Đơn giản là NHỚ
Ngày xưa, hồi còn nhỏ, tôi có tật hay nói chuyện với mấy cái lá, mấy con kiến, hoa và cả cái gàu nước. Lớn lên một chút nữa, thì hôm có gió nói chuyện với gió, hôm có mưa nói chuyện với mưa, hôm có những thứ khác thì nói chuyện với những thứ khác. Tôi thề là tôi không điên, nhưng ông ít tóc thì bảo :" sau này rồi cháu sẽ khổ ". Ông ít tóc tất nhiên không có cái tên kỳ khôi vậy, mà chỉ là cái tên tôi đặt ra để phân biệt ông với những người già nghiêm nghị và khó tính khác.
Ông bảo, nhìn vào mắt cháu, ông thấy cả một ấm trà. Rồi cười khà khà nghe chiều sảng khoái lắm. Ông ít tóc có cả một ao sen trước nhà, thơm nức mũi, đến mùa hoa nở, tôi hay chạy lại, hít đầy một lồng ngực be bé toàn là hương sen, lẫn cả hương cỏ đắng và hương của hoa lồng đèn. Ông tỉ mẩn hái từng bông sen vừa độ, không xòe quá, cũng không búp quá, nâng niu trên tay như nâng niu một em bé. Ông có một bộ bàn ghế là những gốc cây, bàn cờ tướng của ông cũng bằng gỗ, những con cờ hơi sần sùi một tí nhưng đánh độ 10 lượt là êm tay lắm. Tất cả đều do ông hì hụi đẽo cả, tôi hay lân la bên cạnh ông, nói chuyện với những cái rẻo gỗ thừa, tôi thấy rõ ràng là tụi nó đau! Tôi muốn an ủi chúng... Ông có một hộp đựng trà bằng gỗ mộc, bên trong bọc ni lông, bên trong nữa là lá sen khô, rồi sau đó là trà. Trà do ông và bà tự tay xao, ít lắm, vì hồ sen không lớn, và sen cũng không nhiều.
Tôi hồ hởi, uống cái ực như mấy tay nghiện ruợu tợp ruợu, đập vào đầu tiên là hương sen không thanh như sen tươi, mà là mùi của hoa quyện với mùi của trà, vừa lạ vừa quen, hương không đậm mà thoảng như gió, vị có ngay ở đầu lưỡi là vị chát, nhưng là cái chát dễ chịu, cái chát của những búp trà, và sau đó còn ở lại là vị ngọt (không phải ngọt lịm như chè, hay như nước đường) mà là vị ngọt cứ quấn lấy cuống họng, khiến thèm thêm một ly nữa.
Ông nhìn tôi cười, cái cười bật ra tự nhiên đến không ngờ, tôi nghe trong tách trà mình vừa uống có cả cái tanh nồng của bùn, cái mùi dịu dàng của lá sen và cả cái ngọt thanh của thứ nước ở giếng khơi, xa tít, mà có nhiều người vẫn bảo là giếng trời.
Ông không nói gì về trà, ông chỉ nói cho tôi về cái tâm, cái tâm của người, cái tâm của đời, ông không nói cho tôi cách pha trà hay thưởng trà, ông chỉ bảo :" Uống như khi con thèm, như khi con khát, cái khát không ở cổ họng, mà tại tình của mình" Có bữa, hai ông cháu ngồi gần mặt hồ, mưa từ đâu kéo tới, ông vẫn cứ kể tiếp chuyện Lý Sư Sư gãy đàn thê thiết, tôi vẫn hồn nhiên ngồi nghe, mưa nhỏ tong tong vào tách, vào ấm, bữa đó, tôi và ông uống những ly trà nguội ngắt ngơ, nhạt thếch. Vậy mà vẫn cứ ấm, cứ ngon. Ông bảo ấy là vì uống trà bằng tim. Thế nên, sau này, cái cách uống trà của tôi, dù thế nào vẫn vụng, vẫn thô. Không thanh như người đời được.
Sau này khi ông ít tóc qua đời, bà không còn làm nữa, chẳng biết vì bà không làm được hay buồn quá mà không muốn làm. Hồ sen, chỉ thỉnh thoảng còn tôi xin những bông sen tươi về cắm. Và mỗi lần qua nhà ông, tôi vẫn hít lấy hít để đầm đìa cái mùi bùn, mùi hoa ấy.
Về sau nữa, thì bà cũng mất, con của ông bà, đem bán lại những bộ đồ trà cho người ta, cái nào không bán được thì kêu:" đốt xuống tuyền đài cho ba mẹ". Cái ao sen bị lấp để xây nhà tầng. Thế là tôi lại mắc cái bệnh nhớ, nhớ thì nhớ nhiều...
Hoàng Thiên Nhai