Nhà Văn Bình Nguyên Lộc
( Trích Biên Hùng Liệt Sử phần Nhơn Kiệt)
5- Bình Nguyên Lộc :
Ông sinh ngày 7 tháng 3 năm 1914 tại làng Uyên Hưng, tổng Chánh Mỹ Trung, huyện Tân uyên, tỉnh Biên Hòa, nằm ven sông Ðồng Nai. Bên kia là làng Bình Long, ngày xưa cùng thuộc một huyện, có các nhà văn Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn. Và mất vì đau tim cũng nhằm ngày 7-3-1987 tại Sacramento, tiểu bang California, sau đó mấy tháng thì bà Bình Nguyên Lộc cũng qua đời , theo chữ nghĩa Bình nguyên là Ðồng, Lộc là lộc Nai, tức là Ðồng Nai. Bút hiệu khác là Phong Ngạn và Hồ văn Huấn
Ông tên thật Tô Văn Tuấn, cha của Bác sĩ Tô Văn Hiệp, nguyên Giám đốc Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, chết vì bệnh ung thư máu lúc còn rất trẻ. Ông Bình Nguyên Lộc chủ trương tuần báo Bến Nghé ( 1956) . Bình Nguyên Lộc ở vào một số ít những nhà văn thuần chất Nam bộ, lại có vốn kiến thức sâu rộng, thử tài ở nhiều lãnh vực, không chỉ là sáng tác văn chương.
Bình Nguyên Lộc có công chú giải nhiều tác phẩm văn chương cổ điển Việt Nam như: Văn Chiêu Hồn, Tiếc thay duyên Tấn, phận Tần (Nguyễn Du), Tự Tình Khúc (Cao Bá Nhạ), Thu dạ lữ hoài ngâm (Ðinh Nhật Thận)...trên các tạp chí như Văn, Bách Khoa, Hương Quê... Ông đã để lại hơn 100 tác phẩm trong đó có "Ðò dọc" (59), "Gieo gió gặt bão" (59), "Ký thác" (60), "Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương","Bóng ai qua ngoài song cửa" (63), "Mối tình cuối cùng" (63), "Ðừng hỏi tại sao" (65), "Mưa thu nhớ tầm (65), "Tình đất" (66), "Những bước lang thang trên hè phố gã Bình Nguyên Lộc" (66),"Một nàng hai chàng" (67), "Quán tai heo" 67), "Thầm lặng" (67), "Trăm nhớ ngàn thương"(67), "Uống lộn thuốc tiên" (67), "Ðèn Cần giờ" (68), "Viễn phương" (68), "Sau đêm bố ráp", "Diễm Phượng", "Sau đêm bố ráp" (68), "Cuốn rúng chưa lìa" (69), "Khi Từ thức về trần" (69), "Nhìn xuân người khác" (69), "Rừng mắm", "Câu dầm", "Bàn tay năm ngón", "Nhốt gió", "Nửa đêm Trảng Sụp", "Hoa hậu Bồ Ðào", "Ký thác", "Tuyển tập truyện ngắn Tâm trạng hồng" vv... cả các tác phẩm viết về ngữ học mang tên "Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam" (71), "Lột trần Việt Ngữ" (73), còn lại một số đã thất lạc trong hơn 500 truyện ngắn của ông, trong đó có tác phẩm "Hương gió Ðồng Nai" và truyện dài "Lịch sử Phù Sa" mỗi cuốn dày hơn 1000 trang mà ông mất hơn 20 năm để viết đã bị thất lạc.
Với "Rừng mắm", ông phải mời Sơn Nam về tận quê hương Tân Uyên của ông rồi đề nghị người miền Tây chính gốc kể về quá trình sinh thành phù sa. Tiếp giáp với cửa bể la ørừng mắm, đàng sau mắm là rừng tràm. Chỉ có mắm mới trụ lại giữa biển phù sa mênh mông và nhường chỗ lại cho tràm khi đất đã đông lại. Sau tràm là bao loại cây trái khác. Cây mắm sinh thành và chết đi nhưng cái chết đó thật ý nghĩa. Quá trình hình thành kia có khác gì sự hy sinh của bao thế hệ mở mang bờ cõi. Một sự lý giải lịch sử con người bằng văn chương sinh động, cụ thể. Và có lẽ chỉ có cách lý giải ấy mới mong khắc sâu trong tâm não bao thế hệ cái giá của lịch sử!
Tôi thích thú với câu hò trong "Rừng mắm":
Hò... ơi, rồng chầu ngoài Huế
Ngựa tế Ðồng Nai
Nước sông sao cứ chảy hoài
Thương người xa xứ lạc loài đến đây.
Ông có một cuộc sống hết sức bình dị, từ cách ăn mặc đến ngôn ngữ. Ông thích ăn cá khô và thích đồ ăn nấu nướng bằng lò than củi chứ không thích nấu lò gaz.
Ông vẫn thích xài chữ miền Nam như nhà giây thép, đọc nhựt trình, sở lục lộ, mua con cò dán thơ...
Mời các bạn viếng thăm tiếng thơ của Bình Nguyên Lộc, một giọng thơ đặc sệt miền nam trong bài "Dâng Má Thương":
Từ đáy thời gian dậy tiếng ru
À ơi lời má, giọng trầm phù
Má ơi, hồn đất bao năm thiếp
Bỗng chốc trưa nay vẳng tít mù
Kẽo kẹt xà nhà tiếng võng đưa
Ðâu đây đồng vọng cõi xa xưa
Thổ ngơi thơm phức, hồn ma cũ
Lòng rộn vui mà mắt lệ mờ
Ngày qua năm tháng cứ trôi xuôi
Một chúc nhớ xưa, thoắt ngậm ngùi.
Những ngỡ tro tàn trong bếp lạnh
Hay đâu than ngún dưới tro lùi
Ngược dòng năm tháng mấy dòng này
Những *áng tuyết xưa gợi lại đây
Gởi cả muôn phương cùng vạn nhớ...
Tân Uyên đất má, thảm vơi đầy.
· Mais òu sont les neiges d'antan
Ðời người, đời văn Bình Nguyên Lộc như một chuyến đò. Ông từng viết Ðò Dọc, tức là chuyến đò đơn chiếc, buồn lắm. Nhưng với người đọc, đời văn, đời người không hẳn là chuyến đò dọc. Ông dong ruổi trên khắp quê hương, nhận diện quê hương của mình. Vì thế, cho dù sau này, bất đắc dĩ phải xa quê. Bình Nguyên Lộc, trong cuộc đời lẫn văn chương, vẫn là chuyến đò quê nặng nghĩa thắm tình...
Tôi không nuối tiếc chi nhiều
Bởi tôi còn vệt nắng chiều để mơ