Nhà Tây Sơn, vì sao chóng suy vong? Ph. II
4/Sai lầm chiến lược, chiến thuật :
a. Việc vây kinh thành Quy Nhơn :
Năm 1800–1801, Trần Quang Diệu vây kinh thành Quy Nhơn cũ của vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) vừa mới bị quân Nguyễn Ánh đánh chiếm. Trận vây thành rồi bị cầm chân kéo dài gần một năm ở đây, tạo thời cơ tốt cho Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân rồi bắt sống Quang Toản.( tướng thủ thành của nhà Nguyễn là Võ Tánh tự vẫn chứ không giao thành )
b. Trận chiến đấu cuối cùng tại Lũy Trấn Ninh :
Tóm tắt theo sử sách, bà Bùi Thị Xuân cưỡi voi liều chết đánh lũy Trấn Ninh, nơi Nguyễn Ánh đang cố thủ, từ sáng đến trưa chưa chịu lui. Rồi bà còn giành lấy dùi tự tay thúc trống liên hồi.Lúc bấy giờ Nguyễn vương cùng tướng tá đã hốt hoảng vội chia quân vượt sông Linh Giang đánh bọc hậu hòng mở đường máu thoát thân.
Nào ngờ vua Cảnh Thịnh nhát gan thấy quân Nguyễn tràn qua nhiều, tưởng nguy khốn liền cho lui binh.Ngay lúc đó bà cũng nhận được tin Nguyễn Văn Trương phá tan thủy binh của Tây Sơn ở cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình) cướp được hầu hết tàu thuyền và tướng giữ cửa Nguyễn Văn Kiên cũng đã đầu hàng .
Trước tình thế đang thắng thành bại này đội quân của bà Bùi Thị Xuân bỏ cả vũ khí, đạn dược để chạy …
Đây có thể nói là trận chiến đấu oanh liệt cuối cùng của bà để hòng cứu vãn tình thế.Nhưng ngờ đâu nhà Tây sơn, sau trận này thêm trượt dài trên đà suy vong, không sao gượng lại được nữa…
Viết về những sai lầm này, Ngô Giáp Dậu- cũng trong sách nêu trên- phê phán việc quân của vua quan nhà Tây Sơn như sau:
Vây thành Qui Nhơn mà lại rút bỏ đồn quang trọng ở cửa Thị Nại, đến đánh ở sông Trường Giang mà bỏ mất kinh đô Phú Xuân. Rốt cuộc phải chạy ra Đông Cao để rồi lại đưa quân quyết chiến bên giòng Linh Thủy, cuối cùng bị cướp ở Xương Giang, thân phải chịu cảnh bị đóng củi cầm tù…
5/ Thế lực Nguyễn Ánh mỗi ngày thêm lớn mạnh:
-Công tâm mà nói, chúa Nguyễn cũng là một hào kiệt có thừa dũng chí, dù bị thua hết trận này đến trận khác, chạy trốn hết nơi này đến nơi khác, bao lần đối đầu với “cái chết trước mắt”; vẫn không từ bỏ quyết tâm giành lại cơ đồ.
Mãi đến khi chúa Nguyễn “đem giang sơn về một mối, nam bắc một nhà” rồi chính thức lên ngôi vua, ông đã ở tuổi 40 (1802); nghĩa là Nguyễn Ánh đã “ nằm gai nếm mật” suốt 24 năm dài!
-Bên cạnh chúa Nguyễn cũng không hề thiếu những tướng sĩ tài giỏi, chiến đấu khá thuần thục trên địa hình vùng sông nước Nam Bộ.Thêm nữa, ông còn được đa phần cư dân miền Nam, nơi giàu thóc lúa góp công, góp của và còn tin yêu:
" Lạy trời cho nổi gió nồm,
Cho thuyền chúa Nguyễn dong buồm ra khơi."( để tiến ra miền Trung, đánh quân Tây Sơn)
- Nguyễn Ánh là người gặp nhiều may mắn và cũng là người biết tận dụng cơ hội:
Vừa 4 tuổi, cha mất.16 tuổi chỉ riêng mình ông chạy thoát rồi được tướng sĩ tôn làm chúa soái, thay thế Duệ tông &Mục tông bị Nguyễn Huệ bắt rồi giết chết năm 1776.
Sau này, Nguyễn Ánh còn gặp nhiều lần may mắn nữa, xin chỉ kể hai chuyện để minh họa:
-Tháng 8 năm 1783, quân Tây Sơn truy kích, Ánh chạy một vòng ra các đảo Cổ Long, Cổ Cốt rồi lại quay về Phú Quốc. Quân Tây Sơn vây đánh nhưng ngay lúc đó có bão biển, các thuyền Tây Sơn phải giãn ra, sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển, Ánh thừa cơ lại trốn thoát chạy hẳn ra đảo Thổ Chu cách thật xa đất liền …
- Ở bài soạn về Tả Quân Lê Văn Duyệt (1764- 1832), tôi đã ghi:
Năm Lê Văn Duyệt lên 17 tuổi, một cơ may đến với ông là, đêm hôm đó chúa Nguyễn bị quân nhà Tây Sơn đuổi gấp. Nhờ mưa to gió lớn tàu thuyền của đối phương không đuổi kịp.Tưởng vậy đã yên, nào ngờ khi vừa đến Vàm Trà Lọt thì thuyền chở chúa bị sóng lớn làm cho suýt chìm.Lê Văn Duyệt xuất hiện đúng lúc, cứu Nguyễn Ánh thoát nạn. Biết là gặp dòng dõi chúa Nguyễn, cụ Lê Văn Toại hết sức cung kính, cho tất cả tạm trú ở đây, nhân đó ông Duyệt được tuyển dụng làm thái giám .
-Mặc dù sau lần cử Giám mục Bá-đa-lộc cùng hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện không thành .Nhưng nhờ vị Cha cố hết lòng này kêu gọi và thuê mướn, nên dưới trướng Nguyễn Vương lúc bấy giờ đã có nhiều quan chức người nước ngoài đảm nhiệm việc mua sắm vũ khí của phương tây, xây dựng thành lũy, huấn luyện quân đội theo phương pháp hiện đại.
Và có thể nói Nguyễn Ánh là người luôn biết chớp thời cơ như chuyện nhân anh em nhà Tây Sơn lục đục mà đánh chiếm Gia Định vào năm 1788 như vừa kể trên là một ví dụ.
Nói gọn, tất cả cho thấy, tài năng của Ánh không sao sánh bằng Nguyễn Huệ, nhưng sau khi Huệ chết, khó có ai là đối thủ của ông ta.
6.Nguyên do cuối cùng:
Sau những chiến công vang dội của nhà Tây Sơn mà người nổi trội hơn cả là Nguyễn Huệ, như: lần lượt tiêu diệt hai tập đoàn phong kiến thối nát Trịnh - Nguyễn, đánh tan năm vạn quân Xiêm (1784) và 20 vạn quân Mãn Thanh xâm lược( 1789) cùng sự cai trị khôn khéo của người anh hùng này như nghiêm trị bọn cướp bóc, bênh vực người yếu, lấy gạo tiền của kẻ giàu quen thói bốc lột chia sẻ cho phận khốn cùng vv…
Vậy mà, ngay khi lòng quân dân đang hồ hởi, tin yêu vào vị “anh hùng áo vải”( xuất thân cùng tầng lớp của họ) thì cũng là lúc Nguyễn Huệ đột ngột mất đi trong khi nhiều mặt của một triều đại non trẻ vẫn chưa có gì khởi sắc; mà liền sau cái chết ấy, người ta chỉ thấy một triều chánh rạn vỡ mau chóng vì tranh giành quyền lợi, quyền lực…một xã hội luôn bị xáo trộn vì nạn đao binh, vì thói cát cứ của các thế lực …
Tất cả đã khiến lòng quân dân trở nên ngán ngẩm, thất vọng rồi phai nhạt dần niềm tin yêu…
Và những dòng mà tôi cố ý tô đậm ngay bên trên, theo tôi đó mới chính là nguyên do bao trùm mọi nguyên do, khiến nhà Tây Sơn tiêu vong chóng vánh …
II.Thay lời kết:
Trong sách Việt Nam Sử Lược, đánh giá triều đại Tây Sơn, Trần Trọng Kim viết:
Nếu kể từ năm mậu thân (1788) đến năm nhâm tuất (1802) thì nhà Tây Sơn chỉ làm vua được có 14 năm mà thôi.
Trong bấy nhiêu năm phải đánh nam dẹp bắc luôn, không mấy lúc nghỉ việc chiến tranh, cho nên nhà Tây Sơn không sửa sang được việc gì nhiều.
Vả sau khi vua Quang Trung mất rồi, vua thì hèn, quan thì nhũng, chính trị bỏ nát, lòng người oán giận, ai cũng mong mỏi được thời thịnh trị để yên nghiệp mà làm ăn.
Bởi vậy cho nên khi vua nhà Nguyễn cất quân ra Bắc, lòng người theo phục, chỉ một tháng trời mà bình được đất Bắc Hà, đem giang sơn về một mối, nam bắc một nhà, làm cho nước ta thành một nước lớn ở phương nam vậy.
Bùi Thụy Đào Nguyên
(Những tài liệu tham khảo tôi đều đã nêu trong bài )