Bùi Thụy Đào Nguyên
[ Thi Hữu | Nhắn Tin]


Nhớ Nguyễn Tri Phương...phần II

IV. Gia Định thành bị san bằng:

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,

Mất ổ bầy chim dáo dác bay

Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây

(Nguyễn Đình Chiểu)

***

Năm sau (1859),đô đốc Rigault de Genouilly liệu bề tiến không được, hắn bèn cho quân chuyển hướng đánh thành Gia Định là một nơi dễ lấy, và lại là một nơi trù phú của nước ta.

Ngày 11-2-1859, bảy tàu chiến Pháp vào sông Cần Giờ.Thế rồi chúng cho bắn phá và chiếm ụ Hữu Bình (16-2).

Sau khi chúng cho 2 tàu nhỏ men theo rạch Thị Nghè thám thính, vào ngày 17-2-1859, quân Pháp đổ bộ tấn công thành Gia Định.

Giặc dùng trái nổ, dùng thang cao, đánh xáp lá cà. Đến trưa thì thành bị hạ. Hộ đốc thành là Vũ Duy Ninh và án sát Lê Từ tự vẫn.

Việt Nam sử lược kể vắn tắt như sau:

“Quân Pháp vào cửa Cần Giờ, bắn phá các pháo đài ở hai bên bờ sông Đồng Nai, rồi tiến lên đánh thành Gia Định.


Ở Gia Định, bấy giờ tuy có nhiều binh khí, nhưng quân lính không luyện tập, việc võ bị bỏ trễ nải, cho nên khi quân Pháp ở cửa Cần Giờ tiến lên, quan hộ đốc là Vũ Duy Ninh vội vàng tư đi các tỉnh lấy binh về cứu viện; nhưng chỉ trong hai ngày thì thành vỡ. Vũ Duy Ninh tự tận.

 Quân nước Pháp và nước I Pha Nho vào thành, lấy được 200 khẩu súng đại bác, 8 vạn rưỡi kilos thuốc súng và độ chừng 18 vạn phật lăng (francs) cả tiền lẫn bạc, còn các binh khí và thóc gạo thì không biết bao nhiêu mà kể...”

Sau đó, vì thực dân không đủ quân trấn giữ nên đã chiếm lấy 9 chiến thuyền và nhiều thuyền gỗ nhỏ trên sông Thị Nghè, đốt hết  kho thóc gạo và san phẳng thành Gia Định. Tính tất cả theo thời giá khoảng 20 triệu quan.

( Theo A.THOMAZI, trong thành có hơn 2000 quân với 200 đại bác, một hải phòng hạm, 7 chiến thuyền, nhiều thuyền gỗ, 25000kg thuốc súng, tiền bạc trị giá 130.000 fr và thực phẩm đủ nuôi 8000 quân trong 1 năm)

Trận đánh này, phía Pháp 12 người chết và 200 bị thương, quân triều đình không rõ số thương vong, nhưng súng đạn mất sạch và quân lính tan rã gần hết.

Nghe tin Gia Định thất thủ, triều đình lo sợ cho riêng mình, nên vẫn để đại quân phòng ngự Đà Nẵng, chỉ phái Tôn Thất Hiệp mang 1500 quân vào đóng ở Biên Hòa.

V.Đại đồn Chí Hòa, chiến lũy lớn nhất của non sông Việt thời bấy giờ, bị thất thủ (24-25/2/1861), khởi đầu một thời kỳ nô lệ:

Năm 1860, Nguyễn Tri Phương được sung chức Gia Định quân thứ, thống đốc quân vụ cùng tham tán đại thần Phạm Thế Hiển trông coi việc quân sự ở miền Nam.

Do không nắm vững tình hình quân sự và chính trị của Pháp, Nguyễn Tri Phương không hơn gì tướng Tôn Thất Hiệp, dù ông có chủ trương “công thủ”(vừa đánh vừa thủ) nhưng trong thực tế, ta không thấy ông tổ chức được cuộc tấn công nào có tầm cỡ,  dù lực lượng thực dân khi ấy còn rất ít.

Chỉ có một điểm khác duy nhất là ông gom hết sức lực của quân dân, không phải để đánh hay để phối hợp với các đạo quân “ứng nghĩa” đang làm cho giặc rất lo sợ; mà là để đổ trút vào việc xây dựng đại đồn Chí Hòa (Pháp gọi là Kỳ Hòa), cốt  chỉ để  bao vây địch lại, không cho chúng bung rộng ra mà thôi…

Nói thêm về quân “ứng nghĩa”:

Trong khi quan quân nhà Nguyễn rút chạy, thụ động thì nhiều sĩ phu yêu nước đã quay về thôn xã chiêu mộ nghĩa binh chống giặc.

Đó là những đạo quân của: Đỗ Trình Thoại, Trương Định, Phủ Cậu, Thiên hộ Dương, Quản Tu vv.... Chính sức đề kháng quyết liệt này mà tên tổng chỉ huy Charner phải bó tay, xin từ chức!

Trở lại chuyện, theo G.s Trần Văn Giàu lúc bấy giờ, địch mắc chiến tranh ở Âu châu ( can thiệp vũ trang vào Syrie và xung đột với Thổ Nhĩ Kỳ). Vì thế thực dân không hy vọng được tăng viện từ Pháp.Ở Trung Quốc, bị nhà Thanh chống cự lại, nên chúng rút phần lớn quân ở Gia Định sang tiếp viện bên đấy.

Ấy vậy mà quan quân  triều đình  không hề hay biết nội tình bọn chúng để phối hợp với quân “ứng nghĩa’ thừa cơ phản công, bỏ lỡ một cơ hội đánh đuổi giặc, thật đáng chê trách.

1/ Đại đồn Chí Hòa và tương quan lực lượng đôi bên trước khi giao chiến:

 

-Đại đồn Chí Hòa: G.s Trần Văn Giàu mô tả ví von rằng: xem địa đồ, hình thế đại đồn giống như tấm thân một lực sĩ mà 2 dải chiến hào như là 2 cánh tay dang ra ôm Sài Gòn- Chợ Lớn và như muốn sẵn sàng hất tung kẻ địch xuống sông Bến Nghé…

 

Thật vậy, đại đồn dài độ 3 cây số, ngang 1 cây số, là một chiến lũy lớn nhất của Việt Nam.

 

Đồn chia thành 5 khu, xung quanh có thành đất và đá ong, nhiều lớp rào tre, hầm hố, chông bẫy...; phía sau có các đồn nhỏ yểm trợ (Tham Lương, Thuận Kiều, Rạch Tra...), ở hai bên có chiến luỹ dài (đồn tả và đồn hữu) làm điểm tựa nhằm ngăn chặn và giam chân quân Pháp ở Sài Gòn.

 

-Tương quan lực lượng đôi bên trước khi giao chiến:

 

Đầu năm 1861, phần lớn quân Pháp bị kẹt bên Trung Quốc vì chúng bị triều đình nhà Thanh chống cự quyết liệt; nên ở đất Gia Định thực dân chỉ có khoản 800 quân đóng rải rác.(thế mà nhà Nguyễn cứ “hòa không hòa, đánh không đánh”).

 

Ngay khi điều ước Bắc Kinh được ký, quân Pháp tập trung quân tại Ngô Tùng (Thượng Hải) vào giữa tháng 12/ 1860, để kéo về chi viện cho mặt trận Gia Định.

 

Đạo quân viễn chinh này gồm: 2200 quân Pháp, 600 dân phu bị bắt ở Quảng Châu. Từ Pháp, tăng chi viện thêm 900 lính nữa, cộng với số 800 quân đã có sẳn ở Gia Định, Chợ Lớn, thì tất cả lực lượng của địch trên 4000 người với gần 50 tàu thuyền các cở có gắn đại bác và súng liên thanh…

 

Và rồi chúng thiết lập nhanh chóng hệ thống phòng tuyến kéo dài từ đầu sông Thị Nghè đến chùa Mai Sơn, gọi là “phòng tuyến các chùa”.

 

Số quân ta ở gia Định dưới quyền chỉ huy thống nhất của Nguyễn Tri Phương thì chỉ là con số ước lượng.

Pháp nói ta có tới 20 ngàn quân chính qui, 10 ngàn dân quân và ở Biên Hòa có 15 ngàn quân từ miền Trung vào chi viện.

 

Chắc không thể có số quân chính qui đông như thế, vì khi Tây đánh Đà Nẵng, gần sát kinh đô mà quân nhà Nguyễn chỉ có 3200 người, thì khó có thể ở Gia Định xa xăm có số quân hơn 20 ngàn được.

 

Chắc thực dân Pháp tăng số quân Việt lên, chỉ để tăng giá trị chiến công của chúng mà thôi.(theo số liệu web Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, quân Việt chỉ có 12000 quân)

 

Trong đại đồn, ta có 150 đại bác đủ các cỡ, nhưng sức công phá của nó rất hạn chế, phần lớn chỉ bắn được đạn tròn đặc bằng gang, trúng ai chết nấy.

 

Tệ hại hơn nữa là không hiểu có phải Huế lệnh cho tướng cầm quân hà tiện hay không, mà nó không thể chủ động tấn công, hoặc nả tới tấp vào phòng tuyến giặc chỉ cách đó hơn 500 thước!          

 

 

Vào 4 giờ 30 phút ngày 24 tháng 2 năm 1861, quân Pháo do Charner chỉ huy với khoảng 5000 quân và chiến thuyền bắt đầu tấn công.

Mở đầu, bọn chúng cho đại bác trên bộ và dưới tàu đều nổ nhằm vào đại đồn mà bắn. Đại bác của ta cũng nhanh chóng trả lời.

 

Trong khi hai bên đấu pháo thì liên quân của thực dân từ Mai sơn tiến lên với khinh pháo. Quân Việt từ đồn Hữu bắn cản lại, chúng liền dùng đại bác bắn dồn dập vào tiền đồn này rồi xua bộ binh tiến lên. Quân ta có voi đi đầu tới ứng cứu, đánh nhau suốt ngày, địch chỉ mới tiến được 1 cây số.

 

Tờ mờ sánh hôm sau, địch tiếp tục tấn công rồi áp sát được đại đồn, song cách vách thành khoảng 100 thước thì gặp rất nhiều cạm bẫy, hào ụ nên chúng tiến rất chậm, bị chết và bị thương rất nhiều.

 

Tuy hao tổn vậy, nhưng giặc dùng thang tre và dứng trên vai nhau mà leo lên và chiếm được một số khu vực trong thành. Trong hoảng loạn, thấy khó bề chống giữ, Nguyễn Tri Phương ra lệnh lui quân về phía tây bắc…

 

Trận giao tranh ác liệt này, bên địch chết và bị thương trên 300 trong đó có đại tá Tếc-ta vong mạng. Bên ta chết và bị thương trên dưới 1000 người, mất 150 đại bác, 2000 khẩu súng tay, nghĩa là mất hầu hết các vũ khí có trong thành và chủ tướng là Nguyễn Tri Phương thì bị mảnh đại bác văng trúng bụng…

 

Em ruột ông Phương là tướng Nguyễn Duy tử trận.Tham tán Phạm Thế Hiển về đến Biên Hòa được mấy hôm thì cũng mất…

 

Tin đại đồn thất thủ làm chấn động Huế. Tự Đức liền sai Tôn Thất Đính đem 2000 quân vào ứng cứu, lại sai Nguyễn Bá Nghi cùng theo xem xét tình hình.Quan quân chưa kịp lên đường thì có tin từ mặt trận báo về rằng “quân số, khí giới đều hết sạch” nên vua phải cấp thêm 2000 quân nữa. 

Lệnh khẩn vậy mà binh tướng đi rất chậm, đến rất trễ, khi đến Biên Hòa, Bình Thuận thì đám tướng lĩnh nằm ì ra đấy chớ không dám xua quân tiến chiếm lại…

Thế kỷ sau có người đi qua đấy, bồi hồi nhớ lại chuyện xưa nên có thơ rằng:

Qua Chí Hòa hoài cổ

Tiện bước qua thăm cảnh Chí Hòa

Đây nơi chiến địa buổi can qua

Đống xương vô định sương vùi lấp,

Giọt máu hy sanh cỏ nhuộm lòa

Cứu nước chẳng nề thân sống thác,

Liều mình không quản sức xông pha!

Người xưa, cảnh cũ nay còn nhớ?

Tang hải buồn thay nỗi nước nhà!

Sài Sơn P.H.C ( Phụ nữ tân văn số 28 ngày 7-11-1929)

 

3/Nêu vài ý nhỏ về việc thất thủ này:

 

Sau khi đại đồn Chí hòa thất thủ, tướng Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp và Phạm Thế Hiển đều bị cách chức và ghép tội “trảm giam hậu”, sau được xét giảm nên chỉ bị giáng chức.

 

Vào tháng 9 âm lịch năm 1867, theo Quốc triều chánh biên, tr 348, triều đình Huế định xử lại vụ án này, nhưng về sau rồi bỏ qua vì cạn cùng mà nói kẻ chịu trách nhiệm chính, không ai khác hơn đó là cả một triều đình thiển cận và bất lực…

 

Trở lại vấn đề, theo tôi việc phòng chống giặc của lão tướng nhiều kinh nghiệm trận mạc như Nguyễn Tri Phương có vài điểm cần bàn:

 

-Như đã biết địch mạnh ở pháo binh nên các đồn đất hay đá ở Đà Nẵng, Gia Định đều không chịu nổi đại bác; vậy mà ông lại tập trung hàng ngàn quân trong một “cái rọ” to lớn ấy để chờ Tây đến,( tôi nhắc lại, lúc đầu chúng chỉ khoảng 800 người) mà không biết phối hợp mọi thành phần, mọi lực lượng để mở các cuộc tập kích lớn nhỏ ở khắp nơi, bất kể ngày đêm, cầm chân và làm tiêu hao bọn chúng về nhiều mặt!

 

-Như ông để phía sau lưng bọn xâm lược trống trơn, 50 cây số đường sông ra bể, mà không có bất cứ hành động nào để cô lập, ngăn trở việc tiếp viện quân và khí giới của chúng.

 

-Sau khi thành Gia Định bị rơi vào tay giặc, tuy một số đông nhân dân tự tiêu hủy nhà cửa, di tản, không hợp tác với ngoại xâm; nhưng ở nơi giàu có, đủ đầy này hoàn cảnh không thể giống ở Đà Nẵng: nhiều cát trắng, ít tiền của, dân cư thưa thớt… để có thể gây khó cho chúng được.

 

Dù là vậy, nhưng lẽ ra ông phải vừa tuyên truyền vừa ban bố lệnh cấm tuyệt đối việc dân chúng, nhất là giới giáo dân & Hoa kiều, giao thương với bọn giặc mới phải. Đàng này, ông chỉ ra lời kêu gọi (bài hịch của Nguyễn Tri Phương kêu gọi giáo dân và Hoa kiều đánh Tây do đốc học Mạc Như Đông làm, theo sách Sài Gòn- Gia Định qua thơ văn xưa, tr.290-293, Nxb TPHCM năm 1987).

 

Nên chỉ nói năm 1860 thôi, đã có 11 tàu Châu Âu và 140 tàu thuyền khác tới Bến Nghé mua lúa gạo, cá khô, bông vải, dầu dừa, tơ tằm, da trâu…Nhờ vậy, địch lấy đó nuôi quân.

 

Và cũng nhờ vậy, bọn chúng mua chuộc được một số người làm tay sai, làm chỉ điểm nên bọn giặc rất biết rõ về ta, mà ta thì không hề có chút hiểu biết gì về giặc!

 

Qua lời bình phẩm in trong Tổng Tập, tôi nhận thấy G.s Giàu chê trách khả năng điều hành yếu cùng phương thức chiến đấu kém linh hoạt, trong công cuộc phòng chống ngoại xâm của những tướng lãnh thời bấy giờ hơi nhiều.Nhưng vấn đề nên luận bàn này tôi xin dành ở phần IX.

 

 

 



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả