MẢNH ĐỜI LẬN ĐẬN I
( HỒI KÝ) THANH ĐÀO
CHUƠNG MỞ ĐẦU
Nguyên bàng hoàng khi nhận giấy của Ty Công An Ninh Thuận: “Chuẩn bị vật dụng cá nhân cần thiết như mùng, mền, áo quần, nón , bàn chải , kem dánh răng, vở, bút, tiền ăn trong 3 tháng, để tập trung học tập dường lối, chính sách của Cách Mạng, rồi về dạy học lại”. Mặc dù chàng đã nghe các đồng nghiệp Trường Trung Học Duy Tân, nơi chàng đang công tác, đồn đại rằng “Các SQ gốc giáo chưc biệt phái Bộ GD, phải tập trung học tập để am tường chủ trương về giao dục XHCN của Chính Quyền mới, trưóc khi được khoan hồng và lưu dung. Bởi vây, các gíao chức thuộc diện nói trên, vừa lo lắng, vừa nuôi hy vọng được tiếp tục nghể Sư phạm mà mình ưa thích. Ai ai cũng mong được lưu dung, được theo đuổi nghề cầm phấn, đứng bảng. Nghề dạy trẻ, nghề cao quý mà họ đã chọn lựa, đã khổ công đèn sách mới thi đậu được vào Trường Sư Phạm, để trở nên nghể thầy chuyên nghiệp, truyền đạt kiến thưc cơ bản cho hậu thế, cho con em sau này. ”Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. “. Khi cằm Giấy Tập Trung Học Tập trong tay, ai ai cũng có vẻ băn khoăn, lo âu, khi thấy tương lai số phận mình còn bấp bênh quá!
Hôm đó là ngày 30 tháng 7 năm 1975. Tỉnh Ninh Thuận bị mất vào ngày 16 tháng 4 năm 1975. Còn cả nuớc bị rơi vào tay Miền Bắc vào ngày 30 /4/1975. Trước đo, ù đêm 31/3 và rạngụ ngày 1/4/1975 chính quyền Tỉnh đã bỏ ngõ toàn lãnh thổ Ninh Thuận để di tản vào Sài Gòn. Cho nên thành phố bé nhỏ ”Nóng như ran” lại rơi vào vòng cướp bóc thê thảm của các băng đảng hắc đạo tranh giành bắn phá cướp bóc đốt cháy các tiệm buôn trên Đại lộ Thống Nhất trong thời gian vô chánh phủ. Cũng may, Chính quyền trở lại Thị Trấn Khô theo lịnh Trung Ương sau mấy hôm vắng bóng . Nhà chức trách đã thanh trừng một số tên cướp và đem lại trật tự, an ninh cho địa phương. Tình hình xã hội tạm yên thì Quân đội Bắc Việt tràn vào chiếm thành phố sáng ngày 16 /4. Các phi cơ VNCH từ phi trường Thành Sơn Tháp Chàm không ngăn chặn được qua các đợt ném bom xuống nhiều xe tăng và chiến xa đich trên QL 1 từ Du Long vào Cà Đú.
Bây giờ, những nhà giáo gốc quân đội đang tay xách, nách mang các vật dụng cá nhân lên xe GMC . Mặt mày ai cũng ủ rũ, buồn bã như đang đưa đám ma. Nắng hè gay gắt khắp ngã. Những tia nắng vàng nhạt rực rỡ chiếu lấp lánh trên những hoa phượng vỹ dọc theo con lộ ngay trước Sở Giáo Dục và Tiểu khu Ninh Thuân cũng như Bệnh Viẹn Phan Rang. Họ đưọc đưa lên Trường Nông Lâm Súc (NLS) trước khi nhập vào Trại Giam Mỹ Đức. Nắng chang chang. Hơi nóng hừng hực. Hàng trăm người ngồi trong Hội trường rộng lớn để nghe ông Phạm Thành Nhân, Phó Ty Giáo Dục gỉải thích lý do họ phải tạm ngưng công tác nhà giáo để học tập chủ trương, chính sách của chính quyền CM. Nhân Dân và Nhà Nước nghi họ là người do CIA cài vào ngành GD .Đã là SQ Quân Đội, tại sao lại biệt phái ngành GD? Sau khi học tập thông suốt trong vài tháng như ghi trong giấy thì sẽ được về dạy học lại. Chính quyền CM rất cần sự đóng góp cuả họ để dạy dỗ những mầm non của đất nước, quê hương thành ngươì hữu dụng cho mai hậu. Thực ra, Nguyên cũng như bao nhiêu người khác rất ưu tư, lo lắng cho số phận của mình. ”Cũng liều nhắm mắt, đưa chân, Thử xem con tạo xoay vầng đến đâu ? ”(Kiều). Tuy nhiên, khi nghe lời nói ngọt ngào và những hưá hẹn êm tai của cấp trên mà họ đã nhiệt tình cộng tác mấy tháng qua với tiền lương môt ngàn đồng tiền cũ cộng thêm 21 kí gạo mỗi tháng, ai nấy đều tỏ ra phấn khởi, tin tưởng vào CM , ít ra thì cũng biểu lộ lạc quan bề ngòai. Còn bên trong thì :
“Nắng thiêu đốt bên ngoài
Như nung nấu lòng tôi”.
" Nói dzậy mà không phải dzậy”.
Có người bạn nói khẻ vào tai Nguyên.khi chàng và mọi người cùng chung số phận, cuốc bộ từ trường NLS băng qua con lộ Phan Rang-Tháp Cham đến Nhà Giam Mỹ Đức. Nắng chói chang rực lửa. Trời im gíó. Hơi nóng bốc lên ngùn ngụt. Mồ hôi, mồ kê tuôn xối xả ướt đẫm cả chiếc áo sơ mi ngắn của Nguyên. Chàng cũng như một số anh em nhà gíáo đã mua đôi dép râu mang đi cải tạo. Sandal và giày đã bỏ lại nhà. Nón tai bèo che nắng cũng được mua dùng sáng nay.
”Nón tai bèo nắng mưa anh đội.
Lính Cụ Hồ lội suối băng rừng”.
Cậu thơ ai đó như ngân văng vẳng bên tai chàng, đầy vẻ mỉa mai chua chát.
Đoàn ngươì tập trung cải tạo, mặt mày buồn so, đang bước vào trại tù phía sau lưng Nhà Giam Thị Xã. Trước đó vài phút, họ phải ngồi trên sân đất phía dưới gốc cây cổ thụ nằm chếch về phía phải của Trại Tù rộng mênh mông này. Một cán bộ người Bắc giảng thuyết về chủ nghĩa anh hùng cách mạng do Bác và Đảng lãnh đạo và tấm lòng nhân đạo của Nhà Nước XHCN, khoan hồng những ai biết ăn năn hối lỗi để cải tạo thành con người mói XHCN. ”Đánh kẻ chạy đi. Không ai đánh người chạy về”. Nguyên rầu thúi ruột, xách gói theo đoàn người vào Trại Giam nằm chênh chếch phía bên kia dãy nhà lớn. Hơi nóng còn ngùn ngụt bốc lên khắp một vùng khô cằn cỏ cháy.Một đám tù ở trần trùng trục đứng ngơ ngác kinh ngạc trong hàng rào dây thép gai nhìn ra. Bỗng một người la to:
-Đi tù . Chứ không phải đi học tập.
Nguyên nhận ra người bãn trẻ tuổi”Đội trời đạp đất ở đời” :”không biết sợ trời trăng mây nước chi cả” . Đó là cậu Tân , một cảnh sát viên, ở cùng xóm với chàng trên đường Ngô Quyền. Cảnh sát đã bị đưa đi cải tạo ngay sau khi họ tiếp quản Thành phố PR không lâu. Bỗng nhiên, một mùi hôi thối “Quỷ khóc thần sầu” bốc lên ngùn ngụt từ bên trong một Cầu tiêu lộ thiên nằm ở một gốc sân Nhà Lao . Đó là Nhà Xí tập thể. Bãi đại tiểu tiện lộ thiên rộng như một cái ao nuôi cá. Phân, nước tiểu sềnh sệch, bốc mùi ra tận bên ngoài hàng rào . Mùi khai thối ngào ngạt trong không gian oi bức của buổi trưa mùa hạ càng khó thở hơn.
Những tù nhân gầy còm, mình trần trùng trục, thân hình tiều tụy, đứng lố nhố ngơ ngẩn nhìn đám người đang tiến vào lao xá.
”Từ vượn lên người mất mấy triệu năm?
Từ người xuống vượn mất bao năm?” (NCT)
Môt tù nhân đầu tóc rối bù, râu ria tua tủa, mặt mày hốc hác, ôm chấn song sắt cửa sổ nhìn các đồng nghiệp mới vào. Ông chợt cất tiếng ngâm nga tuy khe khe, nhưng đã lọt tai những người đi ngang qua ông:
“Đi tù thì bảo đi tù.
Lại là học tâp mút mùa thế sao?”
Bây giơ, Nguyên đã vào nhà giam, không phải là “Một Trại Viên”như lời một cán bộ hồ sơ đã nói. Một kẻ mất hết tư do . Một ngưòi khổ đau, phiền muộn, nhìn bốn bức tưòng thăm thẳm, mông lung. Nhà lao chật chội, tù túng, khó thơ, ngột ngạt. Mùi thum thủm thoảng trong không gian bốc lên từ Nhà Xí lồ lộ giữa sân Traị Tù . Mùi nồng nặc ngun ngút bất tận. Đúng là “ Nhất nhật tại tù Thiên thu tại ngoại”. Trời hè oi bức. Nóng như ran người. Nóng như lửa đốt. Cây cối xác xơ, tiêu điều nằm rải rác chung quanh trại giam.
”Cái nóng nung người, nóng nóng ghê.
Cỏ cây vàng võ, rũ sau hè.
Tù nhân buồn bã, nhìn ngơ ngác.
Hai chư tự do thật đắc ghê!”.
Nguyên gục đầu bên song cửa, mơ màng ôn lại quãng đời gian khổ lao đao, lận đận của mình.
PHẦN I : THỜI THƠ ẤU
1) PHƯỚC KHÁNH: QUÊ NỘI:
1) NHÀ ÔNG BÀ NỘI:
Phước Khánh còn gọi là Tâm Tượng. Đó là một thôn làng bé nhỏ nằm thiếp mình ven Dòng Sông Dinh. Sông Dinh, con sông quê hương thân thuộc bồi đắp phù sa vào ruộng vườn bát ngát nằm dọc hai bên bơ. Quê Nội thân yêu của chàng với những vườn trầu xanh biếc, những thân cau thẳng, cao, suông đuột, vươn mình chất ngất. Những cây khế to kềnh chi chít quả . Những cây cam, chuối, ổi, ô mai, dường như sum sê quanh năm suốt tháng.
”Nhà Nội ở, có vườn trầu xinh xắn.
Mấy buồng cau hoa ngát đượm không gian.
Chùm khế ngọt mát lòng con thơ ấu.
Quả ô mai vàng mọng tặng cháu ngoan”.
“Cây khế to kềnh chi chít quả
Dây trầu mơn mởn lá xanh um
Cau vươn cao ngất buồng sai trái .
Cam cũng vàng ươm, hương ngát vườn”.
Nguyên sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, con đông. Hầu như Ba Má chàng ở tại nhà Ông Bà Nội trong thời gian lâu dài vì ông là con trai trưởng. Ông Bà Nội cũng nghèo và nhiều con . Bà Nội dáng gầy nhỏ người’, song rắn rỏi, khỏe mạnh , siêng năng làm vườn săn sóc trầu, cau, cam, chuối, khế, dừa..Đêm đêm Bà thường tụng kinh và bà ăn chay trường khi Ông chết vì bệnh lao.
“Nội gầy dáng nhỏ siêng lao động
Kinh Phật đêm đêm tụng chẳng ngừng.
Dưa muối chay trường vui cuộc sống.
Đời người như gió thoảng sương buông”
. Còn Ông Nội bệnh hoạn triền miên. Hầu như suốt ngày ông chỉ ngồi hoặc nằm dài nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng cậu nghe ông ho sù sụ. Vì Ông Hải, Ba chàng, là trường nam , nên sau khi cưới Mẹ chàng , quê ở vùng duyên hải Thương Diêm-Cà Ná, ông đưa cô dâu về nhà cha mẹ ở Phước Khánh. Ông Bà Ngoại Nguyên sống nhờ vào ngôi quán xâp xệ, bé nho, bán các món hàng linh tinh lặt vặt cho đám công nhân Sở Muối Các bà Dì của cậu đi làm muối và làm rẫy để sinh sống qua ngày..
Nguyên hầu như chào đời và lớn lên tại Quê Nội Thôn làng chuyên sống nghề nông và vườn tược thiếp mình bện con sông hầu như khô cạn quanh năm . Nước chỉ đầy vào mùa mưa lũ. Tuổi thơ của cậu trôi êm ả dưói mái nhà tranh xinh xắn và khu vườn cây cối xanh um quanh năm, suốt tháng. Những bình minh, nắng mai rực rỡ chói chang, chiếu lấp lánh trên những đọt cau và dừa cao chót vót. Những tia nắng vàng rung rinh, nhảy nhót, nhuộm hồng khắp khu vườn trầu xanh biếc. Những cây chuối mượt mà còn lóng lánh những giọt sương mai. Chim chóc ca hót vang lừng khắp cành cây vườn tươc. Ngôi trường làng bé nho, khiêm tốn nằm thiếp mình bên những cây cổ thụ cao chất ngất. Thầy Đát phụ trách các lớp vỡ lòng đến lớp ba. Nguyên lúc đó còn bé được ngồi bàn đầu học lớp bét nhất. Những hoài niệm của chàng về ngôi trường làng và lớp học trong thời gian ngắn ngủi, chưa biết đọc, biết viết đó rất mơ hồ trong ký ức tuổi thơ của mình. Ba má cậu thường xuyên di chuyển chỗ cư trú vì cuộc sống áo cơm và tình hình thời cuộc, chiến tranh, loạn lạc triền miên trong quãng đời hoa niên của cậu. Đúng là “Đầu thai lầm thế kỷ”.”Sinh bất phùng thời”. Cuộc đời của cậu cứ lao đao, lận đận, từ tấm bé cho đến khi trưởng thành. Cậu ra vật lộn với cuộc sống năm chìm, bảy nổi, chín long đong.
Ba má cậu ở nhà Ông Bà Nội trong một thời gian rồi di chuyển chỗ khác Rồi lại “Châu về Hợp Phố”.
”Thoắt về, rồi lại thoắt đi.
Đi xa rồi lại quay về cố hương.
Ngôi nhà vẫn nhớ Trưởng nam.
Mẹ cha vẫn nhớ đứa con phong trần”.
Cuộc đời của Nguyên cứ như trôi xuôi theo dòng nước. Theo cha mẹ đi đi, về về nhiều lần Quê Nội. Con đường làng thênh thang đầy đất bủn thân yêu in đậm trong lòng cậu bé:
“Tôi con đường nhỏ chạy lang thang
Kéo nỗi buồn không dạo khắp làng
Đến cuối thôn kia hơi cỏ vướng
Hương đồng quyến rũ hát lên vang.”
( Tế Hanh )
2) NGƯỜI CHỊ HỌ
Người chị họ xinh đẹp, lớn hơn Nguyên khoảng năm, sáu tuổi. Chị Lộc mồ côi cha từ bé. Chị sống ở Sài Gòn với người mẹ mù lòa. Thỉnh thoảng chị về thăm quê Nội. Chị tuy ít học, nhưng có trí nhớ tuyệt vời. Chị thuộc làu làu nhiều chuyện cổ tích, chuyện đời xưa, chuyện thần tiên, chằn tinh, chuyện liêu trai, chuyện ma quỷ...Đa phần những câu chuyện chị kể đều hàm chưá nội dung lành mạnh, có tính giáo dục cao. Câu chuyện dạy đời, dạy người làm lành, lánh dữ, tu nhân tích đúc. Những ai hiếu đạo với ông bà cha mẹ , nhưng người làm việc từ thiện hay giúp đỡ người nghèo khổ, tật quyền, bệnh tật, cô thế neo đơn.... thì luôn luôn được Trời Phật cứu giúp, hộ trì, che chở. Còn những kẻ ác, xấu, tinh ma, quỷ quái, sẽ bị quả báo. Chị trẻ đẹp duyên dáng. Má lúm dồng tiền. Giọng nói trong trẻo . Chị kể chuyện rất có duyên, rất hấp dẫn. Chị lại biết cách làm say mê, lôi cuốn lũ trẻ quê mùa bu quanh chị...Giọng chị, lúc trầm, lúc bổng, lúc to, lúc nhỏ. Lúc lên cao, lúc xuống thấp . Lúc dồn dập, lúc khoan thai. Khi êm ái, ôn hòa, khi nhấn mạnh, khi phẫn nộ. Thật là giọng kể chuyện thiên phú, hấp dẫn, làm say mê người nghe. Lũ nhóc con bị nàng tiên giáng trần mê hoặc. Đối với Nguyên lúc đó. Chị Lộc là hoa khôi Đệ nhất thôn làng. Là giai nhân tuyệt sắc của cả vùng.
”Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?” (Xuân Diệu)
Thật vậy, mỗi khi người đẹp trở lại quê hương, “Áo gấm về làng”,thế nào lũ trẻ cũng được nghe nàng kể chuyện cổ tích. Nguyên và lũ trẻ hàng xóm, trai có gái có, đồng trang lứa, thường ngồi xung quanh người đẹp trong khu vườn Cô Ba của cậu vào những đêm trăng vằng vặc. “ Ánh trăng trắng ngà có cây đa to, có thằng Cuội già ôm một khối mơ”. Lũ trẻ thường ca hát vang trong xóm. Trăng tỏa sáng rực rỡ như ban ngày. Bầu trời trong vắt như thuỷ tinh. Gió thoang thoảng mát rượi. Lũ trẻ nghe chuyện say sưa. Tiếng chị trong trẻo, ấm áp đi sâu vào lòng con nít dễ dàng. Chị kể liên tu bất tận . Hết chuyện này sang chuyện khác. Nào “Ba Hoàng Tử”, “Con Quỷ Ba Sợi Tóc Vàng”, ”Ăn khế Trả Vàng”, “Tấm Cám”, “ SơnTinh Thủy Tinh”,
“ Trọng Thủy Mỵ Chậu” , “Nàng Tiên Dung”...Có đứa ngủ gà ngủ gật, nhưng cứ ngồi lì, nghe chuyện, Có đứa ngủ thiếp đi hồi nào trên chiếu trải cạnh cây mít. Có đứa cứ gật đầu lên xuống, mắt lim dim, lúc khép, lúc mở,nhưng cố lắng tai nghe giai nhân kể chuyện.
3) ĐI CHÙA BAN DÊM
Những hoài niệm vui buồn thời hoa niên càng ngày càng thêm chất chứa trong vùng trới ký ức tuổi thơ của Nguyên. Cậu còn nhớ một đêm nọ, cậu ham vui, đã đến Chùa Phước Khánh vì nghe Chùa cúng rằm. Ánh trăng sáng vằng vặc. Bầu trời trong suốt như lưu ly. Gió lộng vi vu qua cành cây, ngọn cỏ, nghe thắm mát cả da thịt. Từ nhà Nội đến Chùa không xa lắm! Con đường đất bủn, hai bên bờ có trồng cây cao, rậm rạp. Những chòm tre cao chất ngất. Lá vàng rơi xào xạc mỗi khi cơn gió thổi qua. Những thân tre cao suông đuột, có nhiều nhánh gai tung bay trong gió kẽo kẹt, lào xào bất tận. Lá trúc phe phẩy, rung rinh, như có tiếng võng đưa trên bụi rậm. Cậu cảm thấy rùng mình khi cơn gió thổi thốc mạnh qua. Đàn dơi bay rào rạo, dọc theo lũy tre xanh. Cậu nghe cột xương sống như có một luồng khí mạnh chạy qua. Người ta đồn rằng khu này có nhiều ma lắm! Có kẻ quả quyết mình trông thấy ma lai vãng qua lại nơi đây với đầu tóc bù xù , miệng rộng hoác, lưỡi đỏ lòm, thè ra, trông thật khiếp vía. Cũng có người nói đêm tối, khi qua khu vưc này, họ nghe tiếng khóc than, rên rĩ trong các bụi tre rậm rạp.
Nguyên nhát như thỏ đế. Đã lỡ bộ, không tiện quay về .Cậu co giò chạy nhanh về hướng cổ tự. Bỗng một cơn gió thốc tới, mãnh liệt. Trúc nghiến răng rào rạo, gân cốt uốn éo, cót két. Cậu cảm thấy như có ai đang đuổi theo cậu. Cậu hốt hoảng ba chân, bốn cẳng sãi mạnh . Chạy vun vút như bị ma đuổi. Chạy bá thở cào cào, Chạy muốn đứt hơi. Khi vào tới cỗng Tam Quan, cậu mới dám dừng lại để thở. Chân mỏi rã rời như muốn ngã quỵ xuống bãi cỏ dưới gốc cây dưong liễu cao ngất nghễu. Chùa đã cúng xong. Các Phật tử lần lượt ra về gần hết. Bà Từ nhận ra cậu là con ông Hương Lễ (Hương Lễ là một chức sắc nhỏ trong Hội Đồng Kỳ Mục của Làng). Trông thấy mặt mày cậu bé tái mét, nét sợ hãi còn hiện rõ trên khuôn mặt đầy bối rối, lo âu, Bà Từ an ủi;
-Đừng sợ con! Không có ma quái gì đâu!
Bà đưa cho cậu một chén chè nếp đậu đen có nước dừa và những lát gừng mỏng thơm phứt. Cậu vốn khoái ăn ngọt, nhất là chè, kẹo, bánh ngọt. Cậu đớp lẹ một cách ngon lành. Trong chốc lác, chén chè sạch sành sanh. Rồi Cậu dọt lẹ. Lần này cậu chạy nhanh như tên. Cậu cấm đầu chạy, không dám nhìn hai bên đường và quay lại phía sau. Trăng vẫn sáng vằng vặc trên bầu trời trong vắt như pha lê. Gió thổi rào rào. Lá khô tung bay lác đác trên con đường đất bủn. Dường như có tiếng chân người đuổi theo sau. Cậu hốt hoảng, co giò cắm cúi chạy. Đến cỗng nhà Bà Nội, cậu mới an tâm dừng lại. Đâu thấy có ma quái gì đuổi theo cậu . Tại cậu quá sợ hãi nên “Trông gà hóa cuốc” đó thôi. Thật ra, nếu có ma đuổi theo, chắc gì đuổi kịp “Cậu bé loắt choát Chạy nhanh như cắt”.
Lúc bấy giờ, cô Mười còn thưc. Cô ngồi trên tấm phảng ở môt góc hiên trước nhà đợi cháu về. Dạo này, Ba Má cậu gởi cậu cho Nội và cô Mười săn sóc. Họ thường cư ngụ tạm thời đây đó bất định vì cuộc sống khó khăn và chiến tranh. Khi thì ở nhà Nội. Khi thì ở quê Ngoại, vùng duyên hải Thương Diêm Cà Ná. Sống cùng nhà với Ngoại và các dì. Khi thì ở Sông Cạn làm rẫy với những ngưòi bạn quen. Còn khi ở Phước Khánh, thì họ làm rẫy hay ruộng để sống qua ngày, như bao nhiêu nông dân khác lúc bấy giờ.
Cô Mười mừng rỡ khi cậu đi vảò. Cậu mệt mỏi ngã dài trên phảng. Bộ ván làm bằng gỗ quí, dày khoảng một tấc. Nước gỗ láng bóng. Đây là giang sơn của hai cô cháu. Tại nơi này, cô thuờng kể chuyện đời xưa cho cậu nghe. Cô kể không hấp dẫn bằng chị Lộc. Tuy nhiên, cậu cũng thích nghe Cô kể chuyện cổ tich, chuyện thần thoại, chuyện Tàu đủ loại. Giọng cô trầm trầm, rỉ rả, đều đều ru cậu vào giấc ngủ dễ dàng.
4) KẺ TRỘM VIẾNG LÀNG
Một hôm , cô cháu đang ngủ say, thì có tiếng la vang trong đêm trường thanh vắng:
-Ăn trộm! Ăn trộm! Bớ bà con ơi! Ăn trộm ! Ăn trộm!.
Trời tối đen như mực. Nhà chú Hâm ở phía phải nhà Nội có tiếng bàn tán nói chuyện xôn xao, Lúc đó, Nguyên sợ quá khi nghe la trộm cướp, vội ôm chầm cô. Cô vuốt lưng cháu, trấn an;
-Đừng sợ! Không sao đâu! Trộm chạy mất rồi.
Nhà hàng xóm bị tên trộm đến viếng ban đêm. Có lẽ bị thuốc mê hay chăng , sao gia đình nhà người này, gồm hai vợ chồng, ba con mà trộm đào ngách cửa cái chui vào. Không ai hay cả. Mọi người đều ngủ say hết. Đến khi “Chợt tỉnh giấc xuân”thì tá hỏa tam tinh. Trộm vào vơ vét đồ đạc rồi dọt nhanh . Khi khổ chủ tỉnh ra, thì quân gian đã cao chạy, xa bay. Hàng xóm nghe la, vội lại xem hiện trường. Cái ngách cửa chính bị đào sâu khoảng nửa thước. Gạch đất bóc lên ngổn ngang. Tiền bạc giấu kỹ không bị mất. Chỉ mất những vật dụng không đắc gia. Chủ nhà báo cáo bà con có mặt như thế, Tên trộm thật gan lì, biết tính toán kỹ lưỡng khi hành sự. Lựa đêm tối trời. Chọn nhà ngói, nằm cách biệt những ngôi nhà khác. Nhưng ngưòi tính không bằng trời tính.
”Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.
“Con ơi! Học lấy nghề cha. Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm”, hay
“Sinh nghề tử nghiệp”
“Đi đêm ất có ngày gặp ma”.
”Những tên ăn trộm của người ,
Có ngày Tổ trác bị trời phạt cho”.
Sáng hôm sau, tại nhà làng, tên trộm đã bị tuần canh khiêng về bỏ giữa sận cho bàng quan, thiên hạ nhìn mặt, nhận diện là ai. Thì ra, sau khi thoát khòi nhà chú Hâm, có lẽ quơ quét chả được sơ muối gì quý giá, y lại viếng một nhà khác ở đầu xóm, gần giáp ranh làng Thuận Hòa, thôn phía trên, nằm chếch về phía tây bắc của PK. Tại đây, y bị khổ chủ phát hiện la hoảng :”Trộm ! Trộm!”. Thế là y ba giò, bốn cẳng, vọt ra cánh đồng phía tây nam thôn làng. Lúc y chạy trong đêm tối để trốn tránh sự tầm nã truy đuổi, nếu có, của dân làng quanh đó, y yên tâm có thể vượt khỏi cánh đồng ruộng lúa đến khu vực Sông Quao, một nhánh sông nhỏ, bắt nguồn trên núi cao, rừng sâu, rồi chảy vào Sông Dinh, trước khi tuôn ra bể cả Có hai ngưòi chăn vịt ở ngòai đồng nghe dân làng hô hoán “Trộm! Trộm!”. Hai ông này gốc là võ sư Bình Định hay Phú Yên gì đó, vào đây lập nghiệp, chuyên về nghề chăn nuôi vịt ở ngoài đồng ruộng . Là những võ sĩ từng lên đài thi đấu võ đài, thiết lập tại địa phưong trưóc đây. ”Kẻ cắp gặp bà già”. Thế là tên trộm tuy cao lớn, to con và có nghề ngón chút ít để phòng thân khi hành nghề hắc đạo, đã gặp địch thủ lợi hại. Vậy là một trận “Long tranh hổ đấu’ diễn ra dữ dội trong đêm tối, dưói ánh sáng nhờ nhờ của cậy đèn bão móc trên nóc chòi, cạnh lùm tre cao chất ngất. Y chiến đấu tận lực, nhưng sưc cô, thế yếu, đã thất thủ trưóc các võỉ sư có sào tre cứng nhọn và liên hoàn tấn công địch thủ. Khoảng một giờ sau, y bị đánh trọng thương , máu me đầy người và mặt mày. Y ngã gục. Họ khiêng y về làng. Sáng sớm hôm sau ,Y bị trói ké, cột vào một gốc tre già to tổ bố.
Chẳng mấy chốc, khi tên trộm được mở trói và đặt nằm giữa sân nhà làng thì trời đã sáng rõ. Sương còn đọng trên các cành cây, ngọn cỏ chung quanh đấy . Ánh nắng mai bắt đầu le lói ở phương đông. Dân chúng nghe tin, vội kéo lại xem kẻ trộm bị tóm như đám hội. Có ngưòi nhận biết y.Tuy bị đánh trọng thương nhiều nơi như mắt , trán, mình mảy, tay chân. Nhiều chỗ trên cơ thể bị chiếc sào tre đánh dập, vỡ máu me tùm lum , còn ri rỉ nơi các vết thương và trầy trụa. Có chỗ đỏ lòm, sâu hoắm. Y mặc quần ngắn, áo sơ mi cộc màu cháo lồng. Tóc hớt cao. Giọng y còn rõ ràng.Y không năn nĩ, van xin ai cả. Y biết mình là kẻ bại trận. Là ngưòi sa cơ, thất thế. Là hùm sói bị sa vào bẫy. Một đạo tặc hết thời. Một trộm đạo chuyên trèo tường moi ngách
”Không làm mà sống phây phây,
Chuyên nghề ăn trộm có ngày mạng vong”.
Lúc đó, có ngừời nhận diện y. Y ở bên kia sông, vùng Sông Cạn, Mỹ Đức. Sau đó hai lực điền được lệnh khiêng y xuống bệnh viện Phan Rang và trình báo với cơ quan an ninh Pháp. Nghe nói, một viên thanh tra mật thám ngưới Tây đến nhà thương tra xét y. Y không được chữa trị các vết thương. Bấy giờ, sức y đã kiệt hẳn vì đói khát và đau đớn, các thương tích trên người trầm trọng. Sau khi nghe thông dịch viên kể về tội trộm đạo của y, viên Thanh tra tức giận dùng gót giày đá vào lưng y mấy cái. Y ngã chúi và tắt thở. Khốn khổ cho một kiếp người đói rách đã hành nghề bất thiện mà phải chết một cảch thảm thương nhục nhã như thế.
”Đi đêm có lúc gặp ma,
Hành nghề hắc đạo dễ sa ngục tù”.
Lúc bấy giờ, người thân của y, không dám nhận xác về an táng. Không biết sau đó người Pháp cho chôn y ở đâu nữa.
5) CÁI CHẾT KHÓ HIỂU CỦA DƯỢNG BA
Nguyên đã có dịp sống nhiều năm ở Quê Nội. Sau này, chàng cũng lắm lần về thăm và lưu lại trong thời gian lâu dài Quê Ngoại ờ vùng duyên hải, Sở Muối Cà Ná, Thương Diêm . Vùng biển xanh, núi non trùng điệp, rừng trải dài mênh mông. Ruộng phẳng bằng, bát ngát. Những kỷ niệm êm đềm, rhân thương, hay xót xa, đau buồn cho gia đình hoặc bà con của cậu. gần như in sâu vào tâm hồn thơ ấu . Chúng như ươm mầm, bén rễ, khó phôi phai. Dượng Ba, một nông dân cần cù, chất phác, là người chồng thật gương mẫu, là cột trụ của gia đình. Bà Cô, em kế của Ba cậu. Cô nhỏ hơn anh trưởng hai tuổi. Cô dượng sống hạnh phúc, đầm ấm. Hai người chưa có con cái. Lứa đôi còn thanh xuân, cường tráng, yêu đời. Đùng một cái, Dượng bị ngã bệnh. Bệnh càng ngày càng nặng. Đủ thầy, đủ thuốc Tây y và Đông y. Thuốc tây, thuốc nam, thuốc bắc, thuốc ngoại khoa, đều không khỏi bệnh. Không ai chẩn đoán được bệnh, ngay cả các BS ỏ BV Phan Rang cũng bó tay. Thầy thuốc không rõ bệnh nhân mắc phải bệnh gì. Bệnh giống như bệnh tà. Dượng hình như bị ma ám, quỷ nhập. Như bị trù ếm, bùa ngãi gì đó. Có người bảo :”Hình như mắc đàng dưới”. Lúc mê man, lúc tỉnh táo. Lúc ăn uống đưọc chút ít cháo. Lúc không đụng gì đến thức ăn, ngay cả cam hay sữa. Rồi Dượng trút hơi thở cuối cùng vào một đêm đông lạnh lẽo. Bầu trời ảm đạm. Mây xám giăng khắp nẻo. Điều kỳ lạ là sau khi Dượng ngưng thở thì bụng và ngực hiện lên những nét chữ nhỏ màu đỏ chót như pha son, nổi trên da thịt xám xì, tái nhợt. Không ai có thể đọc và hiểu những hàng chữ kỳ dị, bí hiểm này cả. Thông điệp gì đây dành cho kẻ quá cố và gia đình kẻ bạc phước? Hình như chữ Nho? Những thầy đồ giỏi nhất làng đươc tang chủ mời đến. Họ đều quả quyết rằng:
-Đây không phải chữ Hán, Hinh như chữ Chàm.
Những Thầy Chang, Thầy Sế mà gia đình quen biết được mời đến từ Hòa Trinh, Hữu Đức đều bảo rằng:
- Đây không phải chũ Chàm. Có lẽ chữ Ấn Độ hay Phạn ngữ gì đó.
Báo hại người nhà phải tìm rước một chú “Cà Ri nòi”. Anh Bảy tiệm vải trên đường Thống Nhất trước Trường Nam PR, gốc Bombay. Song anh ta lắc đầu lia lịa:
- Cai nài khon phai chu nuoc toi đao. Chu la lun qua .Toi khon biet chi ca
Cuối cùng, không một học giả nào đọc được những chữ viết ngoằn ngoèo dỏ lòm trên ngực và bụng người chết. Bí mật của tín hiệu hay thông điệp báo cho gia đình kẻ tử vong bị tịt ngòi, không có chút ánh sáng ở cuối đường hầm. Người vắng số đã mang theo vĩnh viễn những bút tự của thế giới thần linh qua bên kia âm cõi (?). Có người nghi là Dượng đã tìm được vàng Hời, tức vàng ròng do người Châm chôn giấu, có ếm bùa và ký gởi Thần linh hộ trì của cải quý kim. Cũng có thể Dượng đào trúng ổ vàng trong lúc cuốc xới đất làm rẫy mà không làm lễ cúng xin Thần linh nên bị thần quở phạt hoặc bị bùa phép làm tổn hại sinh mạng chăng? Và những bút tự màu huyết dụ đó là lời cảnh cáo, như bản án tử hình huyền bí chăng? Không rõ những lời đôn đãi thị phi đó có đúng không. Có điều Cô Ba phủ nhận việc đào đất tìm thấy vàng. Cô ở vậy thờ chồng và xây chùa gần nhà Nội, xuất già tu hành luôn từ đó, dù lúc bấy giờ, Cô còn xuân sắc và có nhiều đàn ông theo tán tỉnh , muốn nối dây tơ với cô.
”Bây giờ khép cửa phòng thu
Lửa lòng đã tắt nương nhờ Cửa Không”.
6) CHÚ NĂM/ CHÚ BẢY/ CHÚ TÁM
Nguyên còn nhớ có lần làng PK tổ chức đấu võ đài tại sân trường học. Khán giả đứng chât cả trong và ngoài trường. Chú Bảy đã đấu một trận Võ Việt (Võ ta) thật ngoạn mục. Chú đẹp trai nhất trong các anh em. Chú lại giỏi đấm đá, lại có số đào hoa, phong nhã. Vì vậy , õ nhiều cô gái trong làng mến thương “Anh Bảy”. Những người đẹp khác làng cũng cảm mến người hùng khôi ngôi tuấn tú. Trong số đó có hai nàng, con cháu của Chế Bồng Nga. Chế Mân, Nữ Thánh Nina , một công chúa diễm lệ của Chiêm Quốc xa xưa. Vì tục lệ người Chàm, theo chế độ mẫu hệ, nữ đi hỏi cưới nam nhân, nên các thục nữ lần lượt mang mâm lễ vật từ Ma Ram, nơi Chú Bảy đa tình gặp gỡ tán tỉnh giai nhân sao đó, xuống tận PK. Cô đầu tiên cao ráo, da ngăm, nhưng khuôn mặt thanh tú, mắt sáng. Cô vào nhà Nội, để mâm lễ vật xuống bàn thưa với song thân của người hùng PK:
-Con thương Anh Bảy . Con muốn hỏi cưới anh Bảy làm chồng. Đây là lễ vật cuả nhà gái! Xin hai bác nhận cho.
Ông Nội bị áp đặt bất ngờ, chới với. Chú cũng chưa thưa gửi chuyện hôn nhân dị chủng này với cha mẹ mình. Cả nhà đều ngơ ngác, kinh ngạc. Ông Nội không nhận lễ vật. Ông la mắng Chú Bảy một trận tơi bời hoa lá. Chiêm Nữ xấu hổ, vội vã cuốn váy ô rờ lui cái ào. Chừng vài tháng sau, lại một thiếu nữ Chàm khác từ Phước Đồng cũng đội quả xuống. Giống tuồng hôm trước, nhưng diễn viên là cô gái da trắng mượt mà, xinh đẹp không thua gì gái Giao Chỉ. Hèn chi Chú Bảy không mê tit thò lò. Thế là Ộng Nôi nổi trận lôi đình, la rày người con điển trai, ham sắc
“Giai nhân Việt Tộc thiếu gì,
Sao chàng cứ mãi miết mê gái Chàm”.
Sau đó, Chú Bảy yêu một cô gái cùng làng. Cô ta nổi danh người đẹp Tam Tượng (tức PK). Giai nhân là con nhà giàu có, thân thế trong vùng. Ông Bá hộ chỉ có nhị kiều, không có con trai. Nàng là con gái út, cưng chìu hết mực của Bố vợ tương lai. Dù cha nàng chê gia đình Chú nghèo, nhưng Hồng nhan tri kỷ của người hùng thì yêu chú và quyết trao thân gởi phận cho lang quân.
”Đồng thanh tương ứng Đồng khí tương cầu” .
“Chàng đi thiếp cũng xin theo,
Khổ đau thiếp chịu đói nghèo thiếp cam”. (Ca dao Huế).
“Cho hay mãnh lực tình yêu,
Nam châm đã hút, dễ nào rời ra”.
”Thật là tài tử giai nhân,
Châu Trần nào có Châu Trần nào hơn”(Kiều).
Thế là chú đưọc vợ đẹp, con nhà giàu có trong vùng. Gia đình chú thím thật hạnh phúc từ đó.
Riêng Chú Năm, cũng cao ráo sáng sủa, tuy không đẹp trai bằng em mình. Chú đã lập gia đình và có hai con gái. còn nhỏ. Bất hạnh thay cho con người hiền lành, chỉ biếu. Chú cần cù làm nông để nuôi gia đình vợ con. Một hôm, giặc Tây càn quét, bố ráp vùng quanh khu vực PK, Thuận Hòa. Chú bị chúng bắt ngoài đồng ruộng vì Chú không chạy trốn kịp. Giâc nghi chú làm VM. Chúng bắn chết người vô tội một cách dã man. Khi gia đình phát hiện xác chú nằm gục bên bờ ruộng còn trơ gốc rạ, thì thân mình kẻ xấu số đã gần như sình chướng lên rồi. Thím Năm buồn phiền chồng bỏ mạng oan ức khóc mãi. Chẳng bao lâu Thím bị đau mắt rồi mù luôn. Thật tội nghiêp cho những kiếp người bất hạnh, những mảnh đời không có mùa xuân. .
Chú Tám là chú út của Nguyên. Chú tuy không được cao ráo, đô con, như các ông anh, nhưng da trắng, mặt mày sáng sủa, khôi ngô tuấn tú không thua gì chú Bảy hay Ba Nguyên, ông Hải, anh trưởng trong gia đình. Có thể nói chú thấp người, nhưng lại khoẻ mạnh, gan dạ, tháo vát. Chú là ngưòi em cứng đầu khó bảo khó khuyên can của mấy anh. Chú đã bỏ nhà đi theo kháng chiến chống Pháp rất sớm . Nghe nói, sau khi thoát ly, Chú hoạt động ở vùng CK 7 hay CK 35 trong dãy núi Trường Sơn vùng Sơn Hải, Cà Ná, Thương Diêm gì đó. Chú không nhắn tin tức về cho gia đình cha mẹ anh em gì cả.
”Người đi biền biệt núi rừng,
Bóng chim tăm cá biết phương nào dò.
Mẹ cha mòn mỏi đợi chờ,
Thân trai thời loạn biết mô mà tìm".
" Nội gầy dáng nhỏ héo hon
Đêm đêm cầu nguyện cho con an bình”