CHƯƠNG 7
                            MÂY  XÁM
      
           “ Những ngày vất vả khó khăn, Miếng cơm manh áo phải đành ra quân.
           Xe thồ từng đạp bao lần Miền Nam xa tít dần dần cũng quen.
           Quê nhà chặt củi nhiều phen Trở về ngựa sắt bon chen chở hàng.
           Ra vào cổng chợ Phan Rang, Nhiều khi vắng khách, lang thang bụi đời.”
           Đói, no, ấm lạnh, ngọt bùi,  Đắng cay đã nếm đủ mùi trần gian.”
     Bóng tối buông phủ mênh mông. Bầu trời đen thăm thẳm, thật ảm đạm hết nói. Màn đêm mờ mịt khắp chốn, khắp làng xóm nhà cửa hai bên đường lộ phía trước mặt ông.  Vài ánh sao trời còn thức khuya nhấp nháy, nằm rải rác đó đây. Mây xám xịt giăng khắp ngã. Tự dưng, ông Thành nhớ tới câu vọng cổ xa xưa do Đệ nhất danh ca cổ nhạc Út Trà Ôn hát trong đĩa quay tròn. Bài hát ông thường ca, rất nổi tiếng lúc bấy giờ, vào thập niên 1950: ” Ôi nhìn trời hiu quạnh! Màn đêm sương gió lạnh...” Tâm cảnh của ông lúc này đang ngồi trên chiếc xe bò lăn bánh lọc ca, lọc cọc trên Quốc Lộ 1 xuôi nam để chặt củi cho chủ nhân, o­ng  Vang, sao giống hệt đoạn vọng cổ ghi trên  thế!
     Ông chủ chiếc xe bò, gốc là HSQ chế độ cũ. Ông ta bị cải tạo tại địa phương có 10 ngày sau “ Đổi đời” 75  . Do đó, ông ta phất lên dễ dàng. Ông quê Từ Tâm, dân chuyên lao động tay chân, cày sâu, cuốc bẫm như bao nông dân VN quê mùa chất phác khác. Hiện tại ông chuyên sống bằng nghề dùng xe bò chở mướn, đốn củi để bán sanh nhai.  Kinh tế gia dình phát triển sau thời gian năng nổ làm ăn. Trông thấy ông Thành mới cải tạo về, thất nghiệp dài dài,” tơi tả hoa lá cành quá cở thợ mộc”’ Đói lắm! Rách lắm quý vị ạ! Bị vợ cho leo cây, đá giò lái cái rụp. Ông từ trong Miền Nam lai đáo cô quận, cu ki trơ trọi, bụng xẹp lép, áo quần cũ kỹ bạc màu phong trần, sau khi tù tập trung cải tạo được tha về. Cha mẹ già yếu khó khăn. Anh em đông. Ai cũng nghèo khổ thiếu thốn sau khi nước nhà bị “ Sập tiệm”. Tình trạnỉg kinh tế khủng khoảng chung cho cả nước mà. Ông Vang ngõ ý mời ông đi đốn củi” cho vui”. Ông có nhiệm vụ giúp chủ nhânỉ chặt cây rừng cho đầy chiếc xe bò. Khi về nhà, ông sẽ có thù lao cũng trả bằng củi để chụm . Về cơm nươc cả ngày đường lao động trong rừng, ông Thành tự túc.Trong thời buổi gạo quế củi châu này, củi là tiền đấy bà con ạ! Hiệp sĩ Thành OK  ngay vì đang thất nghiệp trầm trọng. Cả nhà ăn cơm trộn bo bo, bữa cháo, bữa rau, tiền đâu mua củi đốt đây?  Sau 75, ông bị tù cũng gần 7 bó vì là Quan Ba CS, nợ máu nặng ký của nhân dân và CM. Khi được tha về, ông trở lại tỉnh Trà Vinh, nơi vợ và ba con ông đang sống.Trước kia, ông làm việc tại đây, cho nên phải về nguyên quán nơi có hộ khẩu hợp lệ. để trình diện chính quyền địa phương quản lý. Ông phải đạp xe thồ để kíếm tiền phụ giúp bà xã nuôi các con tại đâý. Cuộc sống thật thiếu thốn, chật vật, khó khắn đủ mặt. Lúc bấy giờ Ông Thành  càng thắm thía lời nói của một nhà văn:
        “ Cái nghèo thường đi đôi với bất hạnh và tủi nhục” Đời là thế” Such is the life” như người Anh/ Mỹ thường nói. Từ sau cuộc “ Đổi Đời” đầy bi thảm tang thương hết nói, ông thấy mọi sự cũng thay đổi, lòng người ly tán. Mọi sự việc đều đổi thay, quay một góc 180 độ. Bao nhiêu tủi nhục đau thương, chua xót, cay đắng đã chụp lên cuộc đời ông từ đó.  Cô vợ trẻ và duyên dáng của người hùng đã thay lòng đổi dạ từ hồi nào. Ông quá ngây thơ, cả tin lòng chung thủy của hiền thê. nên phải chịu nhục nhã ê chề. Ông đã bị nàng cấm những cái sừng tê giác to tổ bố lên đầu không thể ra vô nhà thoải mái trong khu phố bé nhỏ tối tăm nghèo khổ lúc đó. Ông như kẻ mù lòa khờ dại mê muội không hay biết gì cả! Đúng là tên khờ bị cấm sừng, bị vợ phản bội cho leo cây mà không phản ứng gì hết ráo, trời ạ! Cứ mù tịt, vô minh quá đổi, ông Địa  ơi! Cuối cùng rồi việc gì phải đến đã đến. ông phải bỏ Miền Nam  về Miền Trung tỉnh lỵ khô cằn sỏi đa, nơi cha mẹ ông đang cư ngụ, nơi chôn nhau cắt rốn của ông để nương nhờ, sau khi chia tay với bà xã đã ôm cầm sang thuyền ai. Bởi vì trên cõi đời đầy khổ đau và hệ lụy  này, không ai thương yêu mình hết lòng bằng cha mẹ ruột của mình. Gia đình song thân cũng sa sút ghê lắm! Thân mẫu và em chuyên bán gạo bấy lâu ngoài chợ Phan Rang, cũng đang gặp khó khăn đủ bề. Thời kỳ cải tạo công thương nghiệp cả Miền Nam ! Khó sống  bằng nghề kinh doanh, dù là buôn bán nhỏ ngoài chợ, trong lúc chủ trương của nhà nước làụ” Ngăn sông cấm chợ”. Chính quyền CM quản lý hết mọi thứ. Kinh tế chỉ huy mà! Đập tan tư sản, tư bản, chuyên bóc lột mồ hôi nước mắt của nhân dân.
        Vì vậy, ông Thành phải tìm cách lao động để kiếm sống, để nuôi bản thân chứ! Chả lẽ cứ ăn bám cha mẹ hoài sao? Ông làm đủ nghề, miễn là có tiền để sống qua ngày đoạn tháng. Việc gì ai mướn thuê ông cũng vui vẻ nhận làm hết. “ Đổ bát mồ hôi lấy bát cơm”. “ Có làm thì mới có ăn Không dưng ai dễ đem phần đến cho”. Làm thuê cho người có ruộng rẫy, cuốc đất, nhổ cỏ, theo nước, đốn củi . Ông OK ráo trọi bà con ạ! 
      Bởi vậy, hôm nay ông Thành vui vẻ theo ông Vang, chủ chiếc xe ụ cà rịch cà tàng lăn bánh chậm như rùa bò vào rừng đốn củi. Chiếc xe khởi hành lúc 12 giờ đêm. Xe ra khỏi cầu Đạo Long, sau khi qua đường phố Thống Nhất le lói ánh  điện vàng vọt hắt hiu buồn bã hết nói ụ, ảm đạm thê lương như cõi lòng của ông vậy. Xe lăn trên đường nhựa tiến về phía Long Bình. Bầu trời tối om. Mây giăng xám xịt như che phủ cảnh vật. Càng về khuya, cảnh vật càng vắng vẻ, địu hiu, lạnh lẽo, càng làm lòng ông thêm cô đơn, trống vắng, thềm se thắt, bâng khuâng, ưu tư phiền muộn vô cùng. Ông  đã thực sự mất tất cả: nhà cửa,  cơ ngơi, nghề nghiệp, vợ con. Ông chỉ còn đôi bàn tay trắng. Phải làm lại từ đầu bằng sức lao động, mồ hôi nước mắt và nhẫn nhục chịu đựng. “ Phải nín thở qua sông.” “ Lao động là vinh quang “ Mà phải lao động bằng chân tay, trời ạ!  Ông Thành thắm thía lời giảng của một nhà sư khi ông theo bố mẹ đi chùa hồi nhỏ:
      “ Phải chịu đựng! Phải bao dung và nhẫn nhục trước nghịch cảnh để vươn lên. Phải lấy nghiệp lực làm nguyện lực. Phải từ bi, hỷ xả. Phải giữ thân tâm an lạc. Phải tập sống an nhiên tự tại để rèn luyện đạo hạnh”” Cái khó nó bó cái khôn”. “ Bao nhiêu đău khổ trên đời, Biến thành hạnh phúc của người chân tu”. Khó lắmũ â. Nói de,ã thực hành mới thật là gian nan, gai gốc. “ Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.”(Kiều). Ông đã quen lao động tay chân vất vả lâu này. Nên ông cũng chịu khổ, chịu khó siêng năng cần cùụ bình thường như bao nhiêu anh em đồng cảnh ngộ lúc bấy giờ.
       Chiếc xe bò cứ lốc ca, lốc cốc, lăn bánh, nghiến rào rạo trên con đường lộ nhựa đen bóng loáng ướt sương đêm. Có vài chỗ ổ ga vì chưa được sửa sang lại sau 75. Xóm Long Bình xa xa , rồi Bình Quý. Chiếc xe cứ lăn bánh rào rạo. Âm thanh kéo dài thê thiết như xé nát ruột gan kẻ khổ đau, bị dằn vặt đủ thứ. Đôi bò cứ gầm đầu lê bước kéo chiếc xe nhẹ nhàng vì trống trơn. Tuy nhiên, ông Vang nôn nóng muốn xe lướt nhanh hơn, nên ông cứ quất roi lai rai vào thân con vật khốn khổ để chúng kéo xe nhanh hơn. Quả là “ Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai” “  Trâu bò quả thật đau thương, Kiếp người đôi lúc cũng buồn bã hơn.”. Đường xa diệu vợi. Chiếc xe lăn bánh chậm chạp rề rà trên quốc lộ. Hai đứa con lớn của ông, một trai, một gái. Con Mỹ chừng 16 tuổi. Tên nghe thật mỹ miều, diễm lệ, nhưng mặt mày không thua gì công chúa Lọ Lem . Nhan sắc của cô gái tuổi tròn trăng này ngang ngửa Thị Nở của nhà văn Nam Cao. Thằng Đôn, em nó, chừng 14 tuổi. Côn sáng sủa, sễ coi hơn chị mình. Hai người con thường theo phụ giúp pha đốn củi trong rừng hay làm nông. Thằng Đôn đang theo học lớp 8 trường Kinh Dinh, tỏ ra ưa thích nghe kể chuyện vui, nhất là truyện kiếm hiệp, phim chưởng của Tàu. Nó lên tiếng nài nĩ kẻ theo cha mình chặt cây rừng  hôm nay:
   -Chú Thành! Nghe nói chú kể chuyện chưởng hay lắm, phải không? Chú hãy kể chuyện cho tụi cháu nghe đi chú! Đường xa lắc mà xe bò đi đến sáng mai mới tới khu rừng có cây để đốn củi.
   Con Mỹ, sư tỷ của nó, đã nghỉ học từ lâu vì nhà nghèo và đông anh em, cũng” nhìn trời hiu quạnh, màn đêm sương gió lạnh”ùỉ phụ họa:     
     -Hãy kể đi chú Thành. Chuyện gì cũng được cho đỡ buồn đi chú!
Thấy cô cậu thích nghe chuyện “võ hiệp kỳ tình”, đánh đấm Hong Kong, Thành vui vẻ:
-Được rồi! Hãy nghe chú mở màn câu chuyện kiếm hiệp ! Chuyện nổi danh của KD.
  Thế là người hùng bắt đầu trổ tài kể chuyện của mình. Trong tù ông cũng nổi tiếng về ‘ “Chiếu phim” cho anh em cải tạo gần bảy năm liền qua nhiều trại giam giữ tù nhân chính trị, trải nhiều tỉnh khác nhau. Họ thích nghe ông kể chuyện tả pí lù đủ thứ trên đời. Chuyện Đông Tây, kim cổ, đặc biệt những tiểu thuyết nổi danh của Trung Hoa như  Tam Quốc Chí, Hán Sở Tranh  Hùng, Đông Chu Liệt Quốc, Thủy Hử, Tây Du Ký, Mái Tây, Phong Thần, Phong Kiếm Xuân Thu, Xuân Thu Oanh Liệt... hay truyện phim  chưởng hấp dẫn nhiều người trên thế giới như Tiếu Ngạo Giang Hồ, Long Hổ Phong Vân, Lục Mạch Thần Kiếm, Võ Lâm Huyết Sử,  Vi Tiểu Bảo ... của KD.
        Tối nay, Thành kể cho hai con của chủ xe bò chuyện Tiểu Phi Đạo Soái Lưu Hương trong Long Hổ Phong Vân nổi danh, có quay phim đóng tuồng đủ thứ. Câu chuyện giống như trinh thám, khá hấp dẫn lôi cuốn cô cậu hết mực. Đường Quốc Lộ 1 xa xôi diệu vợi. Xe tiếp tục lăn bánh lốc ca lốc cốc. Sương buông khắp ngã ướt cả mặt đường nhựa bóng loáng, nhòe nhoẹt dưới ánh trăng non mờ mờ ảo ảo, vàng nhạt ảm đạm thê lương hết nói. Tự dưng, ông Thành ngâm khe khẻ nhại theo Kiều ( các cháu đang say mê câu chuyện chắc không nghe đâu):
    “ Sương khuya buông phủ bốn bề
       Bò đi khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.”
  Chiếc xe lần lượt lăn bánh chậm chạp, long lốc trên con đường thiên lý quan san. Xe qua   khỏi thị trấn Phú Quý, rồi Văn Lâm, Hòa Trinh có ga xe lửa, loại ga xép bé nhỏ nằm bơ vơ hiu quạnh, xám xịt trong đêm khuya lạnh lẽo, buồn bã như chùa Bà Đanh. Giống như “ Buồn Ga Nhỏ” của nhà văn Thanh Namù trước đây. Cuối cùng xe cũng vào gần Quán Thẻ, nơi khu rứng có cây để chặt củi.  Bên phải quốc lộ, phía trước mặt ông Thành là khu vườn trồng cây đào bao la bát ngát. Trời đã tảng sáng. Hai bên con lộ là núi rừng trải dài vô tận. Con đường thiên lý chạy vào tỉnh Bình Thuận và Miền Nam ngút ngàn của dải đất hình cong chữ S. Bên tay trái chiec xe bò đăng dừng bánh là  những dãy núi cao chất ngất, chớn chở, những rừng chồi mênh mông bạt ngàn còn lấp lánh sương đêm. Sau đó, chủ nhân cho xe rẽ tay trái. Chiếc xe bò lạch cạch, lọc cọc, nghiến cát sỏi rào rạo. Xe tiến vào hướng Chùa Chà Bang để chặt cây như thường lệ. Ngôi chùà cổ kính ẩn mình dưới những tàng cây cao trong núi sâu phía xa xa. Tuyệt nhiên, ông Thành không thấy một ngôi nhà hay chiếc chòi dù là làm bằng cây lá đơn sơ tại khu vực này. Trời đã sáng tỏ. Chiếc xe bò càng tiến vào rừng sâu, càng tỏ ra uể oải, bò chậm chạp, mệt nhọc, lừ đừ như con rùa đang cố lếch lê trên khúc đường cát sỏi dã chiến lồì lõm, gập ghềnh...  Xe lăn bánh lúc này quá ư rề rà, lệnh bệch, lạt bạt, bếch bát, chậm hơn người bộ hành nữa, trời ạ! Có lẽ hai sinh vật đáng thương đã mệt nhoài kéo xe cả đêm rồi chăng? Một phần vì đường sá quá ư là xấu xí, một phần hai con bò đã kiệt lực. Ông Vang cứ bực mình quất roi liên tực trên lưng hai con gia súc bốn chân  khốn khổ, đáng thương. Chúng đang cúi gầm đầu hì hục kéo chiếc xe lạch cạch, lếch bếch trên đường mòn loang lỗ, sâu hun hút dẫn vào rừng xa. Đá sỏi nằm phơi mình bên cỏ dại vàng úa còn ướt sương đêm nhòe nhoẹt. Đất đá lẫn cát sỏi bị xoáy mòn, tróc vỡ nhiều chỗ vì mưa lũ tạo con lộ trông xấu xí như chấp vá nhiều nơi. Khi bình minh lố dạng, vừng đông đã rạng ở đỉnh núi phía xa xa, sương mù tan hết thì chiếc xe bò đã vào sâu trong rừng chồi. Rừng núi bao la mênh mông bát ngát trải dài trước mắt mọi người. Chim chóc đủ loại rủ nhau hòa tấu bản nhạc rạng đông tưng bừng rộn rã cả một gốc trời. Vầng ô bắt đầu lố dạng ở phương đông. Mặt trời đỏ lòm nhô lên khỏi đỉnh núi cao chót vót, về phía có ngôi cổ tự, ẩn mình trong khu rừng thâm u, huyền ảo xa xa.
     Ông Thành đã đem theo cây rựa mới mua trước đó của một cu li lúc ông chặt cây tại Khu Tỉnh Ủy ( tức Dinh Tỉnh Trưởng NT cũ). Cây rựa này khá bén. Ông cũng có một cây rựa, nhưng cũ kỹ, màu xám xì, thép dày nặng nề ô dề, lại không sắc bén lắm, nếu không muốn nói là quá đùi, trời ạ! Trong thời gian thầt nghiệp dài dài, người hùng đã từng đăng ký vào làm cu li cho Đội Lao Động tư nhân chuyên lãnh thầu các công tác của nhà nước, như phá hủý các cơ  sở cũ kỹ lỗi thời, bao gồm nhà cửa chợ búa, dinh thự, xây cất cái mới cho cơ quan chính quyền CM.  Làm chủ đội này là ông Năm Ẩn, quê quán vùng ngoài. Tên ông là Lê Ẩn, tự xưng là thân nhân của ông Lê Hiền tức Tám Hiền, Bí thư tỉnh ủy tỉnh Thuận Hải ( ba tỉnh NT, BT , Bình Tuy nhập lại) Ông  ta có biệt danh là” Lê Ẩu”vì nổi tiếng liều mạng ẩu tả, gian lận, không khôn ngoan. Ông đương nhiên công khai ăn gian, cướp mồ hôi nước mắt một cách trắng trợn của đámũ công nhân làm thuê cho Thủ Trưởng nhà thầu nói trên. Ông cố tình chấm công sót khi trả lương cho cu li ( Chẳng hạn 5 ngày công thì chỉ còn 4 hay 3 ngày). Họ cải lại cũng bằng thừa, bù trớt, vì chủ nhân, cao gầy, bịnh hoạn, nói tiếng Phú Yên, khàn khàn, yếu ớt, sẽ lạnh lùụụng biện minh vừa nài nĩ, vừa từ chối dứt khoát, kiện đâu thì kiện:
  -Cơ sở tôi gây dựng nên tốn kém mọi thứ. Chúng tôi chỉ trả cho anh như thế. Thông cảm nhé! Đội Lao Động này nghèo lắm, lại bị lổ lã quá chừng. Anh làm việc yếu.
  Chính hiệp sĩ Thành đã có duyên mua cây rựa khá tốt này với giá 20 đồng khi chặt cây thuê cho Đội Lao Động. Lúc này ông Vang nói với Thành:
     _ Anh chặt cây bỏ đó. Hai cháu sẽ phụ khiêng vác củi ra xe ở ngoài đường mòn. Chặt cây càng nhanh, càng nhiều chừng nào, càng tốt chừng nấy. Xe chất củi kỹõ lưỡng gọn gàng, sẽ chở đượcù nhiều củi đấy! Hôm trước, có anh Quang, cũng SQ cải tạo ve,à đi theo xe tôi chặt củi. Anh ta chặt lẹ lắm, anh Thành ơi! Anh ta chặt một người ôm ra xe không kịp. Thôi chúng ta bắt tay vào việc. Chặt xong sớm chừng nào tốt chừng đó!
     Ôâng Vang nói rặt giọng Từ Tâm. Ông vốn cần cù lao động, siêng năng nổi tiếng nhất xóm họ đang cư ngụ. Ông có cả một đám con, vừa trai vừa gái cũng làm việc quần quật cả ngày giúp gia đình cha mẹ. Hầu như chưa có ai được cho đi học cao. Chỉ biết đọc, biết viết là đủ rồi, giống như song thân chúng vậy. Hầu như cả nhà là dân lao dộng chân taỷ chính hiệu con nai vàng ngơ ngác, bà con ạ!” Lao động là vinh quang” mà lỵ! 
  Họ làm các công việc đồng án, đánh xe bò, cắt cỏ cho bò ăn. chặt củi, đốn cây rừng làm cột kèo, nhà cửa, cuốc đất, cày ruộng, nhổ cỏ, đánh gốc làm rẫy... Ông phân chia công tác lao động cho con trai lẫn con gái làm các công việc kể trên. Lịnh ông ban ra , chúng phải tuân theo râm rấp. Không nghe lời bố là đói meo các con ạ! Ộng bà ta thường nói:” Bụng đói thì đầu gối phải bò”ụ. “ Có thực mới vực được đạo”. “ Có làm thì mới có ăn Không dưng ai dễ đem phần đến cho.” Ba xã ông cao gầy, yếu đau triền miên, hầu như quanh năm suốt tháng phải uống thuốc đủ loại để chữa bệnh tiểu đường, một chứng bệnh nan y, gây đau khổ cho bệnh nhân không ít ỉ! Lúc bấy giờ chị ta ốm nhách như con mắm. Mọi việc nặng nề, nhiêu khê từ trong nhà ra ngoài ngõ, đến nơi xa đều do anh chồng đảm đang, quán xuyến hết ráo trọi, bà con ạ! Quả là đấng trượng phuà đa năng, đa tài. Trước khi bị lâm căn bịnh hiểm nghèo nói trên, hiền thê cứ sản xuất năm một dài dài. Quả là cái máy đẻ đều đặn hàng chục đứa con không mệt mỏi. Từ ngày bị bịnh, bà vợ không còn mang bầu hàng năm như xưa nữa.
    Ông Thành và chủ xe mải miết chặt cây rừng đến trưa. Trời nắng như thiêu như đốt. Không một chút gió mát. Mồ hôi tuôn xối xả, ướt cả áo quần hiệp sĩ, gốc giáo sư ngày nàò. Ánh nắng chói chang. Nắng lấp lánh rưc rỡ chiếu khắp nơi. Thấp thoáng phía đông khu rừng chồi là ngôi cổ tự. Chùa Chà Bang nổi tiếng của quê hương nắng gió NT đang ẩn hiện nhạt nhòa trong ánh nắng trưa vàng lung linh mờ ảo. Chùa nằm trong rừng sâu hun hút. Vài cụm mây trắng đang lơ lửng trôi lãng đãng trên đỉnh núi cao vời vợi. Những tia nắng vàng óng ả long lanh. Nắng như nung nấu cảnh vật của núi rừng bao la bát ngát. Nắng như chan hòa khắp cành cây ngọn cỏ héo khô vàng úa trải dài vô tận. Ông Thành lúc này chặt cây đã mỏi tay. Ông cảm thấy mệt nhọc vô cùng khi trời đứng bóng. Tại đây không thấy thú rừng. Chỉ thấy chim muôn bay nhảy khắp nơi. Chim chóc ca hót vang lừng khắp ngã. Muôn loài chim rừng rủ nhau hòa tấu, ca hót vang cả một góc trời từ sáng sớm đến giờ. Thỉnh thoảng, ông Thành nghe chim cu gáy, gù, gọi bạn đường trên cành cao chất ngất phía xa “ Khúc khù khu! Khúc khù khu, khúc khu...” Nghe thật buồn bã não nuột, xót xa, ảm đạm hết nói! Ông cảm thấy lòng bâng khuâng, cảm xúc vu vơ, cô đơn xao xuyến như con chim đang tìm bạn tri âm vậy. Nghe chim cu gù thê lương tha thiết, ông lại nhớ thời gian khổ sai lao động trong rừng núi trước kia.
              “ Núi sậu rừng thẩm âm u Tiêu điều cảnh vật, cu gù thê lương.
                Chim kêu vượn hú sương buông Khổ sai lao động, bụng luôn đói mèo.
                Từ bi, bác ái quạnh hiu, Con người sao cứ mãi theo hành người.
                Nhân sinh giả tạm mây trôi, Uy quyền, bạo lực một thời mây bay.”
       Trời đã quá trưa. Cả đám được nghỉ để dùng cơm nguội và uống nước lã mang theo từ hồi hôm. Ông Thành vừa cơm nườc xong và đang quấn điếu thuốc rê hút đỡ lạt miệng, ông Vang nói ngay:
      - Thú nghỉ, chứ người không nghỉ trưa. Chúng ta hãy chặt cây cho kịp đầy xe.
 Thực ra, kiếp trâu bò, đôi khi còn sướng hơn con người một bậc, phải không quý vị? Chẳng hạn, hiện tại chúng được nghỉ giải lao vào buổi trưa trời nắng như thiêu như đốt. Nắng gay gắt chói chang tưởng chừng như lửa hạ đangỉ trôi lãng đãng khắp núi rừng khô cằn sỏi đá trải, dài trước mặt mọi người. Còn con người vẫn phải lao động cực lực trong không khí oi ả nóng bức vô cùng. Ông Thành chợt nhớ đến lời thơ của một thi sĩ nào đó:” Đói nghèo tủi nhục đi theo, Mùa xuân vắng bóng, quạnh hiu cuộc đời” 
     Thế là hiệp sĩ cu li phải ra sức chặt cây rừng dưới nắng trời nung nóng như lò lửa của núi rừng Quán Thẻ. Mồ hôi cứ tuôn xối xả cả mặt mày thân thể tay chân áo quần ai. Người hùng trông gầy đét, da mặt đen sạm, mắt đã tóe lửa, bộ quần áo lao động bạc phết phong sương, chiếc mũ rừng mềm nhũn nhầu nát che đầu tóc hớt cao kiểu nhà binh đã quen.
             “ Buổi trưa thú nghỉ nhởn nhơ. Con người lao động bơ phờ chặt cây.
               Nhân sinh quả kiếp đọa đày Bao nhiêu cực khổ đắng cay chẳng ngừng.”
    Họ cứ chặt cây không ngừng nghỉ cho đến chiều mới đầy chiếc xe bò. Thế là hai con thú ra sức kéo chiếc xe đầy nhóc củi. Chủ nhân cứ thỉnh thoảng quất roi liên hồi, đốc thúc các gia sức ra sức kéo xe trên  đường thiên lý quan san. Hoỳ về tới nhà đúng nửa đêm. Ông Vang cho ông Thành một nhúm củi gọi là trả thù lao 24 giờ đi theo xe ông lao động. Con người sa cơ thất thế, quen lao động tay chân kiếm sống. Ông vui vẻ cảm ơn chủ xe bò. Ông Thành cũng đã từng đạp xe thồ trước chợ Phan Rang. Đời ông lúc này chẳng khác gì bâu trời mùa đông xám xịt buốt giá ảm đạm thê lương hết nói. Cuộc sống vì cái nợ áo cơm, cứ ba chìm, bảy nổi, chín long đong, cứ thăng trầm sau ngày Đổi Đời bi thảm. Cuộc đời cứ thiếu mùa xuân như bao nhiêu người đồng cảnh ngộ khác, trời ạ!  Tuy nhiên ông vững tin vào ngày mai” Sau cơn mưa trời lại sáng” như ông bà ta thường nói. Mây xám rồi sẽ tan đi. Ngày mai trời sẽ quang đãng. Trời sẽ xanh biếc màu hy vọng. Trời sẽ nắng ấm, ánh nắng mùa xuân sẽ long lanh rực rỡ. Mây trắng sẽ xuất hiện mịn như nhung “ Sương tan đầu ngõ vén mây giữa trời”( Kiều). Trời sẽ không  phụ lòng thành của hảo tâm nhân. “ Ước mơ chính đáng xiết bao Ông bà phù hộ trời cao thương tình.” Người hùng tữ nhủ lòng mình: ” Ta cứ nhẫn nại bao dung cần cù lao động và hy vọng để mà sống  còn trong cõi đời đầy khổ đau và hệ lụy này”. Ông chưa biềt cuộc đời mình ngày mai sẽ ra sao. Nhưng cứ ung dung, tự tại, sống bình thường như mọi người khác, nhất là những bạn bè, những người đồng cảnh  ngộ với mình.
        “ Cao xanh nào phụ lòng người
           Hết cơn bỉ cực tới hồi thới lai.”

CHƯƠNG 8
        CHẤP NỐI TƠ LÒNG
 
  “ Người hùng, chánh thất bái bai
    Long đong quê mẹ, tiền thời vắng teo.
    Nữ nhi chồng đã buông chèo
    Hai bên gặp gỡ lèo tèo nợ duyên.
    Cùng nhau xây dựng con thuyền
    Qua vùng Đất Hứa êm đềm ước mơ.”
     Sáng hôm nay, bầu trời trong xanh, không khí thật mát mẻ, ánh nắng thật dịu dàng. Gió sớm thoang thoảng, phe phẩy thổi qua thềm nhà. Ông Thành  cảm thấy lòng mình  lâng lâng, nhẹ nhàng như sương như khói. Ông liếc nhìn người bạn đường duyên dáng, đang sắp xếp trang trí lại phòng ngủ, tổ ấm của chàng- nàng. Lúc này, họ có vẻ hợp nhau ghê lắm, bà con ạ! Như cá gặp nước, rồng gặp mây. Như “ Đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”. Như rượu vào lời ra, chuột sa hủ nếp. Như lẫu lương gặp bia lạnh tha hồ chơi tới bến, chơi thả giàn, nhậu thả cửa. Nàng thì đã bái bai anh chồng say sưa, sáng xỉn, chiều saỵ từ lâu. Nàng đã lắm phen khuyên bảo phu quân chừa bỏ thói hư tật xấu cờ bạc, rượu chè. Tuy nhiên, trượng phu vẫn chứng nào tật nấy. Vẫn nghiện chất cay và ghiền trò chơi may rủi, đỏ đen quá cở thợ mộc.” Cứ là tri kỷ Lưu Linh, Cứ là cờ bạc đỏ đen không chừa. Bao nhiêu tật xấu chẳng xa Thôi thì duyên nợ đôi ta cùng tàn.” 
     Chàng về sống với cha mẹ ờ Tấn Lộc. Còn nàng tự lập từ đó. Nàng lanh lợi, biết tính toán, có bản lĩnh, biết sống, biết người, biết ta. Nàng may mắn làm ăn khắm khá nuôi bày con dại. Giờ chúng cũng đã khôn lớn. Nàng từ lâu mong ước được sang vùng “ Đất Hứa”. Còn chàng, từ khi tập trung cải tạo vì là SQCS chế độ cũ, trở về thì hiền thê còn trẻ trung duyên dáng đã ôm cầm sang thuyền ai. Hai kẻ cô đơn tại chỗ, đều cùng có mộng ước xuất cảnh, đi tìm bến bờ tự do, dân chủ, chân trời cao rộng hơn. Họ ao ước giấc mơ của mình được hiện thực, cũng vì tương lai học hành của con cái và cũng vì cuộc sống mới sau này, sẽ khởi sắc, phong phú hơn ở quê nhà. Vì thế, họ đã OK xây dựng tổ ấm uyên ương, êm đềm hạnh phúc gối chăn. Mái ấm của người hùng và thuyền quyên tuy muộn mang, nhưng chứa chan hương lửa ba sinh. Họ cư ngụ tại nhà bố mẹ của ông Thành. Ông bà Năm cho phép con trai trưởng bị vợ bỏ, đá giò lái, cho leo cây, chấp nối với bà Hoa, cô dâu mới, một gian phòng rộng rãi khang trang đầy đủ tiện nghi để hai người xây tổ ấm ỉăuyên ương, thoải mái, êm đềm hạnh phúc lứa đôi. Phòng the được tân nương trang trí nội thất thật tỉ mỉ, khéo léo, bắt mắt hết nói, bà con ạ! Bà vốn là một cô giáo trước đây. Nhưng sau đổi đời thì nghề gõ đầu trẻ bị bạc đãi quá cở, bị xuống giá và xuống cấp một cách bi thảm tang thương giống như dân Miền Nam, những kẻ thua trận bị thất thế, sa cơ, tù đày, đói khổ lầm than khủng khiếp. Người dận cứ đọc lầu lầu các câu ngạn ngữ thông dụng lúc bấy giờ:
          “  Nghề giáo dứt cháo. Thầy giáo tháo giày” Bởi thế, bà xin nghỉ dạy đổi nghề và làm ăn phất lên trong thời buổi bát nháo chụp giựt ấy. Bà có của, túi bạc rủng  rỉnh, chi tiêu hào phóng, sửa sang phòng loan duyên mới, kiều diễm, gợi cảm, hấp dẫn, hưng phấn hơn. Chiếc giường đôi cho đêm hợp cẩn đôi ta thật mới toanh, brand- new chánh hiệu trăm phần trăm con nai vàng. Tấm màn tuyn xanh nhạt lấp lánh. Đèn ngủ mơ màng, lung linh xanh vàng, huyền ảo như đưa đôi ta vào chốn  Thiên Thai tiên động, êm đềm hạnh phúc, gối chăn mây nước. Quả là Ông Tơ Bà Nguyệt khéo sắp bày cho đôi lứa thỏa tình Ngưu Lang Chức Nữ,  kỳ ngộ trùng phùng, yến anh tuỵệt diệu. Quạt máy mới toanh, bóng lộn. Tủ lạnh sáng chói. Đầu máy TV, máy cassette, thu bằng hiện đăi cho chàng- nàng thưởng thức các phim truyện đủ loại, các băng nhạc đủ thứ để giải trí vui hưởng, thư giản tâm hồn, để bù lại những ngày gian khổ, thiếu thốn, chật vật trước kia. Quả là “ Có tiền mua tiên cũng được.” Phòng khách cũng được trang hoàng đẹp mắt sang trọng hết ý với bộ sa lông đắc giá. Thật là một tổ ấm lý tưởng cho tân lang và tân nương hưởng hạnh phúc của đêm hộp cẩn và tuần trăng mật. Chàng đã cán khỏi mức” Ngũ thập tri thiên mệnh” từ lâu. Còn nàng thì cũng đã qua khỏi truông” Tứ thập nhi bất hoặc” mấy năm nay.”` Chàng thuộc diện tù cải tạo HO, có đủ điều kiện để được sang định cư tại Hoa Kỳ. Nàng gá nghĩa với người hùng, lập giấy tờ hôn thú với chàng để hợp thức hóa hồ  sơ hôn phối hai bên. Chúng ta sẽ có lợi cả hai. Nàng giàu có chịu chi tất cả cho bạn tri âm. Bây giờ hai kẻ cô đơn đã ngồi chung thuyền, gắn bó tơ lòng, gảy khúc nhạc hương lửa ba sinh tang tình líu lo, êm chèo mát mái . Họ đang chờ ngày mộng ước thành sự thật. Chờ ngày thăng hóa, thay đổi cuộc sống. Hiện tại đôi tân lang  và tân giai nhân trung niên đang hưởng hạnh phúc tình hồi xuân” retour d’ âge” phơi phới, như trăng mới lên, như hoa mới nở. Tình yêu hai người thêm thắm thiết, đậm đà, rực rỡ như vầng trăng giữa vòm trời đêm trong xanh, quang đãng. trong vắt như pha lê 
    “ Phòng loan ấm áp thuyền tình  Êm chèo mát mái cho mình ngát hương.
      Đêm xuân một giấc mơ màng Trăng soi song cửa, dịu dàng gió đưa.
      Tương lai rực rỡ đón chờ  Đến vùng “ Đất Hứa” tự do mừng chào.
      Chàng nàng hạnh phúc bên nhau Tình tang khúc nhạc dạt dào ái ân.”
 Họ vui hưởng hạnh phúc sắt cầm dù là muộn màng, còn hơn là không. phải không thưa quý vị? Trong tình yêu làm gì có tính toán so đo. Thật vậy, lúc bấy giờ, tình yêu đôi lứa của họ thật là êm đềm hạnh phúc, chứa chan hoan lạc, ái ân mặn nồng đầm thắm hết mực.  Con người càng trưởng thành, càng có thêm kinh nghiệm gối chăn yêu đương nồng nhiệt mặn mà, say đắm.” Càng già càng dẻo, càng dai Càng thêm hưng phấn càng dài tình xuân”. Ông Thành còn nhớ hồi ở trong Nam, sau đổi đời, người hùng sa cơ thất thế phải chịu cảnh tơi tả hoa lá cành hết mực đắng cay chua chát. Đi tập trung tù cải tạo trở về, hiệp sĩ bị má hồng đối xử lạnh nhạt, trở mặt như trở bánh tráng. Bà xã cứ  mưa nắng bất thường, bánh đa cứ lật qua lật lại liên tù tì. Ông đi xe thồ cực nhọc vất vả dải gió, dầm mưa hằng ngày để kíếm sống . Vợ ông đã trở gối đổi chiều nghĩa tình mây bay, gió thoảng từ hồi nào mà ông không hay biết. Thiên hạ bàng quan xì xào này nọ mà ông cứ ngu ngơ, chủ quan cả tin, cả nễ, cù lần lửẫ. Ông quả ngây thơ nhẹ dạ, dễ tin “ hiền thê thục nữ trung trinh, dảm đang, hiền thục duyên dáng, dịu dàng thông minh lanh lợi. Giai nhân đã từng làm ai say mê một thời trai trẻ. Ngày xưa, là SQCS, có quyền có chức, oai ra phếch. Người hùng hào hoa, phong nhã,  đa tình, đa cảm chút chút, bà con ạ! Chàng ngự lâm pháo thủ gốc Phan Thành có tánh hay ưa đàn bà nhất là phụ nữ có nhan sắc và thường được các bà sồn sồn, các cô ưa lại. Người hùng hịệp sĩ quả có số đào hoa thường được phái nữ chiếu cố quan tâm đến. Họ thương mến “ anh hùng chiếu cố mỹ nhân”. Thật vậy với chức quyền trông coi an ninh trật tự phố phường lúc bấy giờ, hiệp sĩ có điều kiện giúp đỡ người đẹp nhiều mặt nhiều thứ. Ông thường che chở thuyền quyên trong công vịêc làm ăn, buôn bán kinh doanh, mở hàng quán, tiệm buôn, mánh mung làm giàu. Má hồng cảm động và họ tha hồ tang tình mây nước hàn huyên tậm sự đêm ngắn tình dài, hương xuân dạt dào, tình xuân phơi phới đậm đà tha thiết mặn nồng hết nói. “ Đa tình, đa lụy, đa mang Nhiều cô, bà xã ghen tuông giận hờn”.
   Bà Lan quả là hậu duệ của Hoạn Thư, đệ nhất nữ nhân ghen chồng. Ông Thành  suýt thân bại danh liệt và bể mặt, bầu cua, cá cọp nhiều phen, quý  vị ạ! Ông cũng khôn  ngoan khéo léo biết tâm lý phụ nữa nên “ Tránh voi không xấu mặt nào” và vuốt ve hiền thê mới qua các ải hiểm nghèo sóng gió gia đình. Tuy nhiên, có lẽ bà Lan không quên cái tánh đa cảm, đa tình, thích bay bướm phong lưu cũng như bao lỗi lầm của trượng phu trước đây. Vì vậy, bà đã áp dụng câu ngạn ngữ của người xưa” Ông đã ăn chả thì bây giờ bà cũng ăn nem”. Bà xơi nem tuy có trễ có muộn màng nhưng đã nếm món nem tuyệt vời cho đã thèm mà lỵ. Đã trót ăn vụng nem nướng rồi thành ghiền và cứ lai rai ăn nem mãi.  Thông thường:
      “ Đàn ông mê gái ngoài đường, Cửa nhà, con, vợ vẫn thương chẳng lìa.
         Đàn bà chồng đã chán chê, Gia đình mái ấm khó bề êm xuôi”
    Lúc bấy giơ, bà Lan đã thực sự thay lòng đổi dạ. Sau ngày MN bị “ Sập Tiệm”, cuộc  sống kinh tế quá ư thiếu thốn, khó khăn. Ông xã bị tập trung tù cải tạo xa xôi, diệu vợi,  không biết chừng nào mới được tha để trở về đoàn tụ gia đình, gặp lại vợ con. Tay yếu chân mềm, không quen lạo động tay chân, người phụ nữ còn trẻ trung có nhan sắc, lấy gì  nuôi ba con dại đâý? Thế là nhờ cán bộ anh hùng hào hoa phong nhã, có chức có quyền trong chế độ mới hay thương hương tiếc ngọc, chiếu cố giúp đỡ buôn bán làm ăn trong thời buổi gạo quế củi châu. “ Gái ba con, trông còn ngọt nước Khiến anh hùng khó bước rời xa”. Ông bà ta cũng thường nói :” Vợ xấu là vợ mình Vợ đẹp là vợ người.” “ Gái khôn cho mấy trai dỗ lâu buồn cũng phải xiêu” “ Chức quyền, địa vị, bạc tiền Làm cho lóe mắt thuyền quyên xiêu lòng.”. Cuối cùng, “ Việc gì phải đến, đã đến”. Đổ vỡ hạnh phúc gia đình của kẻ sa cơ thất thế, kẻ bại trận, kẻ bị tù tội khổ sai là lẽ tất nhiên. Hoài niệm bi thảm đau thương cứ ẩn hiện trong vùng trời ký ức của ông Thành.
       Thật vậy, lúc đó, ông thật là vô minh, ngây thơ cụ, cứ ngu ngơ khù khờ không hay biết gì về bà xã đã thay lòng đồi dạ từ lâu rồi. Người ta xì xào bàn tán nhưng ông cứ tin  sự chung thủy của hiền thê, trời ạ! Ông mãi lo đạp xe thồ giúp vợ nuôi con. Ông thỉnh thoảng bắt gặp phu nhân sửa soạn trang điểm hơi kỹ vào buổi chiều vì nàng phải giao du liên hệ với người này người nọ để buôn bán nhỏ kiếm sống mà. Ông không nghi ngờ nàng chút nào. Tuy nhiên” Đi đêm mãi cũng có ngày gặp ma”   “ Ăn vụng thét cũng có lúc bị bắt quả tang.” “ Xé rào hay đi tắt mãi cũng có ngày bị phát hiện “.” Chạy trời không khỏi nắng”. Buổi chiều hôm đó, sau một ngày thồ xe vất vả nhọc mệt hết sức chở mấy gánh cá cho các bà lên chợ bán, ông cảm thấy đói bụng vô cùng. Mồ hôi mồ kê ướt đẫm cả mặt mày tay chân và quần áo. Ông cảm thất bụng cồn cào và khát nước ghê lắm! Ông liền ghé vào chợ của thị xã nơi ông cư ngụ để tìm chút nườc  gì giái khát và mua ít thức ăn dằn bụng để rán “ cày” thêm xuất “ sẩm tối” Ông thường thồ xe đến chạng vạng, khi phố đã lên đèn, ông mới về nhà tắm rửa, nghỉ ngơi ăn uống. Ông đã bắt gặp bà xã ăn uống với tình nhân tại chợ.
      Xem chừng” hai bên cùng liếc hai đàn cùng ưa” như “ Cá gặp nước rồng gặp mây” “ Yến anh chén tạc chén thù Mày đưa mắt liếc anh hào đắm say”. 
      Một kẻ thân tàn ma dại rách mướp đạp xe thồ kiếm sống qua ngày” Chạy cơm từng bữa toát mồ hôi”. Bây giờ  bị vợ cho cấm sừng to tổ bố thế này.
          ” Thuở trời đất nồi cơn gió bụi, Khách má hồng bươn chải nuôi con
             Cứ là sừng cấm đầu chồng.  Bàng quan hay biết, anh hùng ngu ngơ” 
   Chàng chết đứng như trời trồng. Đứng trơ như Từ Hải. Anh tình địch, có chức có quyền của chế độ mới, một Cán bộ cao cấp, ngó chàng mặt lạnh  lùng, không thèm chào hỏi , không nhếch môi cười. Y ngước nhìn chàng bằng đôi mắt khinh khi, nửa như chế riễu, nửa như thách thức, lộ vẻ cao ngạo của kẻ đắc thắng đã chiếm được người đẹp, đã quyến rũ thành công vợ kẻ bại trận bị tù đày mới ra khám. Ông bắt gặp quả tang nàng ăn vụng ngoài phố? Nàng tản lờ như không quen biết với ai, Không thèm lên tiếng chào hỏi hay giới thiệu, hay thanh minh thanh nga với chồng mình đang đứng sờ sờ trước mặt hai người Ông giận muốn sôi gan. Ông muốn đập hai tên gian phu dâm phụ một trận cho đã nư. Tuy nhiên, thấy mình cô thế, một kẻ tù tội bị hành hạ khổ sai nhiều cuốn lịch mới được trở về, còn quản chế một năm, ông kềm hãmá được cơn căm giận uất ức của mình trước kẻ thù cướp vợ ai một cách ngang nhiên trắng trợn và người vợ không chung thủy thản nhiên hò hẹn với trai, coi chồng như pha rề.
     “ Nghĩ đời mà ngán cho đời  Có quyền, có chức, vợ người đoạt ngay.
        Đàn bà cũng dễ đổi thay Thủy chung trinh tiết mây bay gió lùa.”
  Nếu vì ghen tức nóng giận mà làm tổn thương họ thì chỉ tổ hại mình thôi, không lợi ích gì cả. Họ là kẻ chiến thắng. Kẻ cầm quyền. Họ nắm quyền sinh sát trong tay “ Lý của kẻ mạnh là lý tốt nhất”( La raison du plus fort est toujours la meilleuse) như văn hào Pháp La Fontaine từng nói. Ông đã nhịn vợ từ lâu, không phải chỉ hôm nay. Ông đã bị lép vế lâu rồi, trời ạ! Ông chợt nhớ lời một nhà văn nào đó đã nói:” Đàn ông mê gái, vẫn còn thương vợ thương con. Đàn bà mà ngoại tình coi như chấm dứt tình nghĩa tao khang bấy lâu “ .    
     Chợt ông nhớ dến lời nói của một nhà văn” Người lính  ở Miền Nam đã chịu nhiều thua thiệt, mất mát đủ thứ trước đây. Nhưng khi đổi đời  mới thật sự mất hết tất cả.” Quả thật cay đắng ngậm ngùi khổ đau cho kẻ chiến bại. Bị người chiến thắng chà đạp lên mình nhiều mặt mà đau khổ nhất là phá tan hạnh phúc hôn nhân gia đình của kẻ dưới ngựa. Ông nuốt nước bọt cúi gầm dẫn xe đạp lầm lũi ra phía bờ sông. Ông chia tay vợ từ đó.
        Hai vợ chồng ông sau nhiều năm chung sống đã có ba con, hai gái, một trai. Tuy ông trước kia có bồ bịch lai rai , nhưng ông vẫn thương vợ thương con hết lòng. Vẫn làm tròn bổn phận người chồng người cha kia mà. Đàn ông lính tráng hay lực lượng cảnh sát an ninh rày đậy mai đó trong thời chiến, trong buổi loạn ly, ai mà không có bồ bịch trai gái. Ông chỉ là  một phàm phu tục tử như bao nhiêu người khác. Trai năm thê bảy thiếp là thường trong thời buổi nhiễu nhương, chiến tranh ác liệt. Nay sống mai chết. Từ thần có thể chiếu cố bất cứ lúc nào. Hay là ông bị quả báo. Nàng  âm thầm hận ông trước đây cứ đào hoa phong nhã thích phong lưu bay bướm ưa của lạ gái đẹp. Bây giờ bà xã đá giò lái trượng phu. câm sừng tê giác cho bỏ ghét.
      Ông  mua vé xe về Sài Gòn và về quê mẹ ở Phan Rang/ NT. Thế là họ bái bai nhau. Ộng bị vợ bỏ. Nàng ôm cầm sang thuyền ai. Nàng theo kẻ có chức có  quyền có tiền có bạcâ có đủ thứ.
       “ Em đi  đường em, anh đường anh
          Hương Lửa Ba Sinh đã đoạn tình
          Thề quyết không còn sum họp nữa
          Mây trời theo gió cứ lênh đênh.” ( Nhại thơ Thế Lữ)
       Bây giờ ông Thành và bà Hoa, hai kẻ cô đơn phòng không chiếc bóng, trời đã dung  rủi xui khiến cho hai bên gặp nhau. Họ thương yêu đùm bọc nhau. Hoỳ làm giấy tờ hợp lệ hôn thú để chờ ngày phỏng vấn đi xa. Hai người thật vui vẻ hạnh phúc. Không còn cảnh vò võ phòng khuya một bóng, cô đơn lạnh lẽo lúc trăng lên, hay lúc đông về hay vàng thu rơi lả tả bện song cửa, quạnh quẽ ảm đạm, hay nghe mưa rơi tí tách ngoài hiên vắng vẻ địu hiu buồn não nuột.” Tình yêu là tranh thủ” cũng như “ Sống là hy vọng”. Dù  trong cảnh ngộ nào, nếu còn hơi thở thì ai ai cũng rán sống, cố sống, cố gắng vươn lên, phải hy vọng để sống còn trong cuộc đời nhiều khổ đau và hệ lụy này. Vì vậy hai người, tuy hai mà một vào lúc này, vào lúc hai con tim cùng hòa nhập làm một. Ho cùng dệt mộng tương lai. Họ hy vọng họ sẽ có cuộc sống phong phú, tự do, thoải mái hơn ở xứ người “ Vùng Đất Hứa”. Con cái họ sẽ được học hành cao hơn, và có tương lai hơn.
       “ Bây giờ hai kẻ cô đơn Nhạc tình hòa tấu bản đờn phòng loan.
          Đêm khuya gió thoảng dịu dàng Mưa rơi tí tách chăn màn ngát hương.
          Ngày mai lập nghiệp tha phương Cứ nuôi hy vọng đẹp đường đôi ta.”

CHƯƠNG 9
           KẺ KHỐN  KHỔ
     
         Ông Thành đã thực sự làm công nhân hảng Carwash để kiếm sống như bao nhiêu Việt kiều đồng hương khác ở xứ Cờ Hoa. Ông có người bạn đồng nghiệp là ông Đào cũng làm tại hảng này, chuyện lau chùi rửa xe các loại cho khách hàng. Ông Đào sống cu ki từ lâu một mình một bóng, thuê nguyên một nửa ngôi nhà Duplex ở Khu Vĩnh Phát. Lúc bấy giờ, người hùng, gốc Đại Đội Trưởng ĐĐ/ ĐPQ, lính tác chiến một trăm phần trăm bà con ạ, đang lầm lũi đạp xe trên đường lộ đến sở làm. Thông thường chừng ba mưới phút con ngựa sắt sẽ đưa hiệp sĩ đến sở làm. Trời rét câm câm lạnh thấu xương tê cóng mặt mày chân tay trời ạ! Gió bấc thổi vì vèo rung rung hai bên tai. Ông cảm thấy buốt giá cả châu thân, run cả người dù người hùng đăng mặc đến năm lớp áo: Nào là áo thun trong cùng, rồi áo ấm cụt tay, áo len dài tay, áo uniform của Hảng Carwash. Chiếc áo dày nhất, ấm nhất, áo Jacket khóa bên ngoài cùng của cơ thể. Ông Đào cũng mặc hai cái quần dài, một quần mỏng và một quần đồng phục của  Hảng. Mang vớ dài, giày da. Ông cũng đeo găng tay. Hiện tượng cởi xe đạp đi làm ở HoaKỳ thật hiếm hoi quá ư cá biệt tại Baton Rouge, thủ phủ của tiểu bang LA.
       “ Áo thì năm lớp dày cui, Quần mang hai cái, vớ dài, găng tay.
          Muửa đông lạnh cóng tê người, Đạp xe nghe buốt thân ai dặm trường. 
          Quả là hiện tượng khác thường Người hùng tác chiến can trường năm xưa”
    Dùng chiến mã bằng sắt để đi cày về mùa đông rét lạnh thấu xương có khi nhiệt độ hạ xuống âm độ C và vào mùa hè nắng chang chang rực lửa, không khí oi ả nóng như thiêu như đốt, nhiều lúc dâng cao trên mức 102 độ F. Quả là hiện tượng cá biệt hiếm thấy, phải không quý vị? Ngoại trừ một vị cụt tay trái, không thể học lái xe, phải đạp xe hai bánh để dến làm công nhân hảng Carwash như ông Đào. Hiệp sĩ gốc Hạ Sĩ Quan QL/VNCH này đã từng gửi tại chiền trường cánh tay khi chiến đấu để gìn giữ qụê hương, và bảo vệ tổ quốc cùng lý tưởng tự do:
         “ Ta trở về với cánh tay còn lại. Cánh tay kia đã gởi tại sa trường.
            Người chiến sĩ sá gì thương tích ấy, Ta vui mừng được bảo vệ quê hương”
       Thật ra, ông Đào, bạn ông Thành, nghèo lắm. bà con ạ! Ông nghèo nhất thành phố này, thủ phủ của  tiểu bang ( TB này nguyên là thuộc địa của người Pháp. Khi Nã Phá Luân thua trận ở Âu Châu, hoàng đế đã bán thuộc địa này cho HK) . Từ ngàỳ sang định cư tại xứ Cờ Hoa vào đầu năm 1995, diện HO, ông Đào vẫn sống cô đơn lạnh lẽo phòng không chiếc bóng
         ” Phòng không một bóng một hình, Chăn đơn gối chiếc xem tình cũng quen.
           Căn nhà quạnh quẽ buồn tênh Nửa khuya trở giấc thấy mình quạnh hiu.
           Mùa đông gió bấc vì vèo, mùa hè nóng bức, chèo queo người hùng.”
    Nhưng rồi ông cũng quen, cũng bình thản, cũng vui vẻ thoải mái, cũng thích nghi với cuộc sống mới ở quê người, cũng đi lao động, cũng đọc sách báo, xem phim truyện,ả cũng  ngâm thơ, làm thơ giải sầu qua ngày đoạn tháng. Trời thương cho sức khỏe nhờ tập Taichi lai rai. Những kẻ sống cô đơn dễ buồn chán, dễ ngã bệnh vì không người thân chăm sóc. Họ dễụ từ trần đột ngột, âm thầm, không ai hay ai biết gì cả. Sức chịu đựng của con người, nhất là người già cũng có hạn thôi. Vì cuộc sống ở đây ai cũng bận rộn, tất bật với công việc sinh nhai kiếm tiền của mình. Do vậy, ít có người quan tâm để ý đến kẻ khác, nhất là người không thân thiết với mình. Thật là tội nghiệp cho những kẻ sống thui thủi, cu ki một bóng ở xứ người.         
    Do đó, ông Đào đã quen sống cô độc trong căn nhà rộng rãi. Ông thấy thoải trong phòng vắng vẻ, hưởng không khí êm ả yên tĩnh. Tuy cô đơn hiu quạnh nhưng khỏi đụng chạm, làm mếch lòng ai. Đúng là “ Vô sự quỷ thần tiên”. Sau 75, ông tập trung cải tạo vì là Đ/U chế độ cũ, người vợ đã bái bai ông, dẫn con cái về quê mình sống với bố mẹ. Ông  trải nhiều lao tù “ Địa Ngục Trần Gian”. Nào Sông Mỹ, Sông Mao, Tà  Dôn, Cà Lon, Hàm Trí, A 30. Gần 7 năm  trong ngục thất, người hùng phải chịu nhiều đau đớn, khổ sở, đói khát, lao động khổ sai, thiếu thốn trăm bề. Thỉnh thoảng mẹ và em đến thăm nuôi. Hiệp sĩ sống vất vưỡng, lay lất qua ngày. Sau khi được ra khỏi trại tù ông về ở với mẹ tại một vùng nông thôn hẻo lánh. Lúc đầu người hùng ở chung với má và em trai . Về sau nhận thấy không hợp nhau vì thằng em út của ông thuộc loại chằng ăn trăn quấn, cọp xé, ó đâm. Nó hiếp đáp ông anh đủ điều, vì thấy ông cô thế, bị quản chế nghiêm ngặt, mất hết cả tự do, lại nghèo đói, lầm than quá cở. Ông đang ở thế kẹt” “Một sự nhịu chín sự lành”. “ Nín thở qua sông”. Ông phải cất chòi ra ở riêng trên mảnh đất của ông chú ruột tốt bụng. Cái chòi cũng bé tí tẹo, bé xíu, nhỏ nhoi, khiêm nhường, co rúm, hèn mọn như thân phận Ngụy quân của ông lúc mới ở tù ra. Đói lắm, rách lắm, tả tơi hoa lá cành lắm, trời ạ! Ông phải đi làm mướn, làm thuê, tát cá bắt cua, cào tép trên sông để kíếm sống qua ngày đoạn tháng. Thỉnh thoảng mới được người thuê cuốc đất cả ngày vất vả rã rời chân tay với tiền công rẻ mạt 12 ngàn đồng ( chưa tới 1 đô la Mỹ), đủ mua ít cân gạo và gói trà. Tuy nhiên, làm mướn cũng gặp nhiều khó khăn, khốn đốn. Tại nộng thôn lúc đó, hầu như ai cũng nghèo khổ thiếu thốn. Hiếm khi có người thuê mướn người khác giúp việc. Ngoại trừ những việc làm nặng nhọc vất vả như cuốc đất, chém bờ, sửa chữa nhà cửàũ, đập phá nhà cũ để thợ nề xây nhà mới. Đói lắm, kho cực vô cùng trời ạ! Không ăn chay cũng thành ăn chay. Chỉ cần có cơm rau muối, tương cho no bụng là quý rồi!         
              “ Người hùng thất thế sa cơ,  Tả tơi rách nát, hững hờ bà con.
               Chiếc chòi vách đất héo hon Nhỏ ghê chỉ lọt chiếc giường quạnh hiu.
               Muối rau khoai sắn leo queo Đôi khi cơm độn, vắng teo thịt thà.
               Xuống sông, xúc ca,ù bắt cua, Làm thuê hiếm có, đói phờ trơ xương.”
         Làm Hợp Tác Xã Nông Nghiệp cũng khổ lắm. căng lắm, rách lắm. Có lúc mất mùa, đóng thuế thóc hết, chỉ còn xách cái mõ gẫy về không. Phải vây mượn để sống tạm qua ngàỳụù. Má ông cũng khổ. Anh ông cũng khổ. Đói khổ cả đám. Chúng ta cùng khổ cả mà. Ai mà giúp đỡ nhau được bây giờ, phải không quý vị? Ngày xưa ông đi lính, vào sanh ra tử, cũng gian truân, ba chìm, bảy nổi, chín long đong. Nhiều trận đanh ác liệt  với phía bên kia. Ông là cấp chỉ huy, là ĐĐT đơn vị tác chiến, phải đối đầu với trận mạc, với sanh tử hiểm nguy thường nhật, như cơm bữa.ụ Lính của ông từng chết nằm ngỗn ngang. Xác địch cũng bị tiêu diệt khủng khiếp rải rác khắp nơi.  Những kẻ cùng đồng bào cùng quê hương xứ sở cầm súng đánh nhau đã bỏ mạng sa trường một cách bi thảm tang thương hết nói.Vì đâu gây nên cảnh chiến tranh ý thức hệ, cuộc nội chiến tương tàn đến hồi ác liệt nhất trong lịch sử nước nhà vậy quý vị? Rõ ràng cả thế giới loài người đều biết rằng các thế lực ngoại bang đã mưu đồ gây nên cảnh nồì da nấú thịt này. Mà đau thương tang tóc cứ phủ chụp lên con Rồng cháu Tiên. Phải chăng là cộng nghiệp nhân dân Giao Chỉ phải gánh chịu? Ông sống sót sau cuộc chiến kinh khủng đau thương nhất của lịch sử con Hồng cháu Lạc là may mắn lắm rồi. Cuộc đời của người hùng Phườc Khánh sao lúc nào cũng cô đơn khốn khổ thế, hỡi đấng cao xanh?  
                                      ooo

    Bây giờ đây, chiếc xe đạp của chàng ngự lâm quân Vĩnh Phát đang lướt nhẹ trên lối    
nhỏ bên đại lộ. Xe cộ chạy nhanh vun vút nhộn nhịp không ngừng trên các xa lộ rộng thênh thang sâu hun hút. Ánh nắng như thoi thớp nhấp nháp đây đó. Ông mặt trời bị mây xám che kín, thỉnh thoảng mới lố dạng, chiếu những tia nắng yếu ớt vàng vọt ảm đạm hết tả. Cây cối trông tàn tạ, trơ trọi, xác xơ run rẫy. Chim chóc đâu không cất tiếng hót như ông thường nghe mỗi khi hiệp sĩ cô đơn cơi con ngựa sắt tàng tàng thả nước kiệu chạy ngang qua khu rừng cây bên con đường dài lê thề như là ” Thăm thẳm  rừng xanh Bóng người cô quạnh Chim ca lanh lãnh.Viễn khách độc hành Lòng bỗng lâng lâng Nhớ về Cố Quận,Thương mến vô vàn.”
     Vào mùa Xuân có nắng ấm bầu trời quang đãng, khi đạp xe đi làm ông thưởng thức những bản hòa tấu bình minh của đủ loại chim chóc ở đây. Chúng rủ nhau ca hót tưng  bừng rộn rã hai bên con lộ Goodwood. Lúc này có lẽ trời lạnh lẽo buốt giá nên chim chóc đã trốn biệt tăm khỏi nơi đây chăng? Chợt nhà thơ ngâm khe khẻ câu hát của một nhạc sĩ nổi danh diễn tả mùa đông ở VN:” Mùa đông gió lạnh lùng. Gió lạnh lùng. Chim thôi bay nhìn mưa gió hãi hùng “ Ông cũng nhớ đến mấy câu thơ tuyệt vời nổi danh của nhà thơ Tiền Chiến Lưu Trọng Lư “  Năm năm tiếng lụa quay đều Những ngày đông giá gió vèo thân cây. Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay Mùi hương hàng xóm bay đầy mái hiên.”
   Bấy giờ chiếc mũ trùm kín đầu, chỉ lòi cái mặt, mũi để thở và đôi mắt để cởi xe đạp. Da mặt ông cảm thấy nhức buốt tê cống khó chịu vô cùng. Lúc này viên Manager củả Hảng Benny’s Carwash đã chuyển ông từ khâu lau chùi xe ngoài trời vào khâu hút bụi. Vì vậy ông đỡ vất vả hơn. Thành thật mà nói, không khải thái quá, không phải thậm xưng, không phải ngoa ngữ, cũng  không phải cường điệu” tả oán” quá đáng về việc làm của các cu li hạng bét tại hảng rửa xe này. Nếu di dân Giao Chỉ chính hiệu con nai vàng ngơ ngác đang ở xứ  Cờ Hoa mà chưa nếm vị đắng của người công nhân làm việc chùi rửa xe hơi thì không biết được cái khổ, cái nhọc nhằn vất vả của đời người tị tạn chính trị hay kinh tế. Dĩ nhiên việc nào cũng có cái khổ của nó. Cái giá của nó.
        “ Baton Rouge nếm mùi Carwash Mới biết rằng US khó ăn
           Khi khách đông mười giờ đứng suốt Lúc xe thưa bắt buộc tan hàng.
                                                         
           Xe tấp nập giờ ăn chẳng có Cứ lau nhanh, chân rã tay rời
           Không được nghỉ. Pizza chủ đó! Vừa lau xe mồm bỏ vào xơi.
                                              
           Anh nào chậm, đói thời run rẫy  Dớt lẹ làng là mấy chú đen               
            Dân Mít mình hiền lành lịch sự Chưa no nê bánh đã bay liền.
                                               
            Giờ phụ trội Hoàng Thiên tính hộ. Làm dư giờ bữa khác bù qua.
            Overtime chủ ta không trả Hãy sớm về hôm khác đó mà!
                                                
            Ngày Lễ lớn, tiền ma phụ trách  Nghỉ không lương cứ việc thong dong.
            Năm ngày phép mỗi niên theo luật Lễ Giáng Sinh chẳng có một đồng. 
                                                 
             Chủ lạnh lùng, nhưng lanh đáo để Rất thông minh trí nhớ siêu quần
             Nói thông thạo Việt Nam ngôn ngữ Biết lấy lòng cư xử khôn ngoan.  
                                                  
             Ít đuổi việc da vàng chủ mến Lương không cao hậu bổng đìu hiủ
             Êm bao tử  nắng chiều lưu luyến Ngày tháng trôi xa xứ kiếp nghèo.”
      Thật vậy, bà con đồng hương ạ! Suốt mùa hè nóng bức, trời nắng như thiêu như đốt
hay mùa đông buốt giá, lạnh thấu xương, công nhân vẫn phải đứng ngoài trời lau chùi xe cho khách. Ông Đào đã từng quen cực khổ từ hồi nhỏ cũng như khi lớn lên đi lính tráng, rồi tù tội bị tập trung cải tạo, sau ngày Miền Nam “ Sập Tiệm”. Sau này khi ra tù ông phải ở nông thôn làm thuê làm mướn. Rồi ông cũng quen đi. Hiện tại lương ông thật khiệm tốn, phải thành thật nói rằng quá ít ỏi. Nào chi phí tiền thuê nhà cửa, điện, tiền mua thực phẩm, ăn uống linh tinh, chưa kể tiền mua sách báo, tiền góp cho các hội đoàn như hội Cựu Tù Nhân Chính Trị ( Hội HO), Cộng Đồng Người Việt, Hội Thân Hữu Đồng Hương, tiền quan hôn tang tế của hội đoàn...Bởi vậy người hùng đã tiết kiệm tối đa vì hoàn cảnh tài chánh kinh tế eo hẹp của mình. Ông cúp hết máy sưởi máy lạnh trong nhà. Trời nóng nực thì dùng quạt nhỏ. Trời lạnh thì mặc quần áo ấm , chăn mền trùm kín đầụ cho đỡ rét. Ông rất mộ đạo. Ông thuộc lầu lầu kinh chú. Ông thuộc nguyên Thập Chú và Ngũ Đệ Lăng Nghiêm Thần Chú( NĐLNTC) trong cuốn  kinh Nhật Tụng  để tại bàn Phật. Thật tình mà nói NĐLNTC quá dài, trắc vận, khó thuộc ghê lắm. Chính các thầy, sư, sãi, ni cô ở chùa chiền, am, tịnh thất sợ nhất là học thuộc NĐLNTC vô cùng diệu dụng này. Thần chú được Phật Thích Ca truyền cho ngài Thị Giả A Nan khi ông bị Nữạ Ma Vương Ma Đăng Già, đại yêu nữ, dùng ma lực để quyến rũ thầy tu trẻ tuổi, em bà con của Đức Phật, quá khôi ngô tuấn tú. Chính nhờ Thần Chú này ngài A Nan đẵ tỉnh ngộ và thoát khỏi cám dỗ trần tục, chế ngự sự ham muốn nam nữ mãnh liệt lúc bấy giờ. Khỏi sa vào hố thẩm đam mê tình dục để sau này chứng quả Thánh. Ông Đào chiêm ngưỡng sùng bái  Phật Bà Quan Âm. Vì thế khi đi đứng nằm ngồi ông luôn luôn trì tựng danh hiệu của Ngài.( Theo Phật Giáo, các Bồ Tát, Đức Phật thường là hiện thân nam rồi mới chứng quả vị dù là phái nữ tu thành đạo. Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát là nam nhân thường hóa thân nữ để cứu độ chúng sanh  ở cõi Ta Bà. Vì thế còn có tên gọi là Phật Bà Quan Âm). Ông tin tưởng nhờ trì niệm danh hiệu của Ngài mà ông thoát chết nhiều trận đối đầu với địch quân trước đây. Hầu như cả đời ông luôn luôn tin tưởng mãnh liệt vào sự cứu khổ cứu nạn đại từ đại bi của Phật Bà.
        Người hùng tác chiến từng xông pha trận mạc ngày xưa nhớ lại trong nhiều lần đơn vị mình đụng độ với đối phương tại tỉnh Quảng Đức, Vụ Bổn hay Ninh Thuận, quê hương ông, ông nhờ có trì niệm chú Quan Âm Linh Cảm Chơn Ngôn và liên tiếp niệm danh hiệu của Ngài mà ông may mắn thoát khỏi tử vong hay thương tích trầm trọng. Ông tin như thế. Đức Đại Bi đã hộ trì ông thoát khỏi hiểm nghèo tử vong trong gang tấc. Ông  còn nhớ hồi ông ở quê Nội, làng Phườc Khánh. Ộng trú ngụ tại một ngôi chòi bé tí teo. Lúc đó khoảng nửa đêm về sáng chàng cư sĩ mộ đạo đang say sưa tụng niệm thuộc lòng NĐLNTC và trì niệm danh hiệu Ngài Quan Âm Bồ Tát thì đám công an địa phường có cả công an Huyện Ninh Phước và công an tỉnh Thuận Hải ập vào định bắt ông. Chúng ào vào chòi bé tẹo như cái nắm tay, xô ông ra sân rồi, súm nhau lục soát bới tung đồ tuế nhuyễn, sách  vở linh tinh, mền mùng chăn chiếu và quần áo tơi tả. Nhưng chúng không tìm thấy gì khả nghi. Tên công an tỉnh còn trẻ, cao to, mặt mày nghiêm nghị dữ dằn hách dịch nói giọng Bắc Kỳ, tuy ôn tồn nhưng gằn giọng chất vấn ông. Y nhìn ông soi mói trong khi đèn pin của chúng quất sáng trưng khắp trong ngoài:
     -Tại sao anh không chịu ngủ như mọi người quanh đây, mà giờ này còn đọc tụng kinh chú? Rõ là mê tín dị đoán. Có phải anh ra ám hiệu cho đồng bọn” tàn quân” đang ẩn nấp gần đây không? Có phải anh có âm mưu liên kết với bọn phản động, bọn chống phá CM không?  Anh hãy thành thật thành khẩn khai báo thực chất.
   Ông thấy mình vô tội. Ông đang bị chụp mũ. Chúng muốn gì đậy với một kẻ đói rách lầm than tơi tả khố rách, ốm o đen đúa như ông?  Ông bình tĩnh suy nghĩ nhanh vì biết rõ tên Tùng cạnh nhà ông là công an thôn báo cáo theo dõi chỉ điểm bịa chuyện để lập công với cấp trên. Vì vậy mới có cuộc rình rập tập kích đêm nay. Trước đây dân chúng địa phương đã được chính quyền, ban an ninh/CA và văn hóà thông tin cho học tập nhiều lần về bốn tội trạng phải tránh xa.Thứ nhất. Cấm truyền bá Văn Hóa Ngoại Lai
 ( Sách vở do Tây Phương xuất bản, ngoại trừ Liên Sô và khối XHCN). Thứ hai. Câm truyền bá văn hóa đồi trụy ( Tất cả sách báo do chế độ cũ in ấn đều bị xếp loại văn hóa đồi trụy. Ngọai trừ sách báo do nhà nước quản lý và do nhà xuất bản XHCN ấn hành). Thứ ba là Văn Hóa Mê Tín Dị  Đoan dưới hình thức các tôn giáo mê hoặc dụ dỗ theo đạo. Thứ tư. Văn Hóa Phản Động. Đó là những tài liệu tuyên truyền chống đối chế độ ưu việt XHCN, công kích, chống phá hay gây bất lợi cho CM. Ông Đào vừa cười giải đãi vừả trả lời tự nhiên lưu loát vì thấy mình vô tội, không có làm gì sai quấy:
       - Thưa quý cán bộ, tôi ở môt mình cô đơn quạnh quẽ, khổ cực đói rách quá cở. Bị vợ con bỏ bề. ũGia sản chỉ có chiếc chòi bé trí tẹo, tơi tả rách nát nghèo xác nghèo xơ, nghèo rớt mùng tơi như các ông thấy đó. Đêm khuya thao thức buồn thúi ruột không ngủ được nên đọc kinh chú nhà Phật cho nhẹ nhàng cõi lòng hiu hắt lẻ loi một bóng. Cho an lạc tâm hồn đơn chiếc. Tôi thường đêm đêm tụng kinh thuộc lòng cho giải sầu cho khuây khỏa tâm can hiu quạnh bơ vơ. Xin quý cán bộ thương tình thông cảm nổi cô quả của tôi. Tôi không có làm gì sai trái. Tôi không hề có ý gì khác ạ! Tôi luôn luôn chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách và đường lối của Đảng và của nhà nước Cộng Hòa XHCNVN.
    Viên cán bộ CA tỉnh, thấy sau khi lục soát đồ đặc trong nhà đương sự không tìm ra được gì khả nghi và y trông tên Ngụy này đói khổ tơi tả hoa lá cành hết nói. Thật là nghèo còn hơn Chúa Chởm, trời a! Y nhìn một lần nữa chiếc chòi vách đất lợp lá, thấp lè tè, bé nhỏ chỉ lọt một chiếc giường cũng èo ọt, ọp ẹp, vàng võ gầy gò trơ xương  như chủ nó. Y liếc nhanh vào bịch bao tải nhỏ xíu cũ mèm màu cháo lòng, bao gồm mấy bộ áo quần lao động tơi tả vàng ố bẩn thỉu, vá chằn vá chịt như đóng giẻ rách. Một gói sách kinh cũ mèm vàng ố long rả vài đường chỉ buộc. Đôi dép da cũ kỹ mòn sát đế bị đứt quai phải lấy dây nhợ buộc lại để mang tạm. Quả tên Đào nghèo nhất thôn làng rồi trời ạ. Rõ là bậc thầy của Chí Phéo. Có điều không thấy Thị Nở tri kỷ của y ở đây. Cả đám cán bộ CA bàn tán xì xào một lúc, rồi họ rút êm thấm. Trước đó vài phút tên chỉ huy cũng nhìn chăm chú người hùng PK,  như quan sát một dị nhân từ hành tinh khác mới đến địa cầu. Y nói chậm rãi nửa như đùa, nửa như thật nhưng rõ ràng có tính cách nghi ngờ dằn mặt ông Đào :
      - Chúng tôi không rõ anh đang nghĩ gì. Không biết trong đầu óc anh muốn gì. Hoặc giả anh dùng khổ nhục kế để đánh lừa chúng tôi chăng? Các SQ Ngụy nguy hiểm vô cùng. Ai mà biết được trong óc họ tính gì bây giờ?
         Thật hú hồn. Họ nắm chính quyền, nắm quyền sinh sát trong tay mà. Họ muốn bắt giam ai cũng được. Tôn giáo không là gì đối với họ. Họ có bao giờ quan tâm tin tưởng vào luân hồi nghiệp báo, vào luật nhân quả của nhà Phật đậu. Họ không tin vào thần thánh, trời Phật chi cả. Trong xã hội hiện tại hầu như các tự do của con người đã mất hết. Chỉ còn một chút niềm tin về tôn giáo để an ủi tinh thần cũng gần như mất trắng, bị tươtù đoạt hết ráo trời ạ! Sau sự cố vừa xảy ra, ôÂng Đào cám cảnh thất vọng, buồn bã thề lương, nỗi lòng trở nên bức xúc ảm đạm hết nói.  Ông còn nhớ trước khi phái đoàn HK phỏng vấn ông và cho xuất cảnh theo diện HO, khi vào CA tỉnh Ninh Thuận ký giấy xác nhận có học tập cải tạo. nữ ĐU Ngọc Phó Phòng nhìn ông thân hình đen đúa gương mặt hốc hác, quần áo lượm thượm, toát ra một con người cô đơn khốn khổ đến cùng tận. Bà ta cât giọng Hà Nội vừa nhẹ nhàng êm ái vừa đượm vẻ cay đắng chua chát nói với hiệp sĩ hình như tàng tàng man man như bất cần đời có cuộc sống quá ư khác thường bấy lâu:     
  - Nhiều năm rồi, qua theo dõi nhận xét của ban an ninh chúng tôi nghi ngờ ông áp dụng khổ nhục kế gì đây. Sống thui thủi cô độc lặng lẽ. Chỉ đọc kinh chú. Thực sự chúng tôi chưa hiểu rõ trong đầu óc ông nghĩ gì . Chúng tôi không thương gì các ông đâu. Chúc ông lên đường nhiều may mắn nhé!
    Ông đã trải qua nhiều năm lăn lộn với cuộc đời ba chìm bảy nổi chín long đong. Cuộc sống quá ư thiếu thốn, khó khăn bầm dập hết nói đối với sức chịu đựng của một con người cô độc. Ông cứ chiến đấu với gian truân khổ ải một cách đơn thương độc mã vì gia đình ông ai cũng nghèo khổ, sa cơ thất thế. Ông đâm sợ con người trần tục. Ông nghiệm ra một điều qua cuộc sống hiện thực trong cõi đời đầy đau khổ và hệ lụy này là Thiên Đàng hay Địa Ngục không đâu xa cả. Đó chính là cõi trần gian ô trọc này mà nguyên nhân chính cốt lõi là do Tâm con người tạo ra. “ Tâm bình thế giới bình”.” Nhất thiết duy tâm tạo”  là vậy. Thật thế, mọi khổ đau oan nghiệt, khốn đốn hay sung sướng hạnh phúc đều do con người gây ra. Chính cái tâm là động cơ thúc đẩy mọi hành động của nhân loại. Ông thường ngâm khẻ câu thơ của một ẩn sĩ thích xa lánh người đời để được an lạc hạnh phúc trong tâm hồn mình:  
       “ Cõi trần sợ nhất con người Tham sân ganh ghét gấp đôi muôn loài.
          Hoạn nạn chia sẻ ngọt bùi. Giàu sang quyền thế tức thời đổi thay.”
    Nghèo đói thường đi đôi với khổ đau bất hạnh và tủi nhục hết nói. Tuy nhiên cái nghèo cái đói cái khốn khổ không dễ gì xa lánh người ta đâu, phải không quý vị?
 “ Nghèo cũng là một cái tội” “ Họa vô đơn chí, phước bất trùng lai”. Có lần đói quá, trong thời gian dài không làm ra tiền, bữa cháo bữa rau cho qua ngày đoạn tháng. Ông không có gì cải thiện thêm. Ông thèm chất tươi cá thịt quá cở thợ mộc, trời ạ! Ông xuống sông ngăn nước tát cá, nhằm ngày rằm. Ông là một Phật tử mà phạm giới sát sanh vì bất đắc dĩ.” Đói quá đầu gối phải bò”. Có lẽ vì thế rủi ro đến với ông chăng? Ông vô ý đạp phải một gai tre nằm trong cát lún. Vì vậy bàn chân ông bị nhiễm trùng làm độc. Suýt nữa chàng ngự lâm pháo thủ tả tơi hoa lá cành lúc đó phải cưa chân để làm bạn với Tôn Tẩn tiên sinh. Có lẽ bị trời Phật phạt nhẹ cảnh cáo ông phạm giới ngày trọng trong tháng âm lịch chăng?  Ông cũng điêu đứng khổ sở vô cùng về vụ bàn chân bị lở lói không chịu kéo da non. Ông phải xoay sở tiền bạc để mua thuốc tây, rồi dùng thuốc ta, thuốc bắc, thuốc ngoại khoa đủ thứ, nhưng bàn chân không hết nhiễm trùng. Sau nhờ thuốc võ cũa em mình cho thoa vào vết thương mới kéo da non rồi khép miệng lành hẳn. Thật hú vía! Từ đó, không dám xuống sông Dinh tát cá. bắt cua mò tôm tép để cải thiện nữa. “ Một lần ông tởn đến già Đừng đi nước mặn mà hà ăn chân.”        Khi sang định cư tại Mỹ, có lần làm Carwash ông cũng bị xây xát và vết thương ở ống quyển cũng làm độc rất lấu. Ông phải đi BS khám bệnh xem có bị bịnh tiểu đường hay Sida không mà sao vết thương lần nào cũng lâu lành . Ông sợ phải cưa chân như chơi vì nó không kéo da non trời ạ! Thật là nguy hiểm vô cùng. Cũng may ông chưa  có dấu hiệu về hai bệnh nan y nói trên. Rồi vết thương nhờ trời cũng lành luôn, ông mừng vô hạn. Hiện tại ôÂng dùng xe đạp đi làm vì đã  mua ba chiếc xe hơi cũ. Ông  bị người ta gạt gẫm gạ bán giá cao nhưng xe dỏm vì ông không rành máy móc. Cả ba chiếc đã nằm ga ra người quen. Ông cho phức cho rảnh của nợ. Chiếc xe nào cũng chạy một thời gian ngắn rồi trở chứng, hư hỏng tùm lum tu dí phải sửa chữa mãi mà chạy không êm. Thôi thì cho chúng về hưu non tại ga ra dài hạn cho khỏi phiền phức cái thân già. Ông quyết định mua con ngựa sắt làm bạn đường đi làm hàng ngày cho ệm chuyện.
     Mắt kém, tánh hay lơ đãng, ông Đào thấy mình đi xe đạp cà rịch cà tang đến sở thoải mái hơn. Lại nhìn ngắm thưởng thức phong cảnh hai bện lộ. Tai lắng nghe chim hót tưng bừng rộn rã trên các cành cây sum suê cao chất ngất. Con ngựa sắt thong thả lướt nhẹ nhàng. Thế mà an toàn xa lộ. Ở Mỹ mạnh ai nấy lo bản thân, lao động để kiếm sống nơi đất khách quê người. Người anh của ông muốn giúp đỡ ông nhưng còn ngại vợ ( tức người chị dâu của ông) khó tánh . Còn các cháu thì mạnh đưa nào lo cho bản thân và gia đình mình. Hầu như mọi người ai cũng lao động quần quật suốt tuần lễ để sinh nhai, để sinh tồn nơi đất khách tha hương. Ông còn mẹ già ở quê nhà, bà con cô bác anh em còn nhiều. Đa phần ai cũng nghèo khổ khó khăn thiếu thốn đủ thứ, Thỉnh thoảng ông gửi quà, tiền về VN giúp họ.” Một miếng khi đói bằng một gói khi no”.
 “ Lá lành đùm lá rách.” như ông bà ta thường nói.
       Mặc dù ông Đằo sống cu ki trong ngôi nhà rộng lớn, nhưng ông luôn luôn tỏ ra lạc quan yêu đời vui sống. Tập thể dục dưỡng sinh Thái Cực Quyền hằng ngày để giữ gìn sức khỏe ngõ hầu lao động để sinh nhai. Ngày cuối tuần hay những khi rỗi rảnh ông xem phim truyện hay đọc sách báo và thỉnh thoảng sáng tác thơ văn giải sầu. Cuộc đời là bể khồ là cảnh trầm luân nhưng mấy ai đã trót làm kiếp người tránh được đau khổ của cõi trần tục này. Có điều nhờ bao dung nhẫn nhục và trí tuệ và biết cách sống vui sống khỏe sống an lạc và giữ được thanh thản tâm hồn thì chúng ta sẽ thấy hạnh phúc trong cuộc sống hằng ngày. Dù hạnh phúc nhỏ nhoi cũng làm chúng ta bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Quá khứ thì đã qua không trở lại. Tương lai thì chưa đến. Hiện tại cứ vui sống cứ an nhiên tự tại như một thiền sư đã thốt lên:
          “ Ta đến rồi đi như cánh bướm
             Trần gian này một cụm hoa thôi
             Thấy chăng  ngọn gió vô tình thổi
             Tan biến từng không với nắng trời.

     ( Xin xem tiếp NBMB TD 4 )
  
 


Địa Chỉ
<

Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả