Bùi Thụy Đào Nguyên
[ Thi Hữu | Nhắn Tin]


Nhớ Nguyễn Tri Phương, phan V

IX.Nói qua đôi chút về tình thế thời bấy giờ, để tạm lý giải vì sao quan quân nhà Nguyễn, trong số đó có Nguyễn Tri Phương, liên tiếp gánh thất bại trong công cuộc phòng chống xâm lăng ( phần này có thể gọi tên khác là: Vì sao nhà Nguyễn mất nước?)

1/Qua nhiều năm phân tranh, loạn lạc kéo dài, thiên tai nhiều phen, nạn sưu thuế cao, nạn tham nhũng, bóc lột của bọn cường hào, bọn quan lại biến chất cùng nếp sống xa hoa của chúng… nên đến thời Tự Đức, sức quân và dân đã suy kiệt.

Đình thần Trương Quốc Dụng tâu: “…tài lực của nhân dân nay không bằng 6/10 năm trước”.

Đến khi Pháp tấn công Đà Nẵng, Nguyễn Tri Phương cũng đã tâu rằng: “Quân và dân của đã hết, sức đã yếu”.

Vậy mà nhà Nguyễn không có chính sách thích hợp để bồi bổ lại, nhất là giới nông dân: lực lượng chủ yếu dành phục vụ cho việc sản xuất và quốc phòng

Riêng về việc quân, thì quân đội nhà Nguyễn không còn đủ mạnh như thời chống nhau với nhà Tây sơn:

 

Nhiều sách sử viết về thời kỳ này cho biết: lính chính qui không quá một vạn, tinh thần thì sợ vũ khí khá hiện đại của giặc, đánh đấm còn theo thói cũ, vũ khí quá thô sơ; lương ăn áo mặc thảy đều thiếu thốn…

 

Đại thần Phạm Phú Thứ nhận xét:

 

“Quân sĩ hèn nhát là do chưởng quan bất tài và vô quyền. Quân sĩ nhiều người không có lương bổng, rất đói khổ, phải tìm cách giúp đỡ nhau chớ không trông mong gì đến gạo trong kho.

Quan võ thì thường than thở rằng mình hết sức chống giữ biên cương, rủi ra chết đi thì chỉ thiệt mình, chứ công trạng nào ai nghĩ đến cho…”

2.Trong tình cảnh như vậy mà hầu hết vua quan đều không biết gì về giặc, về những biến động của khu vực và trên thế giới :

Nhà Nguyễn không chỉ không biết Pháp đang kẹt quân ở Trung Quốc vào trước năm 1861, khiến sau này phải mất hẳn miền Nam; mà vua quan nhà ta cũng vì căn bệnh “không biết gì” nên đã đánh mất hai cơ hội hết sức quí báu để cởi ách thực dân:

-Năm 1870, Pháp bị Đức đánh thua xiểng niểng.Chiều ngày 1-9, hoàng đế Na-pơ-lê-ông III bị bắt cùng mười vạn binh, ngày 27-10, tất cả 173000 quân Pháp ở thành Mết-zơ đầu hàng.

Khoảng thời gian này, tin tức về cuộc thất bại  thật thảm hại này lan tới Sài Gòn, tới Huế. Soái phủ Nam Kỳ hoảng sợ vội vàng cho phòng bị nghiêm mật, vì e rằng Huế sẽ nhân cơ hội này để tổ chức phản công.

 Cuối cùng, bọn chúng đã thở phào nhẹ nhõm khi nhận được “thơ hỏi thăm và chia buồn” của vua Tự Đức!

-Một cơ hội khác bị bỏ lỡ nữa, đó là lúc tư bản Pháp bị cuộc cách mạng vô sản nổi lên ở Pa-ri và phong trào công nhân mạnh lên ở nhiều tỉnh (năm 1871).Tuy sau này Công xã Pa-ri thất bại, nhưng giai cấp tư sản Pháp còn phải vướng víu rất nhiều khi củng cố lại chính quyền, không còn đầu óc nào để lo cho một thuộc địa quá xa xăm…

3.Giặc vào “nhà” rồi mà cứ nghĩ chúng đến nhưng không để chiếm đoạt đất nước. Tại “sân nhà” mà không dám đánh, luôn giữ “thế thủ” và đường lối “chủ hòa” thì làm sao không mất hết cho được:

Bởi bệnh “không biết gì” nên dã tâm, lòng tham của thực dân khi đặt chân lên non sông Việt, nhà Nguyễn cũng không biết.

Và cũng bởi không có tầm nhìn chiến lược, chiến thuật sáng suốt, bao quát; không dám tấn công trước nên không tận dụng được lợi thế “bất ngờ”, phát huy hết lợi thế nơi “sân nhà”, như: địa hình, địa vật và tấm lòng của nhân dân luôn sẳn sàng vì đất nước.

Có thể vì vậy nên “quân số đông mà thua ít ”, rồi càng thua ta càng sợ hãi khi phải đối mặt trước cách đánh khá mới mẻ cùng vũ khí khá hiện đại của giặc.

Thực tế trong cuộc chiến tranh 30 năm vừa qua cho ta thấy, yếu tố “vũ khí mạnh” không phải là tất cả.

Trong sách Dương sự thủy mạc có ghi mấy câu luận bàn rất ngô nghê, rất tức cười của triều thần khi giặc đã vào nhà rồi, tôi trích một ít để minh chứng cho căn bệnh “thiếu hiểu biết, giờ lại thêm mù quáng và bạc nhược nữa”:

Trích lời tâu của tướng Nguyễn Bá Nghi, người nhận lệnh vào Nam để thay Nguyễn Tri Phương chỉ huy cuộc kháng chiến:

-“chống giặc duy thủ là hơn. Họ và ta vốn không gần nhau, không thể thôn tín nhau. Chuyến này chúng đến chẳng qua là vì lợi. Lấy chủ đợi khách, nên dùng kế trì cửu để đợi họ mệt mỏi….Tự Đức cho là phải.”

- “Bấy lâu nay ta lạnh nhạt với họ, họ bị các nước láng giềng chê cười, cho nên đem quân đánh ta cho được hòa”

 -“Giữ không tiện, đánh cũng không tiện”, “hòa thì mất ít, đánh thì mất nhiều”,”Pháp sở dĩ đánh ta vì ta lạnh nhạt với nó, nó đánh ta là để có hòa”,“đánh giữ đều không được, trừ một chước hòa, tôi chỉ còn chịu tội…” “Tôi không đắp đồn lũy nữa, không thu trưng binh nữa…kẻ địch xét thấy ý ta không trung thực, họ lâi càng thêm chém cắt hơn”

Nghe lời tâu , quá đổi “xụi lơ”, không chút nhuệ khí nào, ấy vậy mà vua Tự Đức còn buông ra những lời động viên quân tướng cũng rất đáng cười ra nước mắt:

“Phải gắng sức, khéo dùng lời cảm hóa kẻ địch để họ kiêng nể mà nghe ta”

( trích Dương sự thủy mạc, khuyết danh, bản dịch của Khoa Sử, ĐHTH Hà Nội)

4/Thực tế cho thấy, triều đình nhà Nguyễn theo đuổi đường lối “bế quan tỏa cảng”, không nhanh chóng “canh tân” đất nước là không phù hợp với yêu cầu của xã hội và xu thế của thời đại.

Việt Nam và Trung Quốc vào thời buổi ấy gặp nhau ở điểm này: chọn đường lối “đóng cửa”, vẫn không ngăn được gót giày của bọn xâm lăng.

Vì sao vậy? Vì thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đã phát triển ngày càng lớn mạnh.Và nước ta cùng như nhiều nước khác có hoàn cảnh yếu kém tương tự, nhanh chóng nằm trong tầm ngắm của bọn thực dân tham lam trong kế hoạch xâm chiếm đất đai, giành giật thị trường và gây thanh thế ở khu vực…

“Đóng cửa”, tức tự cô lập mình, khiến nền công nông thương của nước vốn  nhỏ bé, lạc hậu gần như không có cơ hội, điều kiện khả dĩ để nhanh chóng phát triển, để nhanh chóng đưa đất nước thoát cảnh đói nghèo, thua sút về nhiều mặt.

Lịch sử trên thế giới đã và đang cho ta thấy chỉ có con đường“dân giàu, nước mạnh” mới có thể bảo vệ được non sông, chủ quyền của dân tộc.

Và thật đáng trách, trước tình cảnh nước nhà nguy khốn; một số quan lại, sĩ phu thức thời, tiến bộ mạnh dạn đưa ra nhiều đề nghị đổi mới đầy tâm huyết: như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Tư Giản, Bùi Viện…nhưng tất cả đều không được triều đình Nguyễn thủ cựu xem xét và nghe theo.

 

Phan Thanh Giản là một đại quan của nhà Nguyễn.Ông có dịp tận mắt nhìn thấy sự lớn mạnh của nền văn minh phương Tây, đã buồn bã viết:

 

Tự Thán

 

Từ ngày đi sứ tới Tây kinh,

Thấy việc Âu châu phải giật mình.

Kêu gọi đồng bang mau kịp bước,

Hết lời năn nỉ chẳng ai tin…

 



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả