7) NHỮNG  HOÀI NIỆM VỤN VẶT    
      
         Nguyên còn nhớ, vào một buổi sáng mùa thu ảm đạm. Bầu trời xám xịt. Gió heo mây se lạnh. VM tổ chức lễ truy điệu các đồng chí của họ đã hy sinh khi lực lượng quân sự Pháp truy lùng,  càn quét vùng quê bên kia  Sông Dinh. Có khoảng ba ngôi mộ giả được vun đắp sơ sài trước  chùa PK. Họ tổ chức lễ đơn giản nhưng trang nghiêm. Một người trạc trung niên , có cẽ là lãnh đạo hay chỉ huy quân sự lên đọc tiểu sử và phong tặng vinh danh anh hùng cưu quốc, cũng như ca tụng  công lao của các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, chống kẻ thù  tàn bạo xăm lược quê hương. Sau khi  quân Pháp tái chiếm Đông Dương và cai trị VN, thì chiến tranh hầu như lan rộng khắp nơi.Vùng quê PK thường hay bị Tây hành quân truy lùng. Một hôm, có dám lính Pháp phối hợp một toán Thượng chỉ đóng khố, mang súng đạp  hàng rào tre, tiến thẳng vào nhà Nội. Những cảnh hãm hiếp phụ nữ  một cách dã  man thưòng xảy ra trong các cuộc hành quân bố ráp, truy lùng VM này. Tây trắng, Tây đen tức Maroc, lê dương, mặt đen thui như cột nhà cháy, hay xẻ mặt  những đưòng chằng chịt, trông dễ sơ ỉvà bọn ăn theo Chàm hay Thượng,Chúng lợi dụng cướp của bắt ngươì, hiếp dâm phụ nữ. Thôi thì chúng tha hố gieo rắc đau khổ cho đám dân lành ở các vùng thôn quê hẻo 1anh. Cho nên hôm đó, Má câu lanh trí bôi lọ vào mặt, thoa dầu,  đắp mền,  rên hừ hừ. Trông bà thật thảm hại, như nàng lọ lem. Lúc đo,ù bà còn trẻ và trắng trẻo dẹp gái. Thật là miếng mồi ngon cho bọn thực dân háo sắc. Nhờ má cậu nói được tiếng Pháp, Tên SQ Tây hiểu bà bệnh. Y lấy thuốc cho uống và chỉ lục soát nhà cửa. Một  tên Thượng, lòng thòng chiếc khố màu xám tro,  bẩn thỉu,  chụp lấy cái kính lão của ông NôẢi. Ông xin lại thì nó xô ông suýt ngã chúi và dọt lẹ ra cưả.  Nhà nghèo không có vật gì quý giá để chúng cuớp doạt. Trước đó không lâu,  Ba má cậu cũng ở Sông cạn làm rẫy trồng bông. Cậu còn nhớ ngày 2 tháng 9  năm 1945,  ngày VM cướp chính quyền từ tay quân Nhựt, dân thành phố làm một cuộc meeting tại sân vanả động Mỹ Đức PR. Các  đoàn thể đông vô số tập trung trong  Vận động trường dự lễ mừng độc lập . Họ hô to các khẩu hiệu vang cả môt góc trời. Sau đó,  họ diễn hành,  phô trương lưc lượng khắp phố phường. Những ngày tiếp theo,  Nguyên còn thấy những tốp thanh niên kéo dài bất tận, từ TC về PR . Họ diễn hành trên con lộ phía trước nhà Ba Má Nguyên đang trọ. Họ ca hát những bài hùng tráng như Tiến Quân Ca. Những bản nhạc CM chống Pháp, vang vọng khắp đường  cái quan lúc đó.
      Vào khoảng đầu năm 1946 thì biến cố trọng đại dã xảy ra. Ngày rằm tháng hai âm lịch năm đó, Má cậu đi chợ Dinh.
        “Đất bằng nổi sóng đùng đùng
          Thực dân lại đến xăm lăng nước mình”
     Thật vậy, máy bay Pháp oanh tạc một số đô thị lớn ở VN khi chúng đổ bộ tái chiếm ĐD. Khu chợ  Dinh thành phố PR,  sáng hôm đó bị phi cơ Pháp ném bom và bắn phá ác liệt.  Nhiều người bị bom nổ banh xác. Đâu người lăn long lóc, tay, chân, xương thịt bay vung vãi nhiều nơi.  Máu nhuộm khắp chợ Thịt da dính treo lơ lửng trên cành cây, mái chợ. Thật là khủng khiếp! Thật là tang thương, đau xót cho nhữỉng nạn nhân bị chết thảm hôm ấy. Cũng may, Má cậu đã rời chợ trước đó và đang trên đương gánh hàng về nhà ở Mỹ Đức.  Bà Lê, Má cậu, đang vội vã  quang gánh bên lề con đường Tháp Chàm PR, thì xe tăng địch đang rầm rộ lăn xích sắt từ TC xuống PR.  Chúng  bắn xối xả thị uy hai bên đường. Bà  Lê kinh hãi, quăng  quang gánh và lủi nhanh vào bụi gai chùm lé gần đó. Bà bình an, nhưng khắp người bị gai đâm trày xướt, máu me túm lum. Gai chùm lé rất độc. Vết thương un mũ, nhiễm trùng. Má cậu phải rửa thuốc tím và  bôi pommade một thời gian mới lành hẳn. Trong thời gian đó cậu còn ở nhà Nôị. Ngày máy bay bắn phá, oanh kích PR, người dân thành phố bồng bế chạy loạn về các vùng thôn quê hẻo lánh rất đông. Nguyên không quên được hình ảnh một ông già bị chết thảm vì bom đạn địch. Ngươì thân chạy giặc, lánh nạn mà phải khiềng xác chết trên võng tòn teng dài dài. Thây ma chuyển theo cùng với người  sống suốt ngày hôm đó vì không họ có thì giờ chôn cất.  Mặt kẻ xấu số loang lổ những vết máu khô, thâm xì,  lổ chổ trên má, trên trán, trên tóc. Đôi mắt khép kín như đang ngủ giấc ngàn thu. Quần áo còn be bét máu. Người chết còn lao đao. Người sống càng đau khổ.
               “ Đoạn trường thay một mảnh đời
                  Thác còn lận đận với người bôn ba”
     Chợ PR là mồ chôn  tập thể của những con người bất hạnh. Ngày rằm tháng  hai năm đó ”Bom nổ, đạn bay, thây người tan tác” là  ngày Cầu Siêu tập thể hằng năm  tại các chùa tháp,  nhà thờ,  trong nhiều năm sau này của tỉnh Ninh Thuận.
       Trước cái ngày tang tóc đau thương đổ xuống VN và Thành phố nắng gió này là thời  kỳ VN được độc lập. VM đã cướp chính quyền từ  tay  Phát Xít Nhật. Lúc Ông Hải  và gia đình đang ngụ tại Mỹ Đức, ở nhà một người bạn, Ông Năm, Cha anh Hớn thì. quân Nhật đang đô hộ nước ta.  Chúng bắt  dân Việt phục dịch cho chúng đủ thứ. Chúng chèn ép,  hà hiếp, làm tình, làm tội  người dân trăm bề mà đau khổ tang tóc nhất là gây nên trận đói năm Ất Dậu, 1945 ở Miền Bắc, làm cho hơn hai triệu người bị chết thảm.
              “ Năm Ất Dậu tháng ba còn nhớ mãi
               Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương
               Những thây ma thất thiểu đầy đường.
               Rồi gục xuống không đứng lên vì đói...”
                                               (Bàng Bá Lân)
      Tại Phan Rang, Vùng Sông Cạn Mỹ Đức, quân Nhật cũng  hà khắc bóc lột dân  VN không kém. Ông Hải có thể bút đàm bằng chữ nho với viên SQ Nhật chỉ huy cánh quân đóng tại một đồn binh gần đó. Chữ Nhật và chữ  Hán nhiều từ  có nghĩa giống nhau dù khác về phát âm.Vì thê, hai người hiểu ý nhau qua chữ viết. Ông Hải chỉ biết lỏm bỏm vài tiếng Nhật, nhưng diễn ý qua bút đàm thì tên Nhật  hiểu được những ước nguyện  và thỉnh cầu của dân địa phương, nên chúng cũng nhẹ tay chút ít đối với những ép buộc  yêu sách và đòi hỏi quá đáng. Cuộc sống của người dân  nô lệ cứ  tiếp tục trôi đi như bọt bèo trôi theo dòng nước. Lúc đó  Ba Nguyên thuê rẫy trồng bông tại đây, Ông mướn một số thanh niên ngụ tại Phước Khánh qua cuốc đất, dọn cỏ, trồng trọt . Anh Quang đã bị bạn mình , anh Trung đứng phía trước,  lât ngữa lưởi cuốc để đập vỡ tảng  đất cục làm trọng thương. Anh ta vô ý bị bạn đụng  lưỡi  len vào đầu mình. Đáng lẽ anh phải tránh xa tầm len của bạn đứng phía trước mặt. Vết thương  sâu, máu ra  lênh láng. Quang  bị ngất xỉu. Trong lúc đó  thuốc men thiếu thốn. Ba cậu phải  hái  cỏ cứu từ vườn trầu nhà Bà Nộị, giã với muối hột đăp lên vết thương, rồi băng lại. Thế mà vết xẻ khép miệng lành dần. Cỏ cứu là môn thuốc Nam gia truyền, trị được nhiền bệnh như  nấu chung với lá xả, lá ổi, lá khuynh diệp... có cho ít muối hột vào, thì nồi nước xông trị được bệnh cảm cúm. Riêng lá thuốc cứu giã nhỏ vời muối đắp lên vết thương rồi băng lại. Vét lở sẽ  kéo da non và  lành hẳn.  Anh Quang lành bệnh có thể  đi lao động lại bình thưòng. Mọi người ai cũng  mừng rỡ.
        Ba Má cậu  cúng tạ một con dê  trên  khu đất trồng bông. Mọi người  được dịp “Chén chú chén anh ,chén tôi chén bác. Rượu vào lời ra tiệc thật vui vầy” Nghề nông rất vất vả, nhọc nhằn, lại trông ngóng nước trời mà thu hoach  chẳng được bao nhiêu.
         Khi Quân Pháp trở lại xăm lăng VN, thì chiến tranh càng lúc càng ác liệt. Cuộc sống càng ngày càng khó khăn.  Ba  Má cậu tính  về ở tạm nơi Quê Ngoại cậu Vùng duyên hải. Năm đó, Nguyên khoảng 6 tuổi. Cậu chào đời vào mùa  nưóc lụt lớn năm Kỷ Mão ( 1939) . Bà Nội  cậu nói, Không hiểu sao Ba làm khai sanh cho cậu sinh 12/10/1938. .Nhưng  năm 1938, nhiều người bảo là năm Mậu Dần.  Không rõ Ba cậu có nhằm không ? Hoặc lúc đó vẫn còn năm Kỷ Mão? Ba  cậu từ Mỹ Đức sang nhà Nội điệu cầu về. Cậu không chịu theo cha vì lúc đó cậu đã yêu mến Ông Bà Nội và Cô Mười. Cậu ở đây lâu ngày và không muốn rời những người đã nuôi nấng, đùm bọc cậu. Cậu cũng không nở xa khu vườn xanh tươi  có chim chóc  ca vang vào những bình minh nắng ấm. Cậu không muốn rời bỏ những ngưòi, những cảnh thân thưong,  quen thuộc, đã làm ấm áp  tâm hồn cậu bấy lâu nay. Nhưng Ba cậu đã sử dụng võ lưc, bắt ép, áp đặt cậu phải về với gia đình. Ộng nổi gíận vì cậu không chịu đi theo mình. Ông bẻ cây đỗ rào ( cây  giẹp) quất tui bụi vào mông cậu.  Cậu  vẫn không chịu nghe lời bố. Cậu lăn mình xuống đất. Cậu khóc lóc la  to:
       - Ba cho con ở với Nôi! Con không  đi !Không đi! -
    -Bướng này! Bướng này!
       Ba  quất lien  tục. Roi này gẫy,  Ông bẻ cây khác.  Ông vừa lôi  kéo , vưa quất vào  người cậu. Khi  bị  lôi ra tới bờ sông, thĩ cậu đã mệt rã  rời. Thân mình ê ẩm,  mông  đít sưng nhiều,  tím bầm, rướm  máu. Cậu  buộc phải lê lếch  theo  Ba lội sông  sang  Mỹ Đức. Cậu vừa bước lê thê, léch thếch  trên bãi cát nóng bỏng, vừa nghĩ đến người em gái nhỏ thua mình một tuỗi, Sự tuổi Canh Thìn, sanh năm  1940 . Sự  da trắng nõn nà,  cao ráo, xinh  đẹp như má cậu.  Sự gi6ng mẹ  như đúc. Lúc Sự ở Thương Diêm với Ngoại và  Dí thì Ba cậu vào đưa con  về PK. Sự  cũng không chịu đi và  bị  cha áp đặt,  điệu về  nhà Nội. Lúc  đó, em buồn so, mặt mày ủ dột, bưóc lếch thếch từ ngoài  đường lộ đầy đất bủn,  hướng về cỗng nhà . Theo sau là Ba cậu,  dáng đăm chiêu, cương  quyết
      Hai cha con im lặng  cho đến khi họ bước lên thềm . Cậu vội chạy ra nắm lấy tay em . Sự gục đầu vào vai anh khóc nức nở. Số em thật  vắng phần. Có phải buồn phiền vì lạ cảnh,  lạ ngưòi hay không mà nó ngã bệnh. Thuốc men thiếu thôn . Em  lìa đời  sau đó. Mộ em nằm bơ vơ, hiu quạnh tại nghĩa trang PK.   
      Trở lại việc ông Hải bắt cậu về Mỹ Đức. Khi về đến nhà trọ, má cậu nhìn con trai đầu lòng, mắt lệ rưng rưng . Bà ôm chầm con, vuốt  ve, ậu yếm,  vỗ về an uỉ  đủ thứ. Bà  mài nghệ xức  những vết thưong  rưóm máu trên mình con. Bà không hề trách cứ chồng chút nào. Bà chỉ biết thương con thôi. Cậu thấy khiếp sợ Ba từ  đó. Ông thương con, nhưng  lại áp dụng biện pháp giáo dục:
          ”Thưong cho  roi cho vọt, Ghét cho ngọt cho ngào”
           ”Dạy con phải đánh bằng roi.
            Làm con phải biết vâng lời mẹ cha”.
      Những trận đòn khủng khiếp đó cứ thỉnh thoảng xuất hiện trong giấc mơ của cậu.
         Cứ mỗi lần nghĩ đến trận đòn đó, cậu còn khiếp hãi Ba  cậu hơn cả  nỗi sợ đến thốn dậu khi bị một anh lính hăm dọa bắn bỏ trước đó không lâu. Một hôm, Tây  hành quân truy lùng Quê Nội. Bữa đó, Quân Pháp dẫn lính về bao vây làng. Sau khi  lùng sục đã đời, chúng ngồi nghỉ dưói cây me  cổ thụ cao ngất nghểu, cạnh  ngôi nhà làng. Lính  đông đảo, kẻ nằm,  người dựa lưng vào tường hay gốc me. Súng ống  đủ loại, nào súng trường, súng trung liên bar, súng  tiểu liên để la liệt dưói đất, Họ ăn uống, cười nói  ồn ào. Dân làng  ít ai dám bén mảng đến gần, ngoại trừ các chú nhóc con tò mò, không sợ trời, trăng, mây, nước gì cả. Trong đó có Nguyên. La cà chán che, cậu thấy đói  về nhà Nội  lục cơm ngụi xơi với  mắm nêm ngon lành. Nhưng cậu lại  nổi tính hiếu kỳ. Nguyên lang thang xuống xóm giữa rong chơi. Cậu đang băng  qua mấy ngôi mộ trưóc nhà Thím Năm, thì  chợt có tiếng gọi sau lưng:-
      -Này cậu bé! Lại đây bảo!
      Cậu kinh ngạc quay đầu lại, thì thấy một  chú lính đang ngồi ẩn mình dưới  cây keo gần nghĩa trang  bé nhỏ,  chỉ lác đác  dăm  bảy  ngôi mộ.  Ông ta  tay cầm súng trưòng. Trên đầu treo tòn teng một bị  đạn, buộc vào nhánh cây. Y bảo cậu vào làng  xin dùm một  gáo nước  uống. Vốn hay gíup đỡ người  khác  khi có yêu cầu, cậu  vội vã  chạy vào nhà  dân  gần đó . Cậu đem ra cho  y  một gáo to nước uống.  Uống xong, y không  có lời cảm ơn mà trừng mắt quát lớn:
       -Này hãy đứng  yên! Ta muốn giết tên  liên lạc cho VM.
    Y lên  đạn răn rắc, như sắp bắn cậu thật.  Cậu kinh  hãi,  ba chân, bốn cẳng,  sãi nhanh ra khỏi đám mả.  Chạy bá thở  cào cào. Chạy như bị ma rượt. Chạy trối chềt trên con đường đất bủn. Chạy một mạch,  không dám nhìn lại ngưòi lính  phục kích trong bụi cây.  Chạy một hơi tới nhà. Về sau, cậu mới biết là  y dọa cậu. Y đùa thôi, Nếu anh ta muốn bắn cậu, thì làm sao cậu chạy thoát được vì tầm đạn  quá gần.  Cậu có tội gì  mà bị anh ta  giêt?  Chẳng qua cậu nhát như thỏ đế đó thôi.  Chỉ nghe đe dọa là dọt lẹ như tên. Nguyên thật  nhát gan.
     Những kỷ niệm  vui buồn trong  thời gian ở Sông Cạn  không nhiều lắm. Chúng  in lờ mờ trong vùng  trời ký ức tuổi thơ của Nguyên. Cậu còn nhớ, một hôm giặc Pháp càn quét tảo thanh vùng quê dọc theo bờ Sông Dinh ở khu Mỹ Đức. Bọn Lê Dương đã hiếp dâm một thiếu nữ  rất xinh đẹp khoảng 20 tuổi . Chúng thi nhau cưỡng bức cô gái đáng thương trong ngồi nhà nhỏ, trước sự chứng kiến  của người thân đành bất lực vì bị chúng trói  ké hết. Chúng buộc tội họ là “Bị tình nghi liên lạc với VM”.  Không biết bao thằng thay phiên hãm hiếp nàng. Tên Maroc đen bóng, mặt rạch  trông dễ sợ, chỉ còn ôm lấy cái xác không hồn của nạn nhân.
          “Chiến tranh tội ác chiến tranh,
           Con người nào khác yêu tinh thú rừng”.
       Sau đó, gia đình Nguyên đã  dời về Quê Ngoại.

II) QUÊ  NGOẠI
             1) CÀ NÀ- THƯƠNG DIÊM        
    
       Ông Bà Ngoại gốc Quảng Nam, Quận Điện Bàn, Ga Kỳ Lam. Các người di dân lập nghiệp tại Thương Diêm lâu rồi. Thương Diêm-Sở Muối Cà Ná( La Saline de Ca Na) do người Pháp thành lập đã lâu đời. Trên Quốc lộ 1,  từ Phan Rang vào Phan Thiết-Sài Gòn, bên trái, rẽ qua Cầu Hoằng vào Cà Ná  -Thương Diêm, du khách  trông thấy tấm bảng chữ Pháp  ghi trên. Thôn làng duyên hải này  nằm cách “Tỉnh lỵ hầu như nóng  bốn mùa” khoảng 30 km đường bộ. Sở Muối rộng bao la, bát ngát. Cánh đồng ruộng muối phẳng bằng,  trải ngút ngàn  từ  phía trưóc con đê cuối xóm, gần Nhà Máy Sở Muối, đến tận Cầu Hoằng, sát Quốc Lộ 1 và cánh  rừng chồi trùng điệp, cuốn hút vào núi sâu chập chùng. Đó là bề dài. Còn bề ngang  cánh đồng muối trải rộng, từ con lộ nằm  sát  bờ đê, chạy song song với  mường nước, thường khô cạn trước làng  Thương Diêm, đến kề dãy Gò cao, cây cỏ lô nhô . Gò này dài và rộng như một dãy đồi nằm thiếp, mình nghe sóng biển vỗ rì rào, bất tận, suốt ngày đêm. Gò là vùng giang sơn hỗn tạp của  đá sỏi , san hô , vỏ ốc, trai, sò, hến, đất cát . Là thế giới của bồn bồn và gai gốc đủ loại, sinh sôi nảy nở. Gò là  láng giềng gắn bó trăm năm với bãi biển lởm chởm đá sạn, cát bùn xám xịt. Cây  cối trên vùng cao này là thế giới của các loài hải âu làm tổ,  đẻ trứng. Xa xa,  là  phi trường dã chiến của  chủ  Sở muối, nằm sát bãi biển và chiếc cầu  sắt nối  từ con lộ ra  một quãng xa ngoài biển . Chiếc Cầu Tàu này dùng  cho xe rùa vận chuyển  những toa muối hột, đem từ vựa ra đổ vào sà lang đậu  ngoài  xa,  sát phía cuối chiếc cầu. Từ đây, chiếc   chaloup  kéo sà lang  khẳm muối ra chiếc tàu thủy “Ăn muối” đậu ngoài biển. Rồi muối được công nhân  xúc vào chiếc giỏ mây khổng lồ. Tàu thủy dùng cần trục  chuyển gịỏ  đầy muối lên tàu và trút xuống hầm sâu hun hút, nằm dưới đáy của con kình ngư .  Công việc chuyển muối thật là nặng nề vất vả, từ khâu lấy muối nơi vựa cao chất ngất,  sát núi ở cuối làng, cho đến lúc đem ra tàu thủy đậu ngoài phía xa.
            ”Vựa ngất cao, muối cứng dày khó cuốc.
              Người dân phu, hì hục xúc đầy toa.
              Đầu máy nổ rền, đoàn rùa nghiến sắt.
              Những chiếc  sà lang rạo rực trông chờ.
              Muối chảy rào rào, ca nô xình xịch.
             Thuyền khẳm lắc lư, sóng lướt nặng nề.
             Chiếc cần cẩu, lấy đà căng móc xích .
             Điều khiển giỏ mây chẳng lệch đường đi”                              
         Trước thôn làng là con đường bằng phẳng trải đá và cát.  Con đường nối từ Sở muối đến Cầu Hoằng, trước khi  chạy ra Quốc Lộ 1, lên ga Cà  Ná hay rẽ phải về hướng Phan Rang. Con sông Cà Ná, một con sông bé nhỏ và ngắn ngủi, chảy tư vùng  rừng sâu, núi thẳm, phía trên cao của Cầu Hoằng. Con sông  nối dài từ vùng núi xa ngút ngàn, đến biển Cà Ná. Con sông chảy dọc theo con đê dài từ phía Cầu Hoằng, tiến về phía Cà Nà,  nằm sát biển cả mênh mông, bát ngát.  Một thôn làng duyên hải trù phú với rừng dừa xanh biếc, lấp lánh nắng vàng và hứng gió trùng dương, rì rào, vi vu, bất tận.
              ”Đây Cà Ná! Rừng dừa lộng gió!
               Biển xanh rờn nuôi đồng muối Thương Diêm.
               Chiếc Cầu Tàu ngày đêm sóng vỗ
               Vựa ngất cao nghe nhung nhớ chuyển mình” 
                “Thương Diêm rừng núi  chập chùng
               Thôn làng heo hut, muối đồng bao la.
               Rì rào sóng vỗ ngoài xa.
               Trùng dương lộng gió, sương mờ chiều buông.”
      
       2) GIA ĐÌNH  NGOẠI
    
      Ngôi nhà Ngoại ở giữa xóm TD. Khu  nhà rộng rãi. Nhà tranh, vách đất  đơn sơ, nhưng thềm nhà được tráng xi măng.  Quanh nhà có trồng cây ăn quả. Cạnh nhà có cây duối sum sê, thường  ra trái chín đỏ, ngọt lịm.
              “Quanh nhà rộng, có trồng cây ăn trái
                Đu đủ, mãng cầu rải rác đâm bông”.
      Bồ đoàn thê tử của Ông Hải ở đây. Lúc bấy giờ,  Ba  Nguyên đi làm phu muối. Má cậu buôn gánh, bán bưng. Gia đình  Ba Má ở chung nhà Ngoại. Ngoại có` hai bà Dì. Bà Dì , em kế má, là Dì Tám.  Nghe nói, Ngoại cũng có con trai. Nhưng”Hữu sanh vô dưỡng”
Chỉ còn hai cô gái. Má cậu trước kia nổi tiếng  là thiếu nữ xinh đẹp tại vùng quê hương nắng gíó này. Dì Tám cũng là một thôn nữ có nhan sắc, không thua gì chị mình. Cậu nghe Ngoại và Dì kể lại, thì  Má cậu, Bà Lê, là  cô  gái duyên dáng, hoa khôi tại địa phương. Bà học  đến lớp Ba là hết cở thợ mộc tại nơi” Khỉ ho, cò gáy” này. Đây là  lớp cao nhất tại nơi “Chó ăn đá , gà ăn muối ”, xa xôi, hẻo lánh, vùng quê duyên  hải nắng gió, quạnh hiu quanh năm suốt tháng. Ngôi trường sơ học do chủ ngưới Pháp lập ra  ở đây chỉ có thế. Trường học dành cho con  em các công nhân và viên chưc Sở Muối. Dạy bằng chữ Việt và Pháp. Má cậu da trắng, tóc dài óng ả. Môi đỏ tự nhiên. Mắt đen láy, thông minh. Má giống Ông Ngoai. Ông khôi ngô, tuấn tú thời trai trẻ. Dì Tám cũng đẹp.
           “Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”,
            “Xuân lan, thu cúc, mặn mà  cả hai” (Kiều).
      Dì  trông mát da thịt hơn,  rắn chắc hơn.  Mặt tròn trịa “khuôn trăng đầy đặn”. Cười có duyên.  Má lúm đồng tiền. Đôi môi tươi thắm.
             “Hải đường mơn mởn đào tơ, 
              Hoa hồng, hoa cúc, hai cô diễm kiều.” ( Nhại theo Kiều).
        Dì Thạnh là  Dì bà con. Dì theo Ông Bà Ngoại vào TD từ xứ Quảng Đà.  Dì nhỏ hơn Dì Tám vài tuổi. Dì không đẹp bằng hai ngưởi chị họ. Nhưng dì cũng dễ coi. Thân hình mảnh mai. Dì siêng năng, nhanh nhẹn. Dì  lao động  dẻo dai, cẫn cù. Tánh tình chân chất, hiền thục, dễ bảo. Vì thế, trong gia đình, ai cũng thương Dì.
      
          3) CÔ LÊ CHỐNG TÊN DU ĐÃNG
      
         Theo lời kể của  Ngoại, Má Nguyên là một phụ nữ can cường,  bất khuất  và kiên trinh hết mực. Bà không phải tay vừa, dễ cho người khác động đến,  chèn ép hay  hiếp đáp. Lúc còn trẻ, một hôm,  Lê đi làm ở Bến Tàu về. Mặt trời đã ngã hướng tây. Con đường từ Cầu Tàu  tới thôn Thương Diêm khá xa. Lê đi bộ qua môt đoạn đường, dọc theo con mương, chạy dài từ Nhà Máy Sở Muối, đến đầu  làng.  Mương nước thường đục ngầu  khi thủy triều vừa rút  xuống. Rong, rêu, cỏ dại mọc tùm lum dưới lòng  mương. Cá chốt, cá căn, theo nước đi xuống dần về phía cửa biển. Con đê làng chạy giữa mương và đồng  ruộng muối khá cao. Cỏ mọc xanh rì về mùa mưa và vàng úa, héo rũ về mùa nắng. Cây cối khắp nơi hầu như xơ xác, tiêu điều vì nước mặn tại  xứ “Khỉ ho cò gáy” này. Phía sau làng thì núi cao chớn chở. Rừng trải dài bao la, bát ngát. Trước mặt làng là  đồng muối trải rộng dưới ánh nắng thoi thóp của buổi hoàng hôn hoang vắng. Gió biển lồng lộng thổi về mát rượi. Con đường đê vắng tanh. Lê lúc ấy vừa tuổi tròn trăng, song đã trổ mã. Lê xinh đẹp rực rỡ khiến nhiều thanh niên trong làng say mê, theo tán tỉnh.  Trong đám  ngưỡi si nàng có chàng Long. Y là một thanh niên cao to, da ngăm ngăm . Một kẻ lỗ mãng, bậm trợn. Một tên du đãng khét tiếng, thường theo chọc nàng, nhưng bị giai nhân từ  chối. Người đẹp  sợ gặp kẻ du côn, hung dữ, thì đời hoa sẽ tan tác khổ đau. cất đầu không nổi.
        Long bực tức vì có kẻ dám chê mình. Y ức lắm!  Y  theo dõi, dò la nhiều lần,  biết nàng thưòng một mình đi làm về trên con đường vắng vẻ, ít người qua lại này. Y mới phục kích trong bụi bồn bồn rậm rạp, dưới con đê, cạnh dòng nước đục ngầu. Vưà thấy bóng nàng đến  gần,  y mừng rỡ, vồ ngay lấy người đẹp. Y quen tánh ngang tàng, du côn,  liều lĩnh, “Coi trời bằng cái vung”.  Y sỗ sàng ôm lấy giai nhân và hôn tới tấp trên mặt, trên ngực nàng. Nàng bất ngờ, cố vùng  vẫy dữ dội. Dùng hết sức liễu yếu, đào tơ xô hắn ra. Song hai cánh tay y gân guốt, rắn chắc như gọng  kềm, cứ ôm  cứng lấy nàng. Hắn muốn làm ẩu, sơ mó tùm lum. Nàng tức giận, tát vào mặt y. Long chưa hề bị  phái nữ  dám chống cự lại võ lực của y, một kẻ gan lì,  bặm trợn. Tại làng này, hầu như ai cũng nể sợ tánh hung  hăng, tàn nhẫn của y. Cho nên y nổi nóng,  tát túi bụi vào mặt, vào đầu nàng. Y đấm đá, vùi liễu dập hoa. Y tính trừng trị kẻ  dám chống  lại y cho bỏ ghét, rồi sẽ chạy thoát phi tang, như  y đã quen thói hà hiếp những phụ nữ hiền lành, ngoan ngoãn  trước đây.Y nổi danh là một kẻ phong tình,ưa thích trêu hoa, ghẹo nguyệt. Một kẻ phong  lưu, đàn điếm. Một gã ăn chơi, thich bẻ hoa , cợt nhã với gái tơ. Một tên côn đồ lưu manh . Ai ai cũng sợ. cũng  tránh né ”Ông  Vua cũng thua thằng khùng”            
       Đánh đã tay, y vùng ra, tính bỏ chạy, thoát thân,  hòng tránh phiền phức vì tội hành hung phụ nữ. Tuy nhiên, “Đi đêm có ngày gặp ma” . Lần này, y bị Lê chụp được chiếc áo thun bên trong áo sơ mi đã bị y xé rách, để  tiện bề đào tẩu. Lê vừa nắm chặt chiếc áo thun của tên hung bạo, vừa la to:
     - Cứu tôi! Cứu tôi! Du đãng!
    Thật may mắn cho người đẹp! Thật vậy, lúc ấy, có người đi gần đó nghe được tiếng  kêu cứu của nạn nhân, vội chạy lại. Thế là y bị bắt giải về Trụ sở  Làng. Báo hại mẹ y, phải năn nĩ lạy lục chính quyền địa phương tha mạng cho đứa con trai bất trị, lỗ mãng của bà. Lê bị y đánh mặt mày sưng húp. Nhiều nơi trên cơ thể  bị bầm tím.  Mẹ Long  chịu tiền cơm thuốc  và đích thân săn sóc nạn nhân cho đến khi lành  bệnh. Riêng kẻ vũ  phu, du côn, thì bị Làng phạt làm cỏ vê một tuần, sau khi y làm tờ cam  kết không tái phạm. Nhờ bà mẹ khóc lóc, nài nĩ chính quyền,  không thì y có thể bị tù mục xương vì tội  chọc ghẹo  và đả thương phụ nữ

4) NÊN DUYÊN TẤN TẦN- SINH HOẠT GIA ĐÌNH      
                   
       Cũng theo  lời Ngoại và  các Di kể lại “Tình sử” trai PK gái TD. Ông Hải vào Sở Muối xin làm công nhân để kiếm sống vì  quê Ông khó khăn  về công ăn việc làm . Lúc đó, Ôâng Hải, Ba Nguyên, ăn cơm tháng tại nhà Lê. trong khi làm phu muối. Hai bên tâm đầu, ý hợp, và nên duyên vợ chồng,  dù anh hùng hơn thuyền quyên một giáp.  Cả hai đều tuổi Hợi. Hợi lớn và Hợõi nhỏ . “Hai bên ý hợp tâm đầu Khi thân nào chẳng lọ cầu mới thân”(Kiều). 
            “Trai Phước Khánh , gái Thương Diêm ,
              Ba sinh hương lửa  phỉ nguyền gặp nhau.
              Hai làng nối môt nhịp cầu,
              Đi về Nội Ngoại đã hầu thường  xuyên”.
        Ông Ngoại Nguyên, càng về già thì chứng bệnh thần kinh càng nặng.  Ông khùng khình, hay đi lang  thang khắp nơi. Hễ gặp gì ngoài đường, Ông cũng nhặt, nhất là  chai không hay hộp loong  đủ loại. Ông đem những thứ đó chất đầy trên một kệ cao, để ở một góc sân. Ông thường lẩm nhẩm một mình. Nguyên không  rõ ông muốn nói gì vì lúc đó cậu còn bé lắm! Bà Ngoại bán quán và nấu cơm tháng cho công nhân Sở Muối có nhu cầu ăn  hàng quán. Dì Tám và Dì Thạnh cũng đi làm muối giống Ba Nguyên .Những khi thất nghiệp hay rổi việc thì mọi người trong nhà khai thác rẫy trong rừng  hay trên Gò cao,  nằm cạnh bờ biển và gần cánh đồng  muối. Cậu thường đi theo phụ giúp  Dì làm nương  rẫy.  Rẫy thường trồng ngô , khoai lang, khoai mì, đậu nhiều loại. Rẫy cứ trông cậy vào nước trời. ”Nước mưa ít tơi nơi này Làm nông trông ngóng mãi ngày trời mưa”.
            “ Dì cháu mình làm nương bên đồng muối
               Nơi gò cao đất sỏi trộn san hô
               Thời tiết bốn mùa, nước mưa ít tới.
                Khoai vẫn ra dây đợi bắp trổ cờ .”   
        Cậu cũng thường giúp Ngoại, ghi chép vào sổ những khách hàng hay mua chịu. Chờ đến phơi lương, họ mới chịu trả nợ  quán. Lúc đó, nhàù dân chưa có điện,  chỉ thắp đèn dầu.  Muỗi ở đây lại nhiều.  Cứ chiều tối là  chúng ồ  ạt bay đến kêu vo ve.  Dì un lá “sầu đâu” (Hay lá “sầu đông”, người Miền Nam gọi,  hay lá” xoan” người  Bắc đặt tên cho  lá  cây này) để đuổi muỗi bay đi.
              “ Người bán quán, con vỡ lòng sổ sách
                 Ngoại nhớ thật tài, một khách không quên
                 Cứ chiều tối, khi đèn dầu sắp thắp
                 Bày muỗi vo ve, trổi nhạc khắp thềm”
                                  ooo                 
                  Lá “sầu đâu “ Dì đem về un khói
                   Mùi hăng hăng, ngan  ngát muỗi tan hàng
                   Miền duyên hải, gió trùng dương mát rợi
                   Bầu trời đầy sao sáng mãi thâu đêm”.
        Có lần đám ngô trước nhà sai quả, no tròn, sắp già,  chưa thu hoach được. Trời hạn hán . Đám ngô  héo úa sắp chết khô.Vì  vậy, cả nhà phải gánh nước tưới để cứu nguy. .Cậu múc nước cho các Dì gánh muốn rã tay.
                  ”Con còn nhớ trước sân nhà khô hạn
                    Mấy hàng ngô bụ bẫm quả no tròn.
                   Thân ủ rũ  héo hon dường chết đứng
                   Khiến cả nhà  gánh nướ những đêm trăng”
          Cứ mỗi lần “Mùa tàu ăn muối’ thường vào mùa gió bấc, muà  đông. Trời thật lạnh. Cái lạnh buớt xương da ở miền núi. Nhưng  ai ai cũng vui vẻ đi làm vì có tiền rũng  rĩnh trong túi, sau nhiều ngày thất nghiệp chờ đợi.  Lúc đó, Dì Tám thường  gánh hàng xuống Bến Tàu bán cho công nhân và Má cậu hay lân la trên Tàu thủy để đổi hàng lấy thực phẩm của thủy thủ nước ngoài, như bánh mì khô, cá thịt hộp, thuốc la, rượu...
                   ”Mùa Tàu Ăn Muối”, cả làng nô nức
                     Gió bấc vi vu lạnh buốt da người.
                     Đôi quang gánh trĩu vai Dì kiễu kịt
                     Con đường quê cỏ ướt đẫm sương mai”
            Kỷ niệm cậu nhớ mãi là có một lần đám bắp dì trồng trên gò cao đã già Những trái ngô  mập ú bắt đầu vàng bao, sắp thu hoạch,  nằm phơi mình dưới ánh nắng rực rỡ của vùng duyên hải. Xa tít ngoài kia là biển xanh bát ngát. Sóng  vỗ rì rào bất tận vào bãi cát lởm chởm san hô. Má cậú dựng cái chòi sát ranh ngôi  rẫy của anh Đá. Đây là chỗ trú mưa nắng, nơi ăn ở  đêm ngày của cậu trong thời gian cậu coi giữ rẫy bắp,  chờ thu hoạch. Anh Đá , một thanh niên cao  to, da ngăm đen, tóc vàng hoe.  Anh ở Cà Ná nhưng ra làm rẫy ngoài Thương Diêm . Anh gốc nông dân, cần cù siêng năng và chất phác. Anh giỏi tay nghề đánh cá và chài lưới.  Anh lớn hơn Nguyên  khoảng mười tuổi. Anh cũng trú tạm trong một cái chòi tranh, gần giang sơn của cậu. Hôm  đó, cậu mãi say mê đọc truyện “Con Thần Hồ” Của Tchya , do Dì Tám mượn của  anh Giao, bạn Dì. Câu chuyện đường rừng, pha màu ma  quái và huyền hoặc rất lôi cuốn hấp dẫn. Cậu quên nhiệm vụ chính là coi chừng rẫy bắp. Nhất là khu giáp bãi cát, dưới thung lũng, chạy dài thoai thoải ra biển . Cả vùng này lác đác cỏ vàng úa vì nước mặn và khí hậu khắt nghiệt,  khô hạn  hầu như quanh năm,  suốt tháng. Không ngờ một đám trẻ trạc tuổi Nguyên  hay nhỉnh hơn chút ít, đang bẻ trộm bắp. Tiếng lá ngô sột soạt. Tiếng bước chân  lào xào, soàng soạt, thình thịch. Tiếng cười khúc khích,  khoái chí  của con gái, vang vọng từ phía cuối rẫy, cạnh bãi biển TD.  
  Hốt hoảng , Nguyên quăng sách, chạy vội ra phía sau rẫy, hướng về nơi lao xao tiếng người. Hỡi ôi! Quân  trộm  bắp! Quân đạo tặc! Một bày  thiếu niên, vừa nữ, vưà nam,  ở  Xóm Cầu Tàu xa tít dưói kia, đang  hối hả bẻ trộm ngô. Toàn là những người quen biết. Toàn là khách hàng đến mua kẹo, bánh, thực phẩm tại quán của Ngoại hằng ngày.  Hôm nay chúng  đi Cà Ná về ngang qua rẫy bắp, đầy ắp những quả  bụ  bẫm, no tròn, vưà già đủ để “dớt” trộm.  Lại không thấy ai trông chừng rẫy. Chúng tưởng bở, ngon lành, thi nhau  ào vô hái trộm. Kẻ hái,  người ôm  bắp,  chuyển ra đưòng cái, băng qua bãi biển.  Nguyên bắt quả  tang. Nào thằng Phụng, con Anh,  con Bảy...Trên dưới chục đứa, đang  “đánh nhanh, đánh mạnh, đánh lẹ”.  Bọn chúng  trông thấy Nguyên xuất hiện, lồ lộ vẻ mặt vừa kinh ngạc, vừa tức giận, song chúng phớt tỉnh Ăng Lê, làm như rẫy bắp là cuả chúng.  Một vài tên còn tiếc rẻ vội vã chạy lên ôm hết số bắp đã bẻ bỏ trên cỏ, chưa kịp chuyển  xuống  dưới . Lực lượng hắc đạo đông quá cỡ thợ mộc. Nhiều thằng đô con, gồ ghề.  Dân biển mà! Nguyên cô thế như trứng chọi đá. Cậu lại hiền khô và tánh nhút nhát. ”Một sự nhịn,  chín sư lành”,  như Má cậu thường  dạy cậu. Cậu đành đưa  mắt ngơ ngác, bối rôi,  đầy kinh ngạc, e dè,  nhìn đám lâu la, cưóp cạn,  chuyển hết bắp,  rồi êm ả rút lui về hang ổ của chúng.  Khu Xóm  nhỏ thấp thoáng xa xa, thiếp mình bên Hồ chứa chiếc chaloup và những chiếc  sà lan to kềnh, nằm chờ “Mùa Tàu Ăn Muối”.  Lác đác  những mái nhà tranh, vài cây dừa  nằm bơ vơ, hiu quạnh bên Cầu Tàu. Lúc nào cũng nghe   tiếng sóng  vỗ rì rào, rào rạt,  ầm ầm ùa vào  bờ đá lởm chởm  hay chân cầu.  Đại dương bát ngát, mênh mông, lộng gió vi vu, nghe như tiếng gió hú đâu đây, vào những đêm  mưa rơi dai dẳng tại vùng duyên hải đìu hiu quạnh quẽ  này.
             Cuối  cùng, đám hắc đạo Xóm Cầu Tàu dọt rất le. Chúng biến hết rồi! Quân ăn cướp! Nguyên buồn ba lủi thủi quay về chòi ngã phich xuống chiếc chiếu. Mặt mày xụi lơ, buồn thúi ruột. Số bắp bị mất quá lớn. Tiếc quá! Anh Đá hôm nay lại vắng mặt!Nếu có anh ở đây thì những tên ăn trộm  nhóc con kia khó lòng lấy bắp đi thản nhiên như thế. Cậu vừa tức,  vừa xót của,  lại sợ Má, Dì la mắng. Cậu quá yếu , không tỏ một phản ứng nhỏ nào với gian nhân.  Sau đó, cậu về  nhà báo cáo lại gia đình về việc này. Bà  Ngoại có xuống Cầu Tàu mắng vốn với những người có con em trộm bắp.  Nhưng rồi cũng huề cả làng. Làm  gì nhau bây giờ? Đền  bù ư? Ngô cũng đã ăn rồi. Đã thành phân bón  đất cát rồi. Khiếu  nại với ai  đây ? Đói khổ quá! Trẻ con liều mạng kiếm chác là việc thường  xảy ra trong cái xã hội, đa phần là dân ngu, khu đen, nghèo khổ, chân lắm, tay bùn.   “Bần cùng sinh đạo tặc”. .Nguyện đã coi giữ đám rẫy những khi bắp già, chờ vàng bao là bẻ.  Trông chừng những luống khoai lang,  khoai mì,  đậu xanh, đâu ván, những khi sắp thu hoạch.
                  ”Nếu không trông ngó rẫy vườn
                    Những tên hắc đạo dở tuồng chỉa chôm.”
        Trên Gò  cao hóng gió trùng dương, giữa khu rẫy bạt ngàn ngô sắn, vào những đêm trăng  vằng vặc,  Đa và Nguyên thưòng ngồi bên đống lửa, cạnh chòi. Cậu nghe anh kể chuyện đủ thứ. Sau khi cơm chiều xong,  hai người trò chuyện vui vẻ dưới  ánh trăng sáng rỡ như ban ngày. Ngọn lửa cháy bập bùng,  ấm áp reo vui phầng phật,   nổ  lách tách khi  gió phe phẩy mơn man. Đêm xuống nhanh. Không khí mát rượi.  Anh Đá  tuy học không cao, nhưng lại nhớ đủ chuyện trên đời. Anh kể  liên tu bất tận. Chuyện nọ tiếp chuyện kia. Từ Tây Du Ký, Tề Thiên Đại Thánh,  đến Tiết Nhơn Quý Chinh Đông, Tiết Đinh  San Chinh Tây, Thuyết Đường , Phản Đường ,Tàn Đường, Phong Kiếm Xuân Thu , Xuân Thu Oanh Liệt, Phong Thần Diễn Nghĩa ... Những nhân vât lừng  danh đặc biệt của Tàu anh nhớ làu làu như   Tôn Tẩn,  Bàng Quyên, Trình Giảo Kim, Đậu Nhứt Hổ, Đệ nhất nhân có tài độn thổ.  Nào  Tống Thái Tổ /Triệu Khuông Dẫn, Trịnh Ân, Đào Tam Xuân , Hàn Tố Mai , Hàn Phụng...Thôi thì
                “Bao nhiêu tích cũ, chuyện xưa
                  Những đêm trăng  sáng tha hồ cậu nghe”.
       Nguyên phục anh Đá vô cùng. Một đại ca có trí nhớ tuyệt vời. Đáng nể ! Đáng  nể!
             Một buổi sáng, mặt trời vừa nhô lên phía đông và tỏa những tia nắng hồng âm áp xuống đồng muối, trải dài bên cạnh Gò cao, bỗng xuất hiện một đám lính tràn qua  đám rẫy của  hai người. Thì ra Thủ Tạ, Quan Quản, Đồn Trưởng Đồn Cửu Thân, đang dẫn binh đi hành quân,  truy lùng VM.  Nghe nói, Quan Thủ  Tạ  gốc Nại. Y to cao, mặt  có thẹo dài gần mắt. Thiên hạ đồn rằng VM định ám sát  y tại chợ Dư Khánh. Nhưng vết chém  bị trượt, không lấy mạng y đưọc, chỉ để lại vết thẹo trên mặt. Y thật may mắn. Y  có giọng  rền  vang . Tiếng nói sang sảng . Gương mặt nghiêm nghị, đanh thép, lạnh lùng, bặm trợn, nhiều mưu trí, dù học hành không cao,  chỉ biết tiềng Pháp chút ít.
Y không phải tay hiền. Ai thấy y , đối diện với y, đều  tỏ ra khúm núm, khiếp sợ. Dưới bọn Tây thì y là xếp sòng tại vùng “Đèo heo hút gió “này.  Y là luật pháp. Y là quan tòa. Y có quyền bắt giam,  bỏ tù hay tha mạng bất cứ người dân  nào cư ngụ tại  đây. Chỉ cần y buộc tội “ VM’ thì cuộc đời coi như bế mạc.  Sáng nay,  Quan đeo súng lục rất oai vệ. Quan khệnh khạng đi giữa hàng quân. Lính bố ráp khoảng một trung đội, dàn hàng ngang băng qua Gò  cao, lục soát, truy nã những  du kích quân ẩn nấp.  Vũ khí gòm một khẩu trung liên Bar, một súng  máy. Còn lại là súng trường cuả Pháp. Y dừng lại bên chòi, gọi anh Đá và Nguyên ra thẩm vấn. Giọng y ôn tồn nhưng có lúc ồ ồ, rền  vang như sấm khi y nghi ngờ,  hạch họe, vặn hỏi hai Hiệp Sĩ coi  rẫy.Y cầm cây baton chỉ mặt anh Đá:
      ” Mày làm gì ở đây?”.  Anh khúm núm tỏ  ra sơ hãi hấp tấp trả lời:
        -Dạ bảm Quan Lớn! Con coi rẫy khoai và bắp ạ!.
        -Mày gốc ở dâu? Thương Diêm hay Cà Ná?
        -Dạ thưa Quan ! Con ở Cà Ná.
      Quay sang Nguyên, Y hỏi , dù câụ mới khoảng 10,11 tuổi:
    -Thằng  nhỏ này! Mày làm gì ở đây?
          Nguyên bình tĩnh trà lời. Cậu không tỏ ra chút chi khiếp sợ tên Quan Quản, nổi tiếng là hách dịcch gian ác :
      -Con ở Thương Diêm, con Bà Lê ạ”.
         Y đã biết rõ  gia đình cậu. Y bắt buộc các phụ nữ  góa bụa mà  còn nhan sắc, phải lên Đồn Cửu Thân ngủ ban đêm. Y nói là để bảo vệ họ vì nghi chồng họ  đã thoát ly theo VM (?).
     Trong số  những phụ nữ  trẻ đẹp có bà ĐH.  nổi tiếng duyên dáng . Bà là  chủ  quán cạnh nhà thầy Nguyễn Viết Hoàng,  bên phải con lộ chạy ra  chiếc cầu gỗ trưóc làng. Bên  trái con đường quan  là Khu chợ chồm hổm,  kiểu dã chiến ở đây. Bà  H  có một con trai. Chồng bà  thì đi kháng chiến từ  lâu rồi. Bà  còn “ngọt nước” lắm!  Khoảng 30 tuổi. Thủ Tạ biết  rõ tình trạng  gia đình và người chồng làm VM  của bà H. Ngoài ra,  còn  có Bà Tư  Ù.  Bà Tư không mập  mạp gì, tại sao lại có “Hỗn danh “ như thế?  Bà  cao ráo, mình dây, da hơi ngăm,  nhưng mặt mày thanh tú. Bà  thật mặn mà, duyên dáng . Bà không có con cái. Chồng thì không biết ở đâu. Có lẽ phu quân  trưóc đây của bà mập mạp chăng? Các giai nhân này phải lên Đồn buổi chiều tối . Sáng sớm thì  về  nhà.  Quan Thủ Tạ  chất  vấn hai người trên rẫy chừng  5 phút .Thấy không có gì khả nghi, sau khi  cho lính lục  soát quanh đấỵ, Y đảo cặp mắt sắc lẹm,  cú vọ,  nhìn  soi mói vào cái chòi  bằng lá buông nhỏ xíu, nằm hiu quạnh bên đám  bắp già sắp vàng úa.  Nắng  và gió trải dài trên đụn cát đầy cỏ dại,  gai gốc và san  hô. Y tỏ  ra thất  vọng vì không thấy gì khả nghi. Y ra lệnh thuộc hạ bỏ  đi về hướng  làng Cà Ná. Họ ra tới lộ. Bắt đầu sắp xếp lại đội hình, di chuyển  hành quân.  Ho đi cách nhau khoảng  năm thước một quân nhân. Bên phải họ là đồng ruộng muối phẳng bằng, trải dài ngút ngàn về phía tây bắc xa tít,  tận núi rừng Quán Thẻ hiu quạnh, nằm sát liền dãy Trường Sơn trùng điệp. Bên trái là biển cả xanh biếc, sóng vỗ rào rào bất tận. Nguyên và anh Đá  mừng vì Quan Thủ Tạ  không làm khó dễ gì cả hai. Thực ra, họ là  dân quê  chất phát, chỉ biết  coi rẫy.
    
         5) THANH  TRỪNG   ĐẪM  MÁU
            
    Có thể nói lúc  bấy giờ dân làng TD và CN hầu hết đều theo VM. Theo  phong trào kháng chiến chống Pháp. Vì  nếu  họ không chịu theo VM, mà cứ  sinh sống tại một vùng thâm sơn, cùng cốc,  một nơi chó ăn đá, gà ăn muối như bài thơ của Chính Hữu được tuyên truyền lúc đó” “ Quê hương tôi, nước mặn đồng chua. Làng tôi nghèo, đất cày lên sỏi  đá,”thì liệu VM có để họ  yên không? Thế buộc phải  theo lực lượng kháng chiến trên núi,  “Trên đe dưói búa”, “Sống giữa  hai lằn đạn”. Tuy nhiện, cũng có một số không  chịu hợp tác với VM.  Những người trứơc đây có  làm việc  cho Tây hay những  ai đang  cộng tac với họ, đều lần lượt bị thanh trừng. Hôm đó, trời  khô ráo, oi ả như mọi ngày hè tại vùng Sở Muối này. Khoảng  6 giờ chiều, mặt trời vừa  lặn phía tây thì môt đoàn VM , Ban Ám Sát Xã Diêm Hải ( Xã bao gồm các  làng TD,CN, Sơn Hải) đã xuất hiện trong làng. Họ mặc đồ đen, tay cầm dao to và mang súng lục lẫn súng trường.
     Nhân dân thì thầm với nhau:
-Có vấn đề nghiêm trọng gì đây mà đoàn người mặt  mày lầm lì , dữ dằng, đang tiến vô xóm.
 Họ sợ hãi, lo lắng vô cùng.
 -Giết trưóc báo cáo sau  Làm tới đâu trình tâu tới đó.
  Người dân thường bảo nhau:
-Phương chăm của Ủy Ban Hành Động” là như thế.
   Lúc bấy giờ,. hoàng hôn đã  phủ khắp núi rừng, thôn xóm heo hút. Bóng tối bao phủ xuống vùng duyên hải rất nhanh.
      Nhà Thầy Đội Tấn ở xóm trên, gần ngôi đình làng, được một  Ban Ám Sát khác viếng thăm, chiếu cố tận tình. Về sau,  nghe bà con chứng kiến,  kẻ lại. Đội Tấn không chịu đi theo họ khi họ đề nghị:
  -Có  lệnh của Uỷ Ban Hành Động Xã Diêm Hải ,xin mời ông theo chúng tôi.
     Đội Tấn nhìn qua, đã  đoán biết VM về bắt mình. Đằng nào thì nguy hiểm cũng đang đe dọa mình. Ông nhất quyết không tuân lệnh. Ông chống cự lại mệnh lệnh của  ngưòi chỉ huy. Vì thế, ông bị  Ban Ám Sát  ra tay trừng trị  ngay tại nhà ông. Ông bị họ chém nát mặt và đâm vào  mình nhiều  nhát dao trí mạng.  Ông bị hành quyết tại ngay mái ấm của mình. Mặc cho vợ con  ông van xin, lạy lục, nài nĩ, khóc than thảm thiết, họ vẫn không tha mạng ông. Ông bị  kết án 
    -Việt gian, tay sai thực dân Pháp. Có tội với đồng bào,  với Tổ Quốc, với Kháng chiến. Tội tử hình. Tội ác không thể tha vì đã theo giặc.
      Cùng vào đêm hôm đó, xóm giữa và xóm dưới  của  làng  TD , một số ngưòi khác,  cũng bị bắt dẫn đi và bị chôn sống tại môt cụm rừng,  bên  hòn núi  cao chót  vót, phía sau làng . Thầy Đội Thơ và  bà vợ bé bị buộc tội” Bốc lột nhân  dân lao động”. Thầy Thơ trưóc có đi lính   cho Pháp lên chức Đội. Thầy đã giải ngũ lâu rồi. Giờ gia đình  sinh sống bằng nghề làm nường rẫy.  Bà vợ lớn,  cao, gầy, già, bệnh, bị mổ ruột già. Khúc ruột lòng thòng bên ngoài hong để có thể đi đại tiện. Bà được tha mạng  vì đau ốm triền miên và không trực tiếp quản lý khu rẫy trong rừng. Đám rẫy này rất  rộng,  do ông bà Thơ khai thác  để trồng  khoai, bắp, đậu và trông chờ nước mưa. Họ thường thuê mướn người làm công, cuốc đất  trồng hay thu hoạch hoa màu. Họ bị VM kết tội cướp mồ hôi, sức lao lực của đồng bào và lãnh án tử hình, bị chôn sống xuống hố đất. Nghe nói,  bà vợ được  đặc ăn cho phép ăn  miếng trầu cuối cùng theo cầu xin vì quá thèm, trước khi bị họ xô xuống lỗ và lấp đất lại. Ban Ám Sát đã thỏa mãn nguyện vọng này của phạm nhân, cũng giống như Tòa án cho tử tội  ăn bữa cuối cùng trước khi hành quyết. Thật là thê thảm! Thật là đau thương! Thật là đoạn trường, bi thiết!
             ”Oan này chỉ biết kêu trời! Nhưng xa”(Kiều)
          Còn có  môt nạn nhân nữa cũng bị kết tội đã làm việc  cho Tây. Thật là oan Ông Địa, oan tình Thị Kính. Thầy Ba sở Muối. Có lẽ thầy thứ ba hay tên Ba gì đó. Thầy cũng gốc  Huế như các người bị hại đã  kể  trên. Thầy làm thư ký cho Chủ Muối. Thầy trẻ lắm, khoảng chừng ba mươi . Thầy mới cưới vợ, người địa phương. Đó là môt giai nhân  tuyệt sắc.  Nàng mới đôi mươi, đẹp nhất  vùng quê hẻo lánh này. Nàng  dong dỏng cao, da trắng mịn màng. Mái tóc thề óng ả. Mặt trái soan, môi hồng tươi thắm như một nhà thơ ca tụng thục nữ:
             ” Anh gọi môi em là hoa đỏ,
               Đã nở trong lòng anh mỗi đêm”.
       Âu cũng là “Hồng nhan bạc phận”, “Thiên địa phong trần  Hồng nhan đa truân”. (ĐTC). Chàng thì khôi ngô, tuấn tú, hào hoa, phong nhã, hiền lành, lại có học thức, có nghề nghiệp chuyên môn vững chắc.”Lạ gì quốc sắc thiên tài gặp nhau” (Kiều).      Nào ngờ chồng bị giết môt cách oan ức, thê thảm.
           “Tai bay, họa gió bất kỳ,
           Tơ duyên đành phải chia ly muôn trùng” .
     Nàng góa chồng  lúc còn trẻ  măng.  Liên, tên góa phụ bất hạnh , giờ phải đi làm phu lục lộỉ cho Sở Muối để sinh  sống.  Cuộc đời thật trớ trêu, đau khổ. Bể khổ trầm luân bất tận. Nàng như là “Người Tiên bị đọa xuống trần, Bắt phong trần cũng phong trần như ai”
         Tiếp theo cuộc thảm sát đó, một số người đang làm việc cho chủ Pháp cũng bị bắt lên núi để tra  vấn. Đa số đươc tha  về, sau một thời gian  điều tra, cứu xét. Họ hứa trung thành và cộng tác với kháng chiến chống Pháp.  Họ vẫn  tiếp tục làm công chức cho Tây nhưng là cán bộ VM nằm vùng. Họ như điệp viên nhị trùng vậy. Sau này, Nguyên mới biết Ông Năm Tr. là trưỏng công an thôn TD, trong thời kỳ ám sát và bắt ngưòi nói trên . Tuy nhiên,  VM thấy ông  có tật thưòng uống rượu say sưa.  Khi Thần Lưu Linh  đã nhập thì lời tuôn ra vô tận“ Tửu nhập thì ngôn xuất”  “Vẫn cái tật ba  hoa” Cũng có khi quá chén thì ngủ vùi, chả biết trời trăng mây nước chi cả. Chính cái đêm Ban Ám Sát về thanh trừng môt số người nói trên,  Ông Năm  còn ngà ngà  say, chẳng nắm đưọc tình hình rõ ràng . Vì thế, sau đó không lâu, môt thanh niên lanh lợi khác tên Mai Ch.,  đã được  cấp thẩm quyền đề cử Trưởng ban C/A TD thay ông Năm. Ông Mai hay la cà lui tỗi nhà Ngoại Nguyên.  Chàng  thanh niên lạnh lùng,  có bàn tay sắt bọc nhung,  có dòng máu lạnh , đầu não Ban C/A vùng, lại  đa tình, tỏ ra ái mộ Dì Thạnh của Nguyên. Chàng ta cứ đeo mãi,  đeo riết, đeo không ngừng nghỉ người đẹp. Về  sau, hai ngưòi nên vợ, nên chồng và có môt con. Nhưng có sanh mà  vô dưỡng. Hai  người thương  tiếc đứa con vắng số vô cùng.
        Ba Nguyên bây giờ vẫn làm cu li Sở Muối và  làm rẫy những khi rỗi rảnh.  Nghề Muối thông thường có hai công việc  chính. Bốc muối về vựa và chuyển muối hột ra tàu ăn muối. Bốc muối khi muối đủ dày  vào mùa hạ và mùa tàu ăn muối, thương vào mùa đông có gió bấc kéo dài  đến tháng hai. Má cậu  buôn thúng, bán mẹt. Dì Tám giúp Ngoại bán quán và quảy gánh  bánh trái đi các nơi  có công nhân đang lao động để bán hàng rong.  Nói chung, cuộc sống trong gia đình thật vất vả. Hầu như cả làng TD –CN ai cũng gặp khó khăn về kinh tế cả. Số nhà khá giả cũng như các công chưc Sở Muối không nhiều. Đa phần lao động chân tay nặng nhọc để kiếm  sống. ”Tay làm hàm nhai, Tay quai miệng trể” . ”Có làm thì mới có ăn, Không dưng ai dễ đem phần đến cho”. Có thể nói, Dì Tám là cột trụ gia đình Ngoại. Lúc bấy giờ, Dì Tám có môt ngưòi tình.  Anh ta cũng cao ráo, sáng sủa, lại yêu thương Dì hết mực. Anh Dương, ý trung nhân của Dì, nhà  ở tận bìa rừng. Nghe nói anh  là cán bộ VM vì ai ai cũng phải theo họ. Hai người đã  đính hôn chỉ chờ ngày đám cưới .
              “Trai tài gái sắc thương  yêu ,
                Se duyên Tần Tấn mai chiều mà thôi”


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả