Hoang-Mang
"Biển rộng sóng động...đời rộng nẩy sầu
Hoàng-Ân là chữ...ủy-mị ươn-hèn...cương nhu tự trị
Đời rộng và sâu...thượng-đế đứng chờ
Con thơ chập-chững!"
(Hoàng-Ân)
Con người được trở thành là làm một với tất cả sinh-linh do từ chính sự cùng hiện-hữu. Sự sống mù-lòa đà đẩy, nếu ta nhìn con ruồi bay lạc vào nhà, con thiêu-thân lao mình vào ánh sáng, con dơi bay đêm tìm ăn nhờ vào cảm-ứng luồng nhãn-điện mà mắt người không thấy được. Loài vật, như bò, như ngựa, và loài sâu bọ, cho chí loài ong, bướm hút nhụy hoa: tất cả chỉ sống để ăn; ngay cả bao-tử những nông-súc có bốn túi chỉ để tiêu-hóa thứ cỏ mà loài người khi đói rã cũng không thể nhai được. Và rất ít người trong xã-hội không than-phiền về nợ áo cơm. Hãy không nói đến những kẻ trong cương-vị lèo-lái những quốc-gia, vì họ thuộc về một liệt-kê bên ngoài kẻ thường-dân, những tâm-trí ngoắt-ngoéo như lưỡi nhiều đường lắt-léo, trớ-trêu chỉ để ta chọn cái ít độc hơn, "the lesser of two evils". Những kẻ may-mắn hơn dù sao cũng đã có được mảnh bằng và tìm được việc làm cổ trắng, tức là lao-tâm; những ai không chịu được sự gò-bó của công-việc bàn giấy, dù sao cũng có đủ sức khoẻ và cơ-hội để làm những công-việc cổ xanh là lao-lực bên ngoài bốn bức tường. Nhưng bao giờ cũng thế: trong mọi xã-hội nhân-quần từ cổ-đại, "cách-mạng đến, cách-mạng đi, nghèo đói vẫn tồn-tại": có những con người bần-cùng chỉ mong được như những con vật để có thể được nuôi ăn và bao-tử có thể tiêu-hóa được loài cỏ là loài mọc lan-tràn mặt đất. Những người sinh ra và lớn lên trong một môi-trường vật-chất và trở thành kẻ tiêu-thụ những sản-phẩm thị-trường khó có thể nhìn thấy nguyên-lý "biết đủ là đủ", nên cũng không tin rằng bản-chất của sự sống vẫn mù-lòa: vì khi kẻ bần-cùng "giật áo vá vai" nhịn bữa sáng, lo bữa trưa và có khi không biết có được một bữa tối hay không: họ vẫn đói, rét, sợ, khổ, đau của thể-xác trong túng-quẫn, dù cho bần-cùng thế nào, bản-năng sinh-tồn vẫn tìm cách bám-víu vào sự sống. Cái đói của phần đông người giàu chỉ tô hoa điểm phấn làm họ xa cách với nguyên-lý "nhiễu điều phủ lấy giá gương": để chỉ sống vừa đủ hầu nuôi-dưỡng sức khoẻ và những gì còn dư lại thì chia-sẻ với người thiếu-thốn. Nhưng ngay cả Lão-Tử đã than rằng bản-năng con người thì đáng lý ra lấp chỗ dư bù chỗ thiếu lại lấy của chỗ thiếu bù thêm vào chỗ dư. Dù cho là theo Marxism hay theo Tư-Bản: gốc của những chính-thể ấy vẫn là vật-chất và duy-vật mà thiếu nguyên-lý tinh-thần là vấn-đề thuộc về tình-cảm. Hơn thế nữa bản-chất con người trong mọi xã-hội của thời đương-đại vẫn theo tinh-thần bộ-lạc, dù đó có là tự-ái quốc-gia hay chủng-tộc. Cộng-Sản có lý-thuyết đại-đồng, nhưng cộng-sản Nga vẫn chống cộng-sản Tàu, v. v... Trên lý-thuyết bao giờ một lý-tưởng cũng tốt đẹp, thế nhưng vì con người tạo nên guồng-máy xã-hội với những cơ-chế bó-buộc ngay cả khi mà "công-lý mù" ("Justice is blind"): không một người già-giặn chốn trường đời có thể phán-quyết dù lạc-quan đến đâu rằng có thể có được trong lịch-sử nhân-quần một nền hòa-bình thế-giới trường-tồn. Ngay chính những vĩ-nhân tạo-lập nên những tôn-giáo thường cũng không tránh những cái chết bi-thảm mà rốt-ráo thì cũng như những con vật tế-thần cho lý-tưởng của họ!
Tối nay, mùa lễ Tạ Ơn của Hoa-Kỳ vừa qua, tôi nhớ lại câu hỏi trớ-trêu của một người bạn cũ người Da Đỏ nói với tôi vào một mùa lễ Tạ Ơn năm xưa khi hai chúng tôi có con đi học trường tiểu-học và thầy cô ở trường tổ-chức bữa tiệc tại trường cho học-sinh: "Khi xã-hội Mỹ tổ-chức lễ Tạ Ơn hằng năm và có những chiếc mũ giấy cắt hình vòng mũ của người Da Đỏ, chúng tôi cay đắng lắm, vì đáng lý ra họ phải nhớ đến "Con Đường Nước Mắt" (The Trail Of Tears) và những Native American Reservation. Vậy những người Da Đỏ chúng tôi nên gọi lễ Tạ Ơn là gì?" Tôi bỗng ngậm-ngùi nghĩ đến bài thơ "Con Ngựa" của thi-sĩ quốc-nội Việt-Nam Bùi Chí Vinh! Có thật rằng như mồ-hôi, máu và nước mắt con người cùng mang chất muối như đại-dương mênh-mông phủ tràn địa-cầu: sự hiện-hữu của mọi sinh-linh cùng phát-xuất từ một nguồn sống ràn ứa nguyên-lý sáng-tạo: có phải chúng ta chỉ nghĩ đến nhau từ sự chứng-nghiệm nỗi đau trong nhau?
Chúng nó nhảy lên anh làm ngựa
Khiến lưng anh trổ lông và
gáy mọc ra bờm
Anh vừa hí vừa vặn mình nôn mửa
Một đống lạ-lùng nửa áo, nửa cơm
Chúng nó lại treo trước đầu anh
một giỏ hoa thơm
Có mùi văn-chương, có hương nghệ-thuật
Anh nghiến răng cuống-cuồng nhai nuốt
Đến khi ợ mới biết mồm tàn-tật
Chúng nó lại bảo anh ăn tươi sự thật
Nên nước mắt em đã đọng lại thành chuông
Anh cố sải, dù bốn chân cà-nhắc
Để thấy mình có một quê-hương.