vong thân . Như các bài viết về Phan văn Đạt, Trương Định, Hồ Huân Nghiệp,Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Duy vv… Xin dẫn 2 bài :

 

Gió tây thổi một đêm lấp ngõ

Trại đóng quân , đại thọ đổ rồi

Trí mưu đầy đất chôn vùi,

Ba quân sùi sụt khóc người cựu ân

Nhận dấu áo mà chôn tướng kĩnh

Thịt xương tan chính khí còn đây 

Mỗi năm bạn cũ nhớ ngày,

Thăm mồ rưới rượu , nhớ ai ngậm ngùi

(Điếu ông Nguyễn Duy …)

 

Gió táp , mưa sa , máu chiến trường

Ngậm ngùi năm ấy, cảnh thê lương

Đành rằng một tướng theo ông Phó

Ai ngở bè tiên có bác trương

Lửa địch thiêu cây trơ nhánh trụi

Sấm xuân dục trúc nẩy chồi non

Lo đời , thầy Giả tơ vò khúc

Ngoảnh cổ bao lần phía cố hương  *

( Kính họa bài thơ”Gia định cố thành”. Phạm Triều dịch )

 

Và ông cũng không quên cảm thán cho những dân lành vô tội ,phải bỏ mình vì lằn tên , mũi đạn :

 

Trải năm tháng bao lâu ai rõ

Mà mồ hoang bãi cỏ gần xa

Ngôi thì đất lở phơi ra ,

Ngôi thành bụi rậm , ai mà ngó coi …

 

Cho cả những người còn sống nhưng kể như đã chết , vì bọn tham quan ô lại cứ bòn rút  :

Những nắm xương tuy nay yên chỗ 

Còn kiếp người đau khổ ai thương ?

Tham quan ô lại một phường

Nuôi thân bằng máu, bằng xương dân lành

Tay dệt cửi mà mình rét cóng

Chân đi cày mà bụng đói dài

Dẫu còn thoi thóp chút hơi

Xem ra chẳng khác bọn người cửu nguyên .

(“Nghĩa địa làm phú”. Hoàng Tạo dịch )

 

Vâng . Như tôi đã viết ở trên , nhân dân ta thời bấy giờ chịu lắm tai ách . Chỉ tính  riêng điều vừa nói thôi, qua thơ NT, cũng đủ cho ta nhói tận đáy lòng .Đủ biết người xưa cho rằng quan tham cùng chính sách hà khắc, hãm hại người còn hơn cọp dữ; đâu phải là lời nói quá …

Ngẫm, càng thêm kính yêu ông, tuy thân làm quan ở nơi nhiều nghi kỵ , độc đoán, chính kiến, bè phái …vậy mà NT dám thốt lên những lời lẽ tố cáo gay gắt như thế thật không dễ chút nào .

Xin dẫn thêm đôi dòng để cùng chia sẻ một tâm hồn  thanh cao , không bao giờ chịu lùi bước trước cái xấu :

 

Đang độ thu về qua bến sông

Dưới đê ruộng nếp đã đơm bông

Dân cày vốn sợ quan đòi thuế ,

Báo trước họ tên ,tránh bận lòng

(Đi Tư Châu , ghé nhà ô. Nguyễn Tử Mỹ )

 

Hay gửigắm tình ý qua bài “Thả chim đa đa” :

 

…Cành Nam nay thả mày về lại

Bạn cũ gà rừng mặc sức chơi

Bên suối uống ăn nên cẩn thận ,

Chút thân đừng để lọt tay ai !

 

Chính từ tấm lòng “khổ cùng cái khổ của dân” , “làm việc gì cũng phải hợp lòng dân”…cho nên khi vua Tự Đức cầu lời nói thẳng , ông mạnh dạn điều trần 4 việc nội trị : “Chọn nhân tài bổ làm quan , cải tiến việc võ lược , Sửa đổi thuế đất & thổ sản , chú trọng điều khoan hậu .”

 

Cảm nhận , bản tấu này  tính đến nay đã ngoài trăm năm , song vẫn còn nhiều giá trị .Tiếc là do khuôn khổ bài viết , tôi chỉ xin trích một điều cơ bản nhất. Biết đâu nó sẽ gợi được ít nhiều những gì cần làm cho công cuộc cải cách, mở cửa của ta hôm nay :

 

Chọn nhân tài bổ làm quan

 

“Thời xưa chọn kẻ sĩ , phải xem xét rõ ràng ,chắc chắn rồi mới bổ làm quan . Vì chức quan mà chọn người , không vì người mà chọn chức quan ...Thế mà nay những học trò sơ học non nớt , những con nhà quyền quí vênh váo , những bọn lại điển  tầm thường ; không xét hạnh kiểm , không lường tài năng , chỉ căn cứ vào phẩm hàm của cha ông mà giao ngay cho trách vụ trọng yếu .

 

Làm quan không có đủ tư cách mà cho giữ chức điều khiển , không trong sạch mà cho giữ quyền tài chánh , không giỏi phán đoán mà cho giữ việc can răn, quen thói nể nang mà cho làm việc điều bổ quan chức.

 

Như thế muốn quan lại xứng chức , nhân dân thỏa lòng &chính sự mở mang , phỏng có được không ?

Gần đây , có tệ bỏ chức nghiệp để đi cầu cạnh thanh danh , kết nhiều bè bạn để nhờ đề cử.Đã là thân nhơ bẩn mà muốn danh được đồn vang …Thần trộm thấy, thói cầu cạnh thịnh hành thì đạo liêm sỉ bị tổn thất , phép lựa chọn càng thả lỏng thì quan lại kém cỏi …

 

Từ nay xin , mỗi lần chức vụ có khuyết thì Bộ Lại phải xét trước những người đáng được điều bổ . Phẩm hàm ngang nhau thì xét hạnh kiểm . Hạnh kiểm ngang nhau thì xét tài năng . Tài năng ngang nhau thì xét công trạng …Sau khi đã nhận chức , nếu có người nào làm công việc không chạy hoặc làm điều tham ô , thì Bộ ấy phải chịu trách nhiệm .

Có như thế, ở triều đình không có người bất tài, quan lại không có người lạm chức …”

 

Buồn sao những lời lẽ tâm huyết đó,cũng giống như nhiều đề nghị canh tân khác của Nguyễn Trường Tộ , Phạm Phú Thứ ,Nguyễn Đức Hậu , Nguyễn Tư Giản , Bùi Viện …đều không được nhà Nguyễn nghe theo . Hơn thế nữa chính vì tấm lòng này , NT lâm phải nhiều phen khốn đốn bởi bọn xôi thịt, hủ lậu, dốt nát …Lời vu cáo của tên Lê Doãn khiến ông bị giáng chức , bị phạt roi đến nỗi phải lâm bệnh thổ huyết là một minh chứng !

 

Trước khi kết bài viết , tôi cho rằng cái độc đáo , cái thiết thực nhất mà ông đã để lại cho đời ; đấy là việc tổ chức , vận động đưa dân đi khai hoang , làm thủy lợi, trồng cây …ở Quảng Ngãi và Bình Thuận .Điều này càng tỏ rõ NT là một nhà nho có đầu óc thực tiễn , tiến bộ , có hiểu biết , yêu dân và gần dân hơn so với nhiều nho sĩ cùng thời .

 

Do giá trị này, tôi xin trích một bài trong chùm thơ mang ý nghĩa vận động “khuyến nông” của ông :

 

Khuyên riêng nghề nông

 

Cấy lúa thì cỏ phải cào

Cỏ mà lên mạnh, lúa nào tốt tươi

Ruộng cạn tát nước kịp thời

Nước mà khôn cạn, ruộng đời nào nên

Việc nông ta phải cần chuyên ,

Làm ăn sinh sống trước tiên không chờ

Mẹ cha ai dễ nuôi cho

Vợ con mong mỏi nương nhờ ta nay

Thờ trên đỡ dưới khó thay,

Thuế sưu cũng ở ruộng này mà ra

Mấy lời khuyên bạn nông ta,

Quyết tâm làm lụng chớ la nhọc nhằn

 

(Lê Thước , Phạm khắc Khoan dịch )

 

Nhìn chung , do sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo , lại sớm sống gần gũi những người dân cần cù, lam lũ, thuần phác  . Thêm nữa, nhờ NT có năng khiếu thơ văn, có vốn học thức, được đi nhiều và nhạy cảm trước những vấn đề chính trị, xã hội… Nên hầu hết trước tác của ông đều thiên về tả thực, giàu chất trữ tình, mang tính tố cáo cao .Nhờ vậy mà ta dễ dàng bắt gặp cái đẹp của những ý tứ, ngôn từ tinh tế , đậm đà tình cảm cao cả, không sa đà viễn vông hay sáo rổng …

 

Tuy đôi lúc trong thơ văn ông , cũng không tránh khỏi nỗi buồn hiu hắt của một nhà nho cảm thấy bất lực trước vận mệnh tồn vong của non sông , của dân tộc .

Nhưng tôi đoan quyết với nhân cách cùng tâm tư ấy chẳng bao giờ xa cũ ; vẫn sẽ luôn là  tấm gương , là ánh đuốc cho mỗi người hôm nay soi rọi lại mình, để rồi biết sống tốt hơn nữa cho đất nước , cho đồng bào…

 

 

Bùi Thụy Đào Nguyên , biên soạn

 

Chú thích:

 

Ông Phó : dùng điển Phó Duyệt cưỡi sao lên trời . Đây chỉ việc Nguyễn Tri Phương tử tiết .Bác Trương : dùng điển Trương Khiên đời Hán đi sứ Tây Vực . Đây chỉ các quan Khâm sai vào Gia Định . Thầy Giả : tức Thái phó Giả Nghị , người đời Hán . Tất cả đều có lòng lo giúp nước

 

Tài liệu tham khảo:

 

       -Nguyễn Thông, con người & tác phẩm . Ca văn Thỉnh , Bảo Định Giang biên soạn . Nxb Tp HCM, 1984.(Phần phiên âm chữ Hán , xin bạn đọc tìm trong tài liệu này )

       -Từ điển văn học tập 2, nxb Khoa Học Xã Hội , 1984.

       -Từ điển nhân vật lich sử VN .Nguyễn Q.Thắng & Nguyễn Bá Thế .Nxb Khoa học Xã Hội . 1992 

 

 

 

 



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả