Bùi Thụy Đào Nguyên
[ Thi Hữu | Nhắn Tin]


Nhớ Nguyễn Tri Phương...phần III

VI.Hà Thành mất vào tay thực dân Pháp lần thứ nhất (1873):

Thử thành quách thử giang sơn

Bách chiến phong trần dư xích địa

Vi nhật tinh vi hà nhạc

Thập niên tâm sự vọng thanh thiên

 (Kìa thành quách, kìa non sông,

 Trăm trận phong trần còn đất đỏ

Nọ trời sao, nọ sông núi,

Mười năm tâm sự với trời xanh).

 (Câu đối thờ Nguyễn Tri Phương ở đền Trung Liệt, Hà Nội; của thám hoa Vũ Phạm Hàm).

***

Năm 1862, sau khi triều đình ký hàng ước, Nguyễn Tri Phương được cử ra Bắc làm Tổng thống Hải An quân vụ.

 

Năm 1873, nhân xảy ra vụ tên lái súng J.Dupuis có nhiều thái độ hống hách, xấc xược ở Bắc, Soái phủ Nam Kỳ viện cớ để phái F.Garnier đem quân ra huy hiếp Hà Nội.

 

Ngày 19-11-1873, quân Pháp đánh úp thành Hà Nội, mặc dù ông đã chỉ huy chống trả quyết liệt nhưng vì binh lực yếu, vũ khí kém cỏi nên quân Pháp chiếm được thành. Con trai ông là phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận.

Giặc Pháp bắt được ông trong lúc đang bị trọng thương.Được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông đã từ chối và nói rằng: “Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa”.

Sau đó ông vứt bỏ thuốc men, nhịn cơm cháo gần một tháng.

Vào ngày 20/12/1873 ( 1- 11 năm Quý Dậu), danh tướng Nguyễn Tri Phương, người lãnh trọng trách giữ thành Hà Nội, đã trút hơi thở cuối cùng, khi ấy ông đã 73 tuổi.

Được tin ông mất vua Tự Ðức vô cùng đau xót, tự tay làm thơ điếu và còn sai quân đưa thi hài ông và Phò mã Nguyễn Lâm về quê nhà an táng.

 

Nguyễn Tri Phương được xếp vào hàng trung nghĩa và thờ tại Huế và Hà Nội, đồng thời cho lập một nhà thờ tại quê nhà thờ chung 3 vị công thần đều ở trong một gia đình đã tuẫn tiết: tướng Nguyễn Duy (em ruột),phò mã Nguyễn Lâm (con ông) và ông...

 

Nhiều bạn đồng liêu, nhiều sĩ phu yêu nước cũng có thơ tỏ lòng cảm phục ông, nhưng vì sợ bài viết dài nên tôi chỉ trích một:

 

Điếu Nguyễn Tri Phương tử tiết

Nguyễn Thiện Thuật.

 

Quân thân nâng nghĩa, nhẹ thân mình

Thua được bàn chi việc dụng binh.

Trăm trận gian nan mà chẳng chết,

Một hòa tạm bợ lại quyên sinh

Cửa trời đã đón người quân tử,

Bệ ngọc khôn trông mặt lão thành

Danh vọng thế mà lâm cảnh thế,

Quả trời chẳng muốn để tròn danh.

 

(Khương Hữu Dụng dịch- nguyên văn chữ Hán ở sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tr 359.Nxb Văn Học. 1984).

Ông được thờ trong đền Trung Liệt trên gò Đống Đa, Hà Nội với đôi câu đối mà tôi vừa nêu trên. Và cũng từ đó cho đến nay, không lúc nào nơi chốn đấy thiếu khói hương, chứng tỏ nhân dân hết sức quí trọng ông, một con người dám xả thân vì dân, vì nước...

VII. Thêm 2 tư liệu bổ sung cho phần trên:

1/Trong cuốn “Hà Nội giai đoạn 1873-1888” (viết vào khoảng những năm 20 của thế kỷ XX) nhà sử học André Masson đã cho công bố  báo cáo của F. Garnier gửi cho Thống đốc Nam Kỳ chi tiết về cuộc tấn công thành Hà Nội do đích thân mình chỉ huy.

Đoạn trích sau đây mãi giờ mới được công bố qua bản dịch của Lưu Đình Tuân:

Năm giờ rưỡi sáng toán thứ nhất gồm 30 thủy binh và một khẩu pháo 4 do trung úy hải quân Bain de Coquerier chỉ huy rời trại để vào vị trí trước cửa Tây nam thành. 5 giờ 45 phút, toán thứ hai gồm 30 pháo thủ hải quân do ông Trentinian chỉ huy lên đường đến Cửa Đông Nam.

Rồi ông Esmez khi đó cũng dẫn 30 thủy binh và 3 khẩu pháo 4 cũng tiến về hội quân. Theo sau ông ta có một đội dự bị gồm 20 thủy binh. Ngoài sông Hồng, các pháo hạm Scorpion và Espignole chuẩn bị bắn phá...

Đúng 6 giờ sáng, tôi dẫn đầu đơn vị đặt chân lên cầu lũy bán nguyệt Đông Nam. Tiếng súng trường (mousqueton) của ông Bain nổ bên trái tôi cùng những quả đạn đầu tiên của pháo thuyền ngoài sông Hồng bắn thẳng vào thành.

Quân địch hoàn toàn bất ngờ. Bị nhiều đợt tấn công dồn dập, họ không biết điểm nào là điểm thực sự bị tấn công. Chúng tôi giải tỏa cầu khỏi những tấm chông bừa bãi khắp nơi mà không sợ đạn bắn.

Khi các pháo thủ An Nam trên thành lũy vào được vị trí thì chúng tôi đã ẩn được ở sát tường công sự. Những người phòng thủ chỉ còn cách ném đá xuống.

Chúng tôi dùng rìu búa nhưng không phá được cửa thành. Tôi bèn cho đặt khẩu đại bác trên cầu và ba phát đạn liên tiếp đã mở đường cho chúng tôi. Ngay lập tức ông Trentinitan và toán bộ binh của hải quân lao vào bên trong công sự góc. Tại đây quân phòng thủ không ẩn được phải chạy lên thềm đất ở chân thành.

Làn hỏa lực mãnh liệt của chúng tôi hướng vào những người trên mặt lũy và làm thất bại ý định của các pháo thủ địch nhiều lần định chĩa pháo về phía chúng tôi.

... Trong thời gian trên, ông Esmez cho pháo chiếm vị trí trên cầu và bắn thủng cánh cổng trong tiếng rào rào của đá từ trên lũy ném xuống. Chiếc cửa vững chắc này chống đỡ khá lâu. Khi mở được lối vào, tôi lao vào vòm cổng cùng với mấy người lính theo sau, và ngay tức khắc nhận ra trước mặt mình mấy người đang cầm lọng che cho một vị quan đang chỉ huy phòng thủ.

Tôi cũng bất ngờ khi nhận ra vị quan này chính là tướng Nguyễn Tri Phương. Sự ngẫu nhiên khiến vị trí chỉ huy của ông ta lại chính cửa tôi phải tấn công! Một cuộc đụng độ ngắn bằng súng lục đã giải quyết hoàn toàn khu vực phía cổng. Lính An Nam chạy tứ tán.

Một lúc sau ông Esmez cho tung bay trên đỉnh cột cờ lá cờ ba màu của Pháp đồng thời cũng là tín hiệu quy ước để các pháo hạm ngoài sông ngừng bắn phá. Lúc đó là 6 giờ 55 phút. Vài phút sau cờ Pháp bay trên năm cửa thành. Chúng tôi không có nguời nào bị thương…

2/Tròn một tháng sau trận tấn công thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương trút hơi thở cuối. Ngày  22/12/1873  Francis Garnier bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc mai phục giết gần Ô Cầu Giấy.

Cái xác mất đầu của Garnier được trung sĩ Champion mang về thành cùng xác hai lính thủy bị giết. Lái buôn kiêm gián điệp Jean Dupuis đã tả lại qua trích dẫn của André Masson.

“Không có gì kinh khủng hơn những cái xác không đầu đó. Cái xác trải dài trên rơm y nguyên như lúc mang về chiều hôm trước. F. Garnier cánh tay phải bị đứt, tay trái để xuôi theo thân.

Chân phải đi giày chân trái chỉ có tất ngắn. Quần áo tả tơi, khắp người đầy vết gươm và giáo. Ngực bị mổ. Tim bị lấy mất. Da bụng bị lột hai tay co quắp. Các thi thể được đóng trong áo quan bằng gỗ rất dày và được chôn gần Hoàng Cung chỗ hai gốc đa lớn....”

Trong sách của mình, André Masson cũng trích tài liệu của G. Dupuis rằng mãi đến ngày 6/1/1884 tức là 11 năm sau, người ta mới tìm thấy đầu của F. Garnier và chôn sau cùng với thây. Một chi tiết là sau khi mất, Nguyễn Tri Phương được chôn cất ngay trong thành. Francis Garnier cũng được chôn trong thành.

Sau này Nguyễn Tri Phương được đưa về an táng ở quê nhà thôn Đường Long, xã Phong Chương, huyện Phong Điền (Thừa Thiên-Huế)

Còn F. Garnier mấy năm sau được đưa về chôn ở nghĩa trang nằm trong khu Nhượng địa của Pháp.

Vậy mà, 124 năm kể từ sau ngày ông hy sinh vì dân vì nước, một kẻ thiếu ý thức đã làm một việc mà ai biết được đều không khỏi đau lòng:

Vào lúc 22 giờ ngày 23-8, một trẻ chăn trâu đã phát hiện ngôi mộ của danh tướng Nguyễn Tri Phương tại thôn Đại Phú, xã Phong Chương, huyện Phong Điền (Thừa Thiên-Huế) bị kẻ gian đào bới nghiêm trọng và báo cho chính quyền địa phương thôn và xã.

Ngay lập tức UBND xã Phong Chương đã cử người kiểm tra hiện trường thấy có 3 vết đục vào mộ và lăng tẩm lấy đi nhiều khối đất. Kẻ gian để lại hiện trường một chiếc đục.

Theo nhận định của người dân địa phương, kẻ gian nghi trong mộ có chôn vàng nên đào bới để lấy cắp…

(còn tiếp)



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả