Nhớ Nguyễn Tri Phương, phan VI
5/Các vua nhà Nguyễn luôn đặt ngôi báu lên hàng đầu, nên có thái độ thật “ích kỷ”, “sợ thù trong hơn sợ giặc ngoài”, nên dần dà biến thành tay sai đắc lực cho thực dân.
Bởi lẽ ấy, khi đất nước bị lấn chiếm, họ không những dễ dàng nhân nhượng những đòi hỏi tham lam của thực dân, mà còn nhanh chóng quay lưng lại, thậm chí còn làm cản trở, làm sa sút thêm tinh thần chiến đấu chống lại bọn ngoại xâm của những con dân yêu nước.
Để chi vậy? Để họ rãnh tay đàn áp các cuộc nổi dậy, mà “ theo con số thống kê được thì trong 4 triều đại, từ Gia Long đến Tự Đức, có tới trên 400 cuộc.
Và tất cả đều bị đàn áp dã man” ( theo GS.Văn Tạo)
Và một tác giả khác cũng đã phê phán:
sau “vết nhơ lịch sử”(Ca Văn Thỉnh đã gọi hòa ước Nhâm Tuất, năm 1862 như vậy), việc tệ hại tiếp theo là triều đình đã ra lệnh bãi binh, lại còn giúp thực dân truy lùng các thủ lĩnh kháng chiến.
Do vậy, có thể nói rằng “Pháp tấn công mà ta thủ hòa tất nhiên phải đi đến chuyện mất nước” và tất cả những việc làm mù quáng vừa kể trên còn là “một sự phản bội của Huế”(Trần Văn Giàu).
6.Nhận thấy đại bộ phận vua quan nhà Nguyễn, ngày càng thiếu sáng suốt, bảo thủ, bất lực, cầu hòa, quay lưng lại với nhân dân. Không kể nhiều vụ loạn lạc đã xảy ra ở thời Tự Đức, ít nhất đã có 4 cuộc đảo chánh nhằm thay đổi ngôi vua:
-Đấy là âm mưu xảy ra khi Tự Đức vừa lên ngôi do Hồng Bảo là người anh con dòng thứ, vì muốn giành giựt chiếc ngai vàng.Việc bại lộ, Hồng Bảo bị tống giam rồi tự tử trong ngục.
-Năm 1864, xảy ra vụ nổi dậy của Hồng Tập, con hoàng thân Miên Áo, em chú bác của vua, đã cùng với một số người khác phất cờ “Bình Tây sát tả”, lập kế hoạch giết Phan Thanh Giản, Trần Tiến Thành, thay thế Tự Đức bằng một ông vua khác. Bị phát hiện, Hồng Tập và Nguyễn Văn Viện bị án chém.
- Vào năm 1866, Đoàn Trưng là rể của Tùng Thiện Vương (tức là em rể họ của Tự Đức) đã nổi lên gây cuộc binh biến (sử cũ gọi là loạn Chày Vôi) nhằm lập Hoàng tôn Ưng Đạo, con của Hồng Bảo lên ngôi.
Tự Đức suýt bị giết và sau khi dập tắt cuộc bạo loạn, ông đã cho xử tử cả nhóm Đoàn Trưng và mẹ con Ưng Đạo (là chị dâu và cháu ruột của ông).
-Hòa ước 1862 và 1874 gây bất bình trong cả nước.Ở Bắc cũng như ở Nam, đông đảo sĩ phu và người dân yêu nước tự động hợp thành phe “Văn thân”, mạnh nhất là ở Nghệ An, Hà Tĩnh do Trần Tấn, Đặng Như Mai làm thủ lĩnh. Họ giương cao ngọn cờ “Bình Tây diệt Triều”, tuy có chiếm được Hà Tĩnh, nhưng rốt cùng cũng bị quân triều đình dẹp tan…
Tất cả đều thất bại, vì sao? Vì họ có phần tự phát, nóng vội, thiếu tổ chức, thiếu một lý tưởng phù hợp và đúng đắn. Và nhất là thiếu một gương mặt thật sáng giá, đủ tài đức, đủ sáng suốt để có thể qui tựu mọi lực lượng, mọi tầng lớp, mọi nơi cùng một lòng đứng dậy và kiên trì đi đến mục tiêu chung.
Bỏi không được như thế, nên ta thấy thực dân và phong kiến dễ dàng dẹp tan, bẻ gãy nhanh chóng những phe nhóm cứ nổi lên nhỏ lẻ nhằm chống đối lại bọn họ…
7.Cũng chính vì sự lãnh đạo quá đổi non kém, nhà Nguyễn không thể tạo được sức mạnh thống nhất, không tìm được tiếng nói chung của mọi tầng lớp, không củng cố và phát huy được khả năng, tiềm lực, trí tuệ của dân tộc. Nhất là việc cấm đạo quá gắt gao và âm mưu đồng hóa một số dân tộc ít người, khiến họ không theo ta là những chính sách hết sức sai lầm ( vần đề nhiều góc cạnh này, các bạn xem thêm trong sử Việt).
***
Tôi tạm phân ra 7 lý do trên, cốt để bạn đọc dễ theo dõi, dễ đọc. Thực ra chúng đều có mối tương quan qua lại.
Nếu cần nói gọn hơn, tôi xin dẫn lời của PTS. Phan Minh Thảo:
“ Nguyên nhân chủ yếu thất bại của nhà Nguyễn là từ bên trong chứ trong phải là từ bên ngoài. Không phải đế quốc Pháp cùng vũ khí của họ quá mạnh mà vì chế độ nhà Nguyễn đã quá suy yếu, quá ruỗng nát và nhất là đã phản bội lại nhân dân, đất nước.
Trong hơn 50 năm trị vì, nhà Nguyễn không tạo dựng cho đất nước một tiềm lực quốc phòng đủ mạnh. Đến khi chiến tranh xẩy ra,Tự Đức chẳng những không có tinh thần quyết chiến mà còn có chủ trương hòa hoãn với giặc, vì nghĩ rằng thà nhân nhượng với chúng mà giữ được ngai vàng, tôn miếu…còn hơn đi với nhân dân quyết chiến thì có thể mất hết cơ đồ!”( Thử tìm hiểu vì sao nhà Nguyễn bị thất bại…Nxb KHXH. 1995, tr.28)
Luận bàn cho vấn đề này, Gs Trần Văn Giàu cũng đã có nhận xét trong Tổng tập, tôi tóm gọn lại như sau:
Triều Nguyễn không dự kiến tình huống Pháp chiếm giữ nước ta.Vì họ cho nước Pháp xa Việt Nam lắm, họ không ở gần ta như nhà Minh , nhà Thanh…nên họ lấy nước ta làm gì, chẳng qua họ cần mấy thẻo đất để lập thương điếm, lập nhà thờ và để đòi bồi thường chiến phí thôi.
Bởi nhà Nguyễn mê muội như thế, nên ông chua chát viết thêm: “Xứ ta vào những năm 1860-1862, quân Tây có bao nhiêu, có lúc chỉ có khoảng 300 tên.Chỉ cần một đội quân cảm tử không đông lắm, bằng dao găm đã có thể tiêu diệt chúng trong một đêm thì khí thế quân ta lên biết bao nhiêu!...”
Đôi lời trách cứ này, thiết nghĩ thật đáng suy gẫm.
X.Thêm đôi ba câu trước khi chia tay với bạn đọc:
Ở bài thơ Điếu Nguyễn Tri Phương của Nguyễn Thiện Thuật bên trên có 2 câu thật hay, tôi xin chép ra đây nguyên văn cùng lời dịch:
Bách chiến gian nan năng bất tử
Nhất hòa cô tức tiện quyên sinh
(Dịch nghĩa:Trăm trận đánh gian nan, không thể làm cho ông chết được
Một cuộc hòa nhùng nhằng, khiến ông phải quyên sinh)
“Một cuộc hòa nhùng nhằng…”, chỉ cần mấy chữ vừa ghi bên, theo tôi đã đủ nói lên nguyên do của mọi thảm cảnh.Và hai câu thơ trên tuy đã dành để điếu Nguyễn Tri Phương, nhưng vẫn có thể dành để điếu Phan Thanh Giản và bất kỳ cho những ai đã hy sinh cho cuộc chiến lâu dài và buồn bã này.
Khi soạn bài, tôi biết được ngày trước không những Tự Đức cho cải tên mà còn có lần đã gửi áo ấm cho lão thần Nguyễn Tri Phương, khi ông đang trấn thủ thành Thăng Long vào những ngày tiết trời trở nên buốt giá: “áo này là áo ngự dùng trong mùa lạnh. Ta ban cho khanh để tỏ là người có công đức và tăng thêm vẻ quân dung...”.
Cả sách vở của đối phương cũng có nhắc đến ông:
Nguyễn Tri Phương dẫn binh về, đồ hành lý riêng ông, ông sai một tên quân máng trên ngọn kích là vài bộ quân y đã ngã màu vì trận mạc xông pha, đủ thấy ông không làm giàu nhờ chiến tranh và lòng hy sanh ái quốc của ông chỉ có quan phụ tá của ông là Phan Thanh Giản là so sánh được.
Về đức tánh liêm khiết bên làng văn quan cũng như bên võ quan, thì hai vị nầy, dẫu sử phương Tây cũng hãnh diện phô trương giữa cảnh tà tâm ô xú của hàng quan lại An Nam.( Alfred Schreiner trong sách Abre’ge’ de l’histoire d’An nam, tr 282-283. Vương Hồng Sển dịch).
Tuy rằng về việc quân, Nguyễn Tri Phương cũng như biết bao anh hùng, liệt sĩ sau này (Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết vv…); tuy có quyết tâm chống ngăn giặc dữ, nhưng nhìn chung tất cả, chưa thể nói họ đã thực hiện tốt chức trách làm tướng chỉ huy của mình.
Có nhiều nguyên nhân như nhà Nguyễn bất lực, thối nát như đã phân tích bên trên, nhưng bản thân các nhân vật yêu nước này cũng có ít nhiều sai lầm.
Như Nguyễn Tri Phương, nắm quyền bính trong tay mà không biết cướp thời cơ đánh đuổi bọn xâm lăng, khi chúng gặp phải khó khăn nơi chính quốc, hoặc bận chiến tranh ở Trung Quốc; không biết thay đổi cung cách phòng chống, nghĩa là không thể “ đường đường chính chính tranh thắng với họ”( lời Tự Đức), mà là phải biết phối hợp mọi thành phần, mọi lực lượng để mở các cuộc tập kích lớn nhỏ ở khắp nơi, bất kể ngày đêm, cầm chân và làm tiêu hao bọn chúng về nhiều mặt!
Bởi vậy theo tôi, Nguyễn Tri Phương là người gan dạ, liêm khiết, yêu nước nhưng không phải là vị tướng có nhiều tài năng, nhiều cơ mưu; cũng như vị vua của ông là Tự Đức chỉ được tiếng làm thơ hay, có hiếu với mẹ nhưng “anh minh” thì dường như có rất ít, nếu không muốn nói chẳng có chút nào!
Tuy nhiên sống mà vua quí, dân yêu, bè bạn thương, giặc kính nể…chẳng đáng làm gương và “hãnh diện phô trương, giữa cảnh tà tâm ô xú của hàng quan lại An Nam” hay sao?...
Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn
Tái bút :
Bài soạn thể hiện ý muốn “ôn cố tri tân”. Vì lẽ đó trong bài soạn bạn đọc bắt gặp ít nhiều những cụm từ đại để như: “đáng lẽ ra”, “có lẽ nên”; hoặc đôi lời phiền trách…đó không phải là tôi gợi chuyện để xúc phạm người xưa, mà chỉ muốn cùng bạn đọc nhìn lại những gì được mất của hôm qua, để từ đó có thể rút ra những bài học bổ ích và thiết thực cho hôm nay và mai sau thôi.
Chân thành cảm tạ bạn đọc đã theo dõi bài và những tác giả mà tôi đã sử dụng tài liệu để trích dẫn.
Tài liệu tham khảo chính:
-Tổng tập của Gs Trần Văn Giàu, Nxb Quân đội nhân dân, năm 2006
-Web Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, mục Nguyễn Tri Phương.
- Hỏi đáp lịch sử, tập 4 do nhóm nhân văn trẻ soạn, Nxb Trẻ, năm 2007
-Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Nxb Tân Việt, Sài Gòn năm 1968
-Dương sự thủy mạc, khuyết danh, bản dịch của Khoa Sử, ĐHTH Hà Nội
cùng vài tài liệu khác, tôi đã nêu tên trong bài.