Nhớ Nguyễn Tri Phương, phan V
Riêng về việc quân, thì quân đội nhà Nguyễn không còn đủ mạnh như thời chống nhau với nhà Tây sơn:
Nhiều sách sử viết về thời kỳ này cho biết: lính chính qui không quá một vạn, tinh thần thì sợ vũ khí khá hiện đại của giặc, đánh đấm còn theo thói cũ, vũ khí quá thô sơ; lương ăn áo mặc thảy đều thiếu thốn…
Đại thần Phạm Phú Thứ nhận xét:
“Quân sĩ hèn nhát là do chưởng quan bất tài và vô quyền. Quân sĩ nhiều người không có lương bổng, rất đói khổ, phải tìm cách giúp đỡ nhau chớ không trông mong gì đến gạo trong kho.
Quan võ thì thường than thở rằng mình hết sức chống giữ biên cương, rủi ra chết đi thì chỉ thiệt mình, chứ công trạng nào ai nghĩ đến cho…”
Nhà Nguyễn không chỉ không biết Pháp đang kẹt quân ở Trung Quốc vào trước năm 1861, khiến sau này phải mất hẳn miền Nam; mà vua quan nhà ta cũng vì căn bệnh “không biết gì” nên đã đánh mất hai cơ hội hết sức quí báu để cởi ách thực dân:
-Năm 1870, Pháp bị Đức đánh thua xiểng niểng.Chiều ngày 1-9, hoàng đế Na-pơ-lê-ông III bị bắt cùng mười vạn binh, ngày 27-10, tất cả 173000 quân Pháp ở thành Mết-zơ đầu hàng.
Khoảng thời gian này, tin tức về cuộc thất bại thật thảm hại này lan tới Sài Gòn, tới Huế. Soái phủ Nam Kỳ hoảng sợ vội vàng cho phòng bị nghiêm mật, vì e rằng Huế sẽ nhân cơ hội này để tổ chức phản công.
Cuối cùng, bọn chúng đã thở phào nhẹ nhõm khi nhận được “thơ hỏi thăm và chia buồn” của vua Tự Đức!
-Một cơ hội khác bị bỏ lỡ nữa, đó là lúc tư bản Pháp bị cuộc cách mạng vô sản nổi lên ở Pa-ri và phong trào công nhân mạnh lên ở nhiều tỉnh (năm 1871).Tuy sau này Công xã Pa-ri thất bại, nhưng giai cấp tư sản Pháp còn phải vướng víu rất nhiều khi củng cố lại chính quyền, không còn đầu óc nào để lo cho một thuộc địa quá xa xăm…
3.Giặc vào “nhà” rồi mà cứ nghĩ chúng đến nhưng không để chiếm đoạt đất nước. Tại “sân nhà” mà không dám đánh, luôn giữ “thế thủ” và đường lối “chủ hòa” thì làm sao không mất hết cho được:
Bởi bệnh “không biết gì” nên dã tâm, lòng tham của thực dân khi đặt chân lên non sông Việt, nhà Nguyễn cũng không biết.
Và cũng bởi không có tầm nhìn chiến lược, chiến thuật sáng suốt, bao quát; không dám tấn công trước nên không tận dụng được lợi thế “bất ngờ”, phát huy hết lợi thế nơi “sân nhà”, như: địa hình, địa vật và tấm lòng của nhân dân luôn sẳn sàng vì đất nước.
Có thể vì vậy nên “quân số đông mà thua ít ”, rồi càng thua ta càng sợ hãi khi phải đối mặt trước cách đánh khá mới mẻ cùng vũ khí khá hiện đại của giặc.
Thực tế trong cuộc chiến tranh 30 năm vừa qua cho ta thấy, yếu tố “vũ khí mạnh” không phải là tất cả.
Trong sách Dương sự thủy mạc có ghi mấy câu luận bàn rất ngô nghê, rất tức cười của triều thần khi giặc đã vào nhà rồi, tôi trích một ít để minh chứng cho căn bệnh “thiếu hiểu biết, giờ lại thêm mù quáng và bạc nhược nữa”:
-“Giữ không tiện, đánh cũng không tiện”, “hòa thì mất ít, đánh thì mất nhiều”,”Pháp sở dĩ đánh ta vì ta lạnh nhạt với nó, nó đánh ta là để có hòa”,“đánh giữ đều không được, trừ một chước hòa, tôi chỉ còn chịu tội…” “Tôi không đắp đồn lũy nữa, không thu trưng binh nữa…kẻ địch xét thấy ý ta không trung thực, họ lâi càng thêm chém cắt hơn”
( trích Dương sự thủy mạc, khuyết danh, bản dịch của Khoa Sử, ĐHTH Hà Nội)
4/Thực tế cho thấy, triều đình nhà Nguyễn theo đuổi đường lối “bế quan tỏa cảng”, không nhanh chóng “canh tân” đất nước là không phù hợp với yêu cầu của xã hội và xu thế của thời đại.
Việt Nam và Trung Quốc vào thời buổi ấy gặp nhau ở điểm này: chọn đường lối “đóng cửa”, vẫn không ngăn được gót giày của bọn xâm lăng.
Vì sao vậy? Vì thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đã phát triển ngày càng lớn mạnh.Và nước ta cùng như nhiều nước khác có hoàn cảnh yếu kém tương tự, nhanh chóng nằm trong tầm ngắm của bọn thực dân tham lam trong kế hoạch xâm chiếm đất đai, giành giật thị trường và gây thanh thế ở khu vực…
“Đóng cửa”, tức tự cô lập mình, khiến nền công nông thương của nước vốn nhỏ bé, lạc hậu gần như không có cơ hội, điều kiện khả dĩ để nhanh chóng phát triển, để nhanh chóng đưa đất nước thoát cảnh đói nghèo, thua sút về nhiều mặt.
Lịch sử trên thế giới đã và đang cho ta thấy chỉ có con đường“dân giàu, nước mạnh” mới có thể bảo vệ được non sông, chủ quyền của dân tộc.
Và thật đáng trách, trước tình cảnh nước nhà nguy khốn; một số quan lại, sĩ phu thức thời, tiến bộ mạnh dạn đưa ra nhiều đề nghị đổi mới đầy tâm huyết: như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Tư Giản, Bùi Viện…nhưng tất cả đều không được triều đình Nguyễn thủ cựu xem xét và nghe theo.
Phan Thanh Giản là một đại quan của nhà Nguyễn.Ông có dịp tận mắt nhìn thấy sự lớn mạnh của nền văn minh phương Tây, đã buồn bã viết:
Tự Thán
Từ ngày đi sứ tới Tây kinh,
Thấy việc Âu châu phải giật mình.
Kêu gọi đồng bang mau kịp bước,
Hết lời năn nỉ chẳng ai tin…