Biên Hùng Liệt Sử VI
Phần Nhơn Sự
Người thứ tư cũng quê quán Tân Uyên là thẩm phán Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện:
4- Ông Trần Văn Linh.
Ông Linh sanh tại làng Bình Long, bên tả ngạn của sông Ðồng Nai (cùng phần đất với tỉnh lỵ Biên Hòa), hồi nhỏ học ở trường làng Mỹ Lộc (hữu ngạn sông Ðồng Nai) với ông Nguyễn Ngọc Hứa (thân phụ giáo sư Nguyễn Ngọc Huy) và ông giáo Huỳnh Văn Thọ (anh ruột của ông Huỳnh Văn Nghệ, lớn lên học Pétrus Ký cùng lớp với Bác Sĩ Trần Nguơn Phiêu và ông Ðỗ Cao Minh), và rất thân với Ðỗ Cao Trí; có lần, trong một bữa tiệc trong dinh Ðộc Lập, ông đã bảo Ðỗ Cao Trí:" Anh chịu trách nhiệm cả vùng phải cẩn thận" vì nghe Ðỗ Cao Trí đi hành quân thường đi hàng đầu với binh sĩ. Tướng Trí đã trả lời: "Tướng không xông pha thì binh sĩ sẽ không hết lòng", ông Linh là con chú bác với ông Trần Bá Thành, đời Tổng thống Ngô Ðình Diệm làm Giám Ðốc Công An Nam Phần, học cùng lớp ở Tân Uyên với Huỳnh Văn Nghệ, chính ông Trần Bá Thành đã điều đình với cò Bazin cho ông Huỳnh Văn Nghệ ra trình diện vì lúc đó Huỳnh Văn Nghệ theo Nhật Bổn sang Singapore chống Pháp, nhiều lần ông Huỳnh Văn Nghệ dạy thế ông anh Huỳnh Văn Thọ.
PHỤ LỤC VIII:
Ông Trần Văn Linh, Thẩm Phán Cựu Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện Việt Nam Cộng Hòa (Baton Rouge, Louisana), người gốc Tân Uyên, rất yêu thơ. Thật không ngờ ông cũng rất thích làm thơ. Ðây là một bài thơ ông đã sáng tác hồi lúc ông còn là học sinh Trung Học Pétrus Ký, mà ông khiêm nhường gọi là mộc mạc. Vì cảm thông với kiếp sống tha hương, ông đã đồng cảm:" Trong những bài thơ của anh Thái Thụy Vy đã đăng trong tuyển tập "Vườn Thơ Hải Ngoại" ở San Diego, California, tôi rất thích bài "Sầu đại dương", bài nầy đã nói lên một cách sâu sắc những u hoài của nỗi lòng người tha hương.
Qua bài thơ "Lên đường", ta thấy nỗi nhớ nhà (nostalgia) của một người đi học xa nhà, nó cũng là nỗi niềm hoài hương của người viễn xứ hôm nay.
Lên đường
"Lễ hè qua thấp thoáng
Nay đến lúc lên đường
Về thủ đô ánh sáng
Trở lại dưới mái trường
Ðêm nghe như còn khuya
Tiếng gàsao thôi thúc
Thời gian buổi phân chia
Một đêm qua phút chốc
Hành trang mẹ đã lo
Gói con sao nặëng nhỉ?
Hé cửa đừng khua to
Mẹ già còn an nghỉ
Chó Phèn mừng ngoắc đuôi
Liếm tay nhìn thân mến
Nay ta đi chó ơi!
Giữ nhà, chờ hè đến
Ðuờng đất dọc ven sông
Lờ mờ trong sương lạnh
Nước xanh hiền mênh mông
Sậy lau run cô quạnh
Nhặt đá ném giữa dòng
Cho tan bầu cảm xúc
Tiếng rơi vang trên sông
Chìm trong dòng sương đục
Ðầu làng tẽ sang gò
Ra đường trời vừa sáng
Ðường quạnh hiu quanh co
Xe đò chưa ló dạng
Nhìn lại mái nhà thân
Sau cánh đồøng xanh biếc
Hàng cau ốm ngoài sân
Phất phơ như vẫy biệt
Mái nhà vừa nhả khói
Mẹ ta đã dậy rồi
Vắng ta mẹ không nói
Nhưng dạ chắc bồi hồi
Giã từ nhà thân mến
Giã từ cả đồng ruộng
Từ xa xe tiến đến
Cuốn theo chuỗi bụi hồng".
Trần Văn Linh
Trường hợp tướng:
9- Huỳnh Văn Nghệ (1914-1977)
Là một trường hợp đặc biệt phía bên kia mà tôi muốn nhắc tới. Ông cũng gốc xã Tân Tịch, quận Tân Uyên, sinh ngày 2-4-1914 tại làng Tân Tịch. Thay thế tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh Quân khu 7, trong đó có chiến khu Ð, chỉ huy Chi đội 10 Vệ Quốc Ðoàn, Tỉnh đội trưởng Thủ Biên. Tướng Nguyễn Bình bị điệu ra Bắc và bị Việt cộng báo cho Công an Pháp phục kích giết.
Huỳnh văn Nghệ thời còn chống Pháp là một nhà thơ yêu nước, ông đã tỏ khí khái:
Có ai về Bắc ta theo với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở nước
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
Vừa làm thơ vừa đánh giặc, giặc đây là giặc Pháp, ông xứng đáng là một nhà thơ chiến sĩ.
Chiến khu Ð gắn liền với tên tuổi của Huỳnh Văn Nghệ, tướng Pháp lừng danh Salan phải thán phục cách đánh đặc công của ông.
Chiến tích hiển hách của ông đánh dấu công trận kháng Pháp khi ông chỉ huy Việt Minh phục kính đánh tan đoàn công voa đi Ðà Lạt đốt 59 trong số 70 chiếc quân xa của Pháp tại Là Ngà, Trảng Bom quận Ðịnh quán, trên một đoạn đường dài 9km từ cây số 104 đến cây số 113 trên Quốc lộ 20 giết chết 150 lính Lê Dương và 25 sĩ quan Pháp trong số đó có viên Ðại tá Pháp De Résigné (giòng họ quý tộc), chỉ huy bán Lữ đoàn Lê Dương thứ 13 và Ðại tá Patruit, tổng Tham mưu phó đoàn quân viễn chinh, bắt sống 269 tây đầm dân sự và chữa thương cho Trung Úy Jeffrey trước khi trao trả yên ổn được báo chí Sàigòn đăng tải khen ngợi sự nhân đạo, dư luận bên Pháp và Sài Gòn bàn tán xôn xao thời bấy giờ, làm thay đổi về nhận thức chiến tranh dành độc lập.(Trần Quang Toại khi viết về trận đánh lịch sử trong cuốn "Ðồng Nai di tích văn hóa" đã theo lệnh cấp trên không dám đá động gì đến danh tánh viên chỉ huy mặt trận Là Ngà là Thiếu tướng Huỳnh Văn Nghệ.)
Viên Ðại tá Thalès chỉ huy trưởng khu vực Ðồng Nai bị giáng chức phải tự sát.
Hồi còn tỉnh Phước Thành (Nước Vàng), Tổng Thống Ngô Ðình Diệm muốn chặn họng kháng chiến, bổ nhậm Thiếu tá Nguyễn Minh Mẫn gốc Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt (con ông xếp ga Biên Hòa) làm tỉnh trưởng, Mẫn đã tử trận nơi đó (là bạn tác giả). Huỳnh Văn Nghệ đã đánh chiếm tỉnh Phước Thành, cứu mẹ cõng đi, người chú thứ chín của tôi là Ðỗ Hữu Châu xém chết khi đang làm Trưởng ty Bưu điện ở đó, sau ông Diệm phải đóng cửa tỉnh Phước Thành.
Huỳnh Văn Nghệ tập kết ra Bắc chỉ được mang lon Thượng tá, bí danh Tám Ngải, Phó Cục trưởng Cục Quân huấn. Trong Nam ông đã là Thiếu tướng (một quyển Tự điển gần đây cũng kêu ông là Thiếu tướng). Năm 1956, không có tổng tuyển cử như hội nghị Genève qui định, ông và một số đồng chí kéo ba Trung đoàn Giải phóng về bị quân chánh qui chận đánh gần sông Bến Hải, bị hạ tầng công tác làm huấn luyện viên thể thao rồi chuyển qua Cục Lâm nghiệp. Mỗi lần máy bay miền Nam không tập miền Bắc, ông bị nhốt lại, với các bạn là Francois Ðặng Trí Nhơn và Nguyễn Thanh Nhàn. Ngày được về Nam (đi B) ông Nghệ và các đồng chí lúc qua sông Bến Hải, đã hướng về Bắc xá dài ba xá, ngay việc này ông đã bị cán bộ Trường Sơn tên Thanh báo cáo.
Người kề cận với tướng Nghệ là thầy giáo Ngũ đã được sử gia Lương Văn Lựu nhắc qua trong bộ Biên Hòa Sử Lược Toàn Biên, ra Bắc nhờ có đạo Cao Ðài, chúng cho ông làm dân biểu bù nhìn trong Quốc hội miền Bắc đổi tên là Hoàng Minh Viễn. Sau 75, ông về làm Trưởng ban Dân vận Thành phố HCM, kiêm giáo sư trường Nguyễn Ái Quốc. Ông quê ở Tân Phú, Công Thanh, Biên Hòa.
Hồ chí Minh, biết dân Nam bất mãn vì bị bạc đãi, đã có chính sách Chiếu Cố Miền Nam, nhưng miền Nam đây là kể từ vĩ tuyến 17 trở vô nên thủ tướng Phạm Văn Ðồng đưa người Nam-Ngải của ông du học Quản Lý Hành chánh và Công An ở Liên Sô và Ba Lan, như Phó tiến sĩ Câu Lạc Bộ, Phó Tiến Sĩ Ðỉa (đỉa vắt) về làm Tỉnh Ủy, Chính Ủy; người Nam thực sự, phần lớn theo học kỹ thuật, theo chế độ Xã hội chủ nghĩa vẫn ở cửa con mà thôi.
Với chính sách Nhứt Kết, Nhì Cư, Tam Chiêu, Tứ Ngụy, sau 1975, Việt Cộng chủ trương thanh trừng tập kết trên hết, sợ các hảo hán miền Nam như thả hổ về rừng nên loại Francois Ðặng Trí Nhơn, tên thật Ðặng Văn Sum, con một chủ đồn điền, cựu học sinh Chasseloup Laubat đậu Tú tài II Pháp, rất giỏi tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp, là dượng rể của tôi (người chỉ huy Trung đòan tình báo xuất phát từ Thủ Thiêm đánh bót Catinat giải cứu rất nhiều đồng đội; đứa con vợ kế của ông cho tôi xem hình ông chết bầm dập sau khi bị điệu trở ra Bắc học tập); và Nguyễn Thanh Nhàn (rể ông Võ Bình Tây, tiệm bán đồ phụ tùng xe hơi lớn ở đường Trần Hưng Ðạo, sau 75, về tìm đào vũ khí của Cộng Hòa còn chôn dấu để trở vô bưng kháng chiến); cái chết của ông có nhiều bí ẩn. Riêng ông Huỳnh Văn Nghệ, lúc đó làm Tổng Cục Lâm Sản còn gọi là Cục Ðường Rừng (trưởng phòng nhân viên là còm mi Ấn, cha của Trung tá HQ Trương Thanh Tân hiện ở Florida) bị phủ Thủ tướng gọi ra Bắc học tập cải tạo vì đã chửi đảng như hai đồng chí trên. Ông bèn vào bệnh viện Chợ rẫy (còn là bệnh viện Hàn Việt) khai bệnh cốt để tá túc. Không ngờ bọn Bác sĩ Việt công sợ quá, đánh điện ra Bắc Bộ Phủ để xin chỉ thị. Lệnh từ Thủ tướng Phạm Văn Ðồng, là phải đem ông Nghệ lên bàn mổ mổ sống, không cần thuốc gây mê.
Khi người em ruột là cô sáu Nhạn vào thăm, ông đã chết, xác ông uất ức đã hộc máu ra, trái với tin trong bài viết của Ðỗ Quyên, nhà nước đã không cho gia đình mang xác ông về Tân Tịch, Tân Uyên chôn mà để cho bác và đảng chôn, lấy cớ vì ông là bậc công thần. Còn Ty Văn Hóa và Thông Tin Sông Bé trong "Bên Giòng Sông Xanh" với Hội Văn Học Nghệ Thuật Ðồng Nai thì ngụy tạo là ông Huỳnh Văn Nghệ mất năm 1977 tại thành phố Hồ Chí Minh sau một cơn đau dạ dày kéo dài và bị chảy máu nặng (???), và được đem về chôn ở làng Tân Tịch.
Cô sáu Nhạn, sau trốn qua Mỹ, được giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đưa tường trình về cái chết của danh tướng Huỳnh Văn Nghệ lên một Ủy Ban thượng viện gồm sáu Thượng nghị sĩ Mỹ, từ đó người Mỹ họ mới binh lá bài Võ Nguyên Giáp bằng cách nhờ cựu Tổng Lãnh Sự Brown mời ông này qua Mỹ luôn tiện thăm hai người con gái đã có quốc tịch Mỹ, nhưng ông đã không được gặp còn bị hạ tầng công tác coi Bộ cai đẻ ngồi chơi xơi nước, truất mọi quyền hành và không được xuất ngoại, tủi hổ thay cho người hùng Ðiện Biên Phủ, bị Bắc Bộ Phủ trù dập, chặt tay chặt chân các tướng thân tín như Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn. Mới đây tháng 5 năm 2002, tướng Võ Nguyên Giáp được mời qua Hội Thảo tại Lubbock, Texas do Ðại Học Texas Tech tổ chức, phái đoàn dự định gồm sáu người bị bãi bỏ vào giờ chót không một lời cắt nghĩa.
Ngay cả viên phó tướng một thời ở chiến trường Ðiện Biên Trần Ðộ, tên thật là Tạ Ðình Bách, là một người có công khuyển mã với chế độ, cho đến nỗi nhà văn Xuân Vũ còn nhắc ở trang 213 cuốn "Những bậc thầy của tôi": " Chính tên tướng Trần Ðộ đã có lập trường mạt sát quyển Bốn Năm Sau của tôi trên báo Văn Nghệ Quân Ðội. Tên nầy cũng mò mẫm viết văn để trở thành một trự Cộng Sản văn võ kiêm toàn, nhưng tới nay vẫn chỉ viềt được chỉ thị". Ngày nay tướng Trần Ðộ đã phản tỉnh và đã bị đảng khai trừ và bị cách chức cho đến khi chết còn bị trù dập và bạc đãi vì ông hô hào cho một chế độ dân chủ và tự do. Ông đã tâm sự là khi đau yếu không dám uống thuốc của nhà nước cho mà chỉ dùng thuốc của Ðinh Quang Anh Thái từ Mỹ gửi về vì sợ bị đầu độc.
Ðó là bài học sáng giá nhất cho những ai còn tin tưởng chế độ "nhân ái, khoan hồng, xoá bỏ hận thù" của người Việt Cộng Sản. Người có công của họ, mà họ còn vắt chanh bỏ vỏ, nói gì chúng ta lại là người chiến tuyến bên này.
Mời các bạn ghé thăm tiếng thơ Huỳnh Văn Nghệ để thưởng thức thêm một tiếng thơ yêu nước của một người xứ sở Tân Uyên:
"Dặm xa, vượt núi băng ngàn
Gặp Là Ngà, nghĩa bạn vàng kết đôi
Thề:" Dù trắc trở núi đồi
Cũng liều sống thác tìm trời tự do..."
"Lệ trời tràn ngập hồn thơ
Bao phen lũ hận chẻ bờ đau thương
...Gió ngang, thuyền ngược đôi dòng
Ðồng Nai hòa Thái bình Dương dâng trào"
(Sông Ðồng Nai)
Hãy dừng chân lại ở "Bên Bờ Sông Xanh" để thấy con người "văn nghệ" trong con người võ biền Huỳnh Văn Nghệ:
"Bờ sông xanh chiều hôm nay buộc ngựa
Kiếm gối đầu, theo gió thả hồn cao
Thơ tôi đây: cũng hoa bướm muôn màu
Lòng tôi đấy, cũng vui sầu như bạn
Tôi cũng biết nhớ thương, tơ tưởng
Ðâu chỉ là võ tướng hay thi nhân.
Tôi là người lăn lóc trên đường trần
Không phân biệt lúc mài gươm múa bút
Ðời chiến sĩ máu hòa chung lệ mực.
Còn yêu thương là chiến đấu không thôi.
Suốt một đời, gươm chẳng ráo mồ hôi
Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác?
Trên lưng ngựa múa gươm và ca hát
Lòng ta say chiến trận đến thành thơ.
Máu quân thù chảy đỏ quê hương ta
Còn có vần thơ nào hay hơn nữa!
Bạn đừng ngại người làm thơ mê ngủ
Quên cuộc đời, chỉ tìm mộng làm thơ.
Cũng đừng lo tôi say máu quân thù
Quên ghi chép những vần thơ tuyệt diệu.
Có chiến đấu thơ mới giàu vần điệu
Càng hát ca, gươm càng bén sắc thêm
Nợ kiếm cung, nghiên bút biết sao đền
Nếu không biết vừa làm thơ giết giặc?
Bờ sông xanh, chiều nay lòng dào dạt
Thơ ghi xong. Bến nước giục lên đường!"(15-10-1948)
"Gửi lại bạn mấy dòng thơ trên cát
Và chiều nay tôi sang bến lên đường."
Trái tim lớn Huỳnh Văn Nghệ sau bao năm thổn thức đã ngừng đập, cuộc sống đầy thử thách nghiệt ngã cũng như đầy lãng mạn hào hùng đã khép lại dưới nắm mồ sâu.
Tôi xin kết thúc với ông Huỳnh Văn Nghệ bằng bốn câu thơ khi ông lưu vong qua Bangkok, Thái Lan, trốn tránh Pháp:
"Ðêm hôm nay, nơi tha hương lữ thứ
Khách chinh phu dừng gót lại bên đường
Ánh sao mờ phía chân trời xứ sở
Như mũi gươm soi nhức nhối đoạn trường."
Ðể dặn lòng tôi không bao giờ khuây mối hận mất nước.
Người tập kết chiêu hồi về phe Quốc Gia lúc gần 1975 là :
10-Kỹ sư Hồ Văn Bửu,
Người gốc Bình trước, Biên Hòa, con ông Ðốc học Hồ Văn Tam, là người bị bắt trước tiên khi chúng cưỡng chiếm miền Nam, đến nay tôi được biết ông đã trốn qua Pháp, ông đốc Tam sau ứng cử vào Thượng viện liên danh Bác sĩ Hồ Văn Châm, nguyên Tổng trưởng Bộ Chiêu Hồi.
Thật thiếu sót nếu không nêu tên tuổi ba nhơn vật cũng đi vào lịch sử của Biên Hòa là Tổng Thống Lý Quang Diệu , Martine Bokassa và Việt Ấn.
11-Thủ tướng Lý Quang Diệu
Con một người Tiều, người gốc nông phu ấp Tân Thành (Sở Cải, Cây Chàm), BiênHòa, được một người Tàu Singapore nhận làm con nuôi hồi năm tuổi, lưu lạc và trở thành Thủ Tướng của xứ đảo sư tử (island-state) Singapore. Ông là vị Thủ tướng lâu đời nhất của Tân Gia Ba, người có công đưa xứ sở này lên hàng một trong Tứ tiểu long, lợi tức mỗi đầu người (per capita income) là hơn 10,000 đô một năm (ten thousands dollars club), so với lợi tức tính bổ đồng mỗi đầu người Việt Nam 240 đô la một năm; Singapore là nước Hồi Giáo, một trong bốn xứ Rồng Con (Tứ Tiểu Long) giàu mạnh mới của Ðông Nam Á, cùng với Ðài Loan, Hồng Kong, và Nam Hàn. Cách đây vài năm, sau khi về hưu, ông có trở về thăm sinh quán và được chính phủ Việt Nam Cộng Sản đón rước như quốc khách. Trước đó, lúc còn tại vị, ông có gửi đặc sứ về Việt Nam tìm ông anh ruột đạp xích lô để giúp đỡ
12- Martine Bokassa,
Cô bé Lọ lem tân thời, con rơi một lính viễn chinh gạch mặt Lê Dương (Légionaire) đánh mướn của Pháp và một bà gánh nước mướn, sau này ông trở thành Tổng Thống nước Cộng Hòa Trung Phi, một nước giàu có nhờ mỏ kim cương, Martine quê ở Cù Lao Phố, Biên Hòa, nhờ nhà báo Việt Ðịnh Phương tìm ra tông tích sau khi chính phủ đưa một cô bé khác da đen giả làm Martine; Martine thiệt sau trở thành Công chúa, một nhơn vật của chuyện thần thoại tân thời.
Tôi không nuối tiếc chi nhiều
Bởi tôi còn vệt nắng chiều để mơ