KHÁI-NIỆM I-1


Phần Một: Tương-Đối Vớ-Vẩn

--"Làm sao anh có thể nói cho nó hiểu nổi!"

     Thạch nhìn ông anh duy-nhất của mình rồi hai anh em cùng cười.  Anh Tung có một gương mặt hơi lạ, vì khi nhìn vào đó, người ta không phân-tích được hẳn-hòi cảm-giác người ta nhận được từ nó.  Đại-khái, Thạch thấy anh mình đẹp giai.  Mắt anh linh-động và thoáng vẻ tinh-nghịch; nhưng đôi mắt này thay đổi không ngừng để tùy-nghi với cái miệng và câu chuyện từng lúc.  Ở đôi mắt đó có một sức mạnh tinh-thần sáng lên, rọi ra ngoài, soi thẳng chiếu ở từng cái chớp; vẻ tinh-nghịch ẩn-hiện tỉ-mỉ, luôn luôn, trong mọi cái nhìn anh xoay theo mọi vấn-đề bàn-cãi: điều này làm người nói chuyện với anh hoang-mang không ít, vì ít ai biết được anh đang nghĩ gì, có đặt nặng vấn-đề bàn-cãi hay không, hoặc những câu anh nói ra thực-sự là ý-kiến của anh hay chỉ là câu anh đặt ra để hỏi vặn.
     Dzuyệt, bạn gái của Thạch, thường bảo: "Em nghĩ Socrates mà gặp anh Tung chắc ông ấy thích phải biết...Vì chắc chỉ có Socrates mới cãi lại anh ấy; và chắc anh ấy chỉ bầy-tỏ toàn-vẹn con người thật của mình với Socrates mà thôi."  Lúc đầu, Thạch cũng không phản-ứng gì cả, mặc cho Dzuyệt nói (hay theo cô nàng thì cô nàng đang phân-tích); về sau khi Dzuyệt cứ gặn Thạch hỏi Thạch nghĩ thế nào về điều mà nàng nghĩ, chịu không nổi nữa Thạch mới nhẹ-nhàng nói: "Theo anh thấy, có em thì không cần phải có anh Tung và Socrates nữa vì em nói hộ họ hết rồi."  Và khi Dzuyệt không hiểu ra ý chàng lại còn rúc vào lòng Thạch, âu-yếm kể chuyện về anh Tung, Thạch quyết-định không gặp cô nàng nữa.  "Chẳng thà nói chuyện với một "con thỏ" như cô Phương trong DÒNG SÔNG THANH-THỦY của Nhất-Linh!"  Thạch kết-luận cuộc tình ngắn-ngủi của chàng và Dzuyệt như thế với anh Tung.  Anh Tung chỉ cười.
      Nụ cười của Anh Tung đi đôi với đôi mắt anh.  Thạch cứ ngẫm-nghĩ mãi về sự song-trùng của hai bộ-phận giao-tế tối-quan-trọng ấy của anh mình: nó biểu-lộ hoàn-toàn sự nhịp-nhàng diễn-tả của ý-nghĩ.  Tuyệt một điều là, Tung có thể điều-khiển cho mắt và môi chàng biểu-lộ cùng một lúc hai điều khác nhau: mắt chàng có thể tinh-nghịch, nhưng nụ cười lại trấn-an ngay người đối-diện vì sự hiền-từ của nó; hoặc môi chàng có thể nhích lên chất-vấn, vặn-vẹo nghiệt-ngã, nhưng tia mắt vuốt-ve đối phương một cách khích-lệ.  Đối với Thạch, Tung là một người đàn ông bản-lĩnh và cao-quý, vì Tung nhất-định dùng bản-lĩnh của mình để "đi tìm sự thật...", "một trò chơi vô-hại."

     Tung dạy Vạn-Vật-Học tại một đại-học nhỏ thuộc tiểu-bang Iowa.  Trường nhỏ nhưng khá nổi tiếng vì faculty toàn những tay gộc đã chán bon-chen và lui về ẩn vào bóng tối hậu-trường.  Tung bảo với Thạch, chàng không có gì để dạy, chàng chỉ yêu nghề vì thích trêu khích học-trò để kéo ý-nghĩ bọn trẻ ra như "Ông Quảng trong xóm ngày xưa kéo kẹo kéo đậu phộng nước dừa." (Cười!)
     Ông giảng-sư trẻ, hoạt-bát, sạch nước cản đã chiếm được trọn-vẹn cảm-tình của mọi người trong trường, nhất là bọn sinh-viên tỉnh-lỵ ngớ-ngẩn nhất.  Và Tung cứ thản-nhiên đi thẳng con đường trí óc của mình qua biết bao nhiêu đời sống tâm-linh của những người đi chạm phải đường chàng.  Đầu óc phân-tích sáng-suốt của Tung xuyên ánh sáng tự-tin thủng rách mọi vấn-đề triết-lý được đem đến trưng-bày trước mặt anh: từ Descartes cho đến Dostoevsky, Thoreau, Camus, Andre Gide, và Merton cùng Aquinas, cho đến những nhân-vật của thần-học như Giê-Su cùng Thích-Ca.  Anh đều nghiên-cứu triết-lý sống và cái chết của họ một cách tường-tận.  Ý-nghĩ anh vững như bàn thạch về mọi vấn-đề.  Và càng vững hơn nữa khi họ, những người nói chuyện với anh, nghe anh minh-xác rằng: "Tôi nghiệm rằng có điều 'tuyệt-đôi', và đó có thể là niềm tin; nhưng vì những điều người ta gọi là sự-thật để đặt 'niềm tin' vào lại là tương-đối, nên tôi cho rằng chuyện đặt câu hỏi về những vấn-đề ấy  'tương-đối vớ-vẩn '.  Nghe anh nói câu này, nhìn mắt, môi, và dáng anh ngồi lúc ấy, người ta, có thể, sẽ cảm thấy hơi buồn cười, nhưng tự-nhiên ngần-ngại ngăn mình lại, không muốn cười: vì, có thể, người ta cũng biết một điều: anh để ý đến mọi việc dù nhỏ-nhặt hay quan-trọng, và không phân-tích chi-tiết mà gom chúng thành nhóm rồi phân-tích cùng một lúc.  Nghe thì thấy dễ, nhưng suy-nghĩ như anh rất khó.  Người ta, có thể, cũng biết thêm một điều: dù anh Tung có bị đặt vào hoàn-cảnh hay trường-hợp nào đi nữa, anh sẽ đợi khi đứng vững ở thời-điểm ấy trước đã, rồi mới tính chuyện khác; mà một khi anh đã đứng vững rồi, thì anh cũng đã tính xong tất cả mọi "possibilties" có thể xảy ra trong những trường-hợp có thể xẩy đến.  Anh tính nhanh đến nỗi, anh có thể, trong vòng hai phút đồng-hồ, vặn giải được chiếc cubic, soạn xong thực-đơn cho bữa ăn tối ngày hôm sau, và nghĩ xong bài giảng cho tuần tới.

     Một con người như vậy lại đi yêu thương một người đàn bà điên.  Nhạn, mới nhìn sơ qua, trông giống như một cô đào hát cải-lương.  Nàng ba mươi tám tuổi, lớn hơn Tung sáu tuổi.  Tóc Nhạn dài đến đùi, đẹp mượt-mà như một dòng suối huyền; nàng rẽ ngôi giữa và đằng trước mặt, tóc được vén gài sau hai vành tai.  Khi Nhạn ngồi, cô ta hay vuốt mái tóc sang một bên vai, nắm tròn một bó vào trong lòng bàn tay trái và nghịch với bó tóc.  Nhạn thường mặc chiếc áo đen ngắn tay, loại áo một mảnh các vũ-công ballet thường mặc khi tập-dượt, và những chiếc váy nền đen rộng, dài đến gót chân có điểm những lằn nét hay chấm hoa vàng, tím, aquarius.  Cô nàng ít nói, lúc nói, giọng người đàn-bà ướt dượt và âm chữ dính vào nhau như cơm nếp nhão.  Khi nghe Nhạn nói, Thạch tưởng-tượng ra khi chàng phải ăn thứ cơm nếp ấy suốt một tuần liền.  Nhưng nhìn kỹ, cùng nghe kỹ những câu Nhạn nói, Thạch phải công-nhận Nhạn là người đàn-bà thẳng-thắn, thành-thật hiếm-có, và nàng có duyên ngầm, lại là một yếu-tố hiếm-hoi thứ hai.



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả