Nhớ về một vương quốc xa xưa: Phù Nam , ph.II
III.Điểm qua vài thư tịch cổ viết về Phù Nam
Danh xưng “Phù Nam” là gọi theo tiếng Trung Quốc, có lẽ do họ phiên âm từ tiếng Môn-Khơme cổ “boman”.(ngày nay nó được đọc là “phnom”, có nghĩa là núi, và các vua của vương quốc này đều lấy vương hiệu là “ kurung boman” có nghĩa là “vua Núi”).
Thủ đô của Phù Nam có thể là Vyađapura, gần ngọn núi Ba phnom ở làng Banam, thuộc tỉnh Prây Veng.(ngày nay vẫn còn giữ nguyên tên cũ- Có giả thuyết khác cho rằng thủ đô đặt ở Angkor Borei)
Và quyển sách có niên đại sớm nhất đề cập tới Phù Nam là Dị vật chí của Dương Phù thời Đông Hán (25-220).
Đến thời Tam Quốc (220-280), Phù Nam đã thiết lập quan hệ bang giao với nước Ngô.
Theo Ngô thư thì vào tháng chạp năm Xích Ô thứ sáu (243), Vua Phù Nam là Phạm Chiên sai sứ sang dâng nhạc công và nhiều sản vật địa phương.Sau này khi đánh chiếm Giao Châu và Cửu Chân, Vua Ngô cũng đã sai người đến các nước phương Nam.Vua các nước Phù Nam, Lâm Ấp và Minh Đường đều sai sứ dâng cống.
Sách Lương thư còn cho biết Tôn Quyền nước Ngô đã sai Chu Ứng và Khang Thái đi sứ các nước phía Nam, trong đó có Phù Nam. Sau khi đi sứ về, Khang Thái có viết quyển Phù Nam thổ tục còn gọi là Phù Nam truyện (người soạn có nhắc đến ở phần đầu).
Các sách có liên đại muộn hơn vào các thế kỷ VI-VII như Trần thư, Tuỳ thư, Thông điển, Tân Đường thư... đều có chép khá tỉ mỉ về vương quốc.
Như vậy, những nguồn sử liệu thư tịch kể trên không chỉ ghi nhận sự tồn tại của Vương quốc Phù Nam mà còn ghi nhận các mối quan hệ rộng và rất thường xuyên của vương quốc này với các triều đại phong kiến Trung Quốc.
Không chỉ vậy, qua những dấu tích vật chất ta biết họ còn có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài như Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải.
Theo một văn bản viết hồi thế kỷ thứ V do nhà học giả Pháp P.Pelliot dẫn dụng, thì vua Phù Nam là Phạm Chuyên có phái sứ thần của mình sang Ấn Độ. Sứ thần được đón tiếp nồng nhiệt và lúc ra về họ được vua triều Murunđa trao cho 4 con ngựa chiến để đem về tặng nhà vua Phù Nam…
Tuy nhiên, trong một thời gian dài nền văn minh cổ đại của cư dân Nam Bộ chỉ được biết đến qua các thư tịch cổ.
Cho đến năm 1944, nhà khảo cổ học Pháp Ma-lơ-rê (Louis Malleret) đã tiến hành một cuộc khai quật có ý nghĩa lịch sử ở địa điểm Óc Eo. Nhiều di tích kiến trúc và hiện vật quý đã phát hiện.
Sau này còn nhiều cuộc khai quật khác nữa, và tất cả cho thấy nền văn hoá này phân bố rất trù mật trên địa bàn các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang và nhiều địa điểm khác thuộc đồng bằng Nam Bộ…
IV. Phù Nam: hưng thịnh và suy tàn
1/ Thời hưng Thịnh:
Phù Nam là một quốc gia ven biển mà trung tâm là vùng Nam Bộ ngày nay của Việt Nam, cư dân chủ thể là người Mã Lai- Đa Đảo có truyền thống hàng hải và thương nghiệp khá phát triển .
Trong quá trình mở rộng ảnh hưởng từ thế kỷ III đến thế kỷ V, khoảng năm 205-255, bắt đầu từ triều đại Phạm Sử Nan (Fan-Che-Nan), Phù Nam liên tục thôn tính hơn chục nước, mở rộng lãnh thổ đến 5,6 nghìn dặm bao gồm các nước Đô Côn, Cửu Trì, Đốn Tốn, Xích Thổ, Bàn Bàn, Đan Đan vv...những tiểu quốc này đều nằm trên bán đảo Mã Lai và một phần hạ lưu sông Mê Nam.
Lúc bấy giờ, họ kiểm soát hầu hết các lộ giao thông nội địa từ vùng Khánh Hòa ngày nay, qua thung lũng sông Nê Mam, xuống tận bán đảo Malaixia; khống chế nền thương nghiệp hàng hải cả miền Đông Nam Á, hình thành, phát triển thành một đế chế lớn mạnh và tự xưng là Phù Nam Đại Dương.
2/ Và suy tàn:
Vào thế kỷ thứ V, tiểu quốc của người Cát Miệt, lúc bấy giờ ở vùng trung lưu sông Mê Kông và khu vực phía Bắc Biển Hồ, lấy nông nghiệp là nghề sống chính, cũng trở thành một thuộc quốc Phù Nam.
Cát Miệt chính là phiên âm chữ Hán tộc danh khơ-me. Trong nhiều thư tịch cổ, thuộc quốc này về sau có tên gọi là Chân Lạp (Tchenla)
Mặc dù là thuộc quốc của Phù Nam, nhưng Chân Lạp đã nhanh chóng phát triển thành một vương quốc độc lập vào thế kỷ VI và nhân sự suy yếu của Phù Nam sau một thời kỳ phát triển rực rỡ, họ đã tấn công chiếm lấy một phần lãnh thổ của đế chế này.
Theo tài liệu cổ của Trung Quốc, Phù Nam bị xâm chiếm vào khoảng năm 550, nhưng vẫn còn chống giữ đến năm 627…
Để chỉ phần lãnh thổ Phù Nam kia, sách Trung Quốc gọi là "Thủy Chân Lạp'', nhằm phân biệt với vùng đất “Lục Chân Lạp”, tức là vùng đất gốc của Chân Lạp.
Mặc dầu chiếm đoạt được, nhưng trên thực tế, việc cai quản vùng lãnh thổ mới này đối với Chân Lạp gặp rất nhiều khó khăn.
Trước hết, với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao, dân số còn ít ỏi, người Khơ-mer khi đó khó có khả năng tổ chức khai thác trên quy mô lớn một vùng đồng bằng mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy.
Hơn nữa, việc khai khẩn đất đai trên lãnh thổ của Lục Chân Lạp đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực. Việc cai trị xứ Thủy Chân Lạp vì vậy vẫn phải giao cho những người thuộc dòng dõi Vua Phù Nam.
Theo những tài liệu bi kí còn lại có thể thấy rằng, vào thế kỷ thứ VIII tại vùng trung tâm của Phù Nam trước đây vẫn còn tồn tại một tiểu quốc tên là Aninđitapura, do một người dòng dõi vua Phù Nam tên là Baladitya trị vì.
Và khi Phù Nam tan rã là lúc nhiều vương quốc nhỏ vốn là thuộc quốc hoặc chư hầu cũ nổi lên thành những nước mạnh. Trong số đó có Srivijaya của người Iava.
Vào nửa sau thế kỷ VIII, quân đội nước này đã liên tục tiến công vào các quốc gia trên bán đảo Đông Dương.
Kết cục là Thủy Chân Lạp bị quân Iava chiếm. Cả vương quốc Chân Lạp gần như bị lệ thuộc vào Srivijaya. Cục diện này mãi đến năm 802 mới kết thúc.
Vậy, trong vòng gần một thế kỷ, vùng đất Nam Bộ lại nằm dưới quyền kiểm soát của người Iava.
Trở lại vấn đề, một trở ngại khác nữa trong việc cai quản và phát triển vùng Thủy Chân Lạp là tình trạng chiến tranh diễn ra thường xuyên giữa Chân Lạp với Chăm pa, nên mãi cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ hãy còn thưa thớt
Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu gần đây nhất, có thể thấy những di tích khảo cổ học mang dấu ấn Chân Lạp trên đất Nam Bộ trước thế kỷ XVI không nhiều, và ảnh hưởng văn minh Angkor ở vùng này cũng không đậm nét.
Rồi bắt đầu từ cuối thế kỷ XIV, Chân Lạp còn phải đối phó sự bành trướng của các vương triều Xiêm từ phía Tây, đặc biệt là từ sau khi Vương triều Ayuthaya hình thành vào giữa thế kỷ XIV.
Trong suốt 78 năm (từ 1353 đến 1431), Ayuthaya và Chân Lạp liên tiếp có chiến tranh trong đó chủ yếu là những cuộc tiến công Chân Lạp từ phía người Thái. Trong thời kỳ đó, có lúc kinh thành Angkor đã bị quân đội Ayuthaya chiếm đóng.
Sang thế kỷ XVI, và nhất là từ thế kỷ XVII, do sự can thiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp bì chia rẽ sâu sắc.Vương quốc này dần bước vào thời kỳ suy vong.
Trong bối cảnh như vậy, Chân Lạp hầu như không có khả năng kiểm soát đối với vùng đất còn ngập nước ở phía Nam, vốn là địa
phận của Vương quốc Phù Nam.