7) NHỮNG HOÀI NIỆM VỤN VẶT
Nguyên còn nhớ, vào một buổi sáng mùa thu ảm đạm. Bầu trời xám xịt. Gió heo mây se lạnh. VM tổ chức lễ truy điệu các đồng chí của họ đã hy sinh khi lực lượng quân sự Pháp truy lùng, càn quét vùng quê bên kia Sông Dinh. Có khoảng ba ngôi mộ giả được vun đắp sơ sài trước chùa PK. Họ tổ chức lễ đơn giản nhưng trang nghiêm. Một người trạc trung niên , có cẽ là lãnh đạo hay chỉ huy quân sự lên đọc tiểu sử và phong tặng vinh danh anh hùng cưu quốc, cũng như ca tụng công lao của các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, chống kẻ thù tàn bạo xăm lược quê hương. Sau khi quân Pháp tái chiếm Đông Dương và cai trị VN, thì chiến tranh hầu như lan rộng khắp nơi.Vùng quê PK thường hay bị Tây hành quân truy lùng. Một hôm, có dám lính Pháp phối hợp một toán Thượng chỉ đóng khố, mang súng đạp hàng rào tre, tiến thẳng vào nhà Nội. Những cảnh hãm hiếp phụ nữ một cách dã man thưòng xảy ra trong các cuộc hành quân bố ráp, truy lùng VM này. Tây trắng, Tây đen tức Maroc, lê dương, mặt đen thui như cột nhà cháy, hay xẻ mặt những đưòng chằng chịt, trông dễ sơ ỉvà bọn ăn theo Chàm hay Thượng,Chúng lợi dụng cướp của bắt ngươì, hiếp dâm phụ nữ. Thôi thì chúng tha hố gieo rắc đau khổ cho đám dân lành ở các vùng thôn quê hẻo 1anh. Cho nên hôm đó, Má câu lanh trí bôi lọ vào mặt, thoa dầu, đắp mền, rên hừ hừ. Trông bà thật thảm hại, như nàng lọ lem. Lúc đo,ù bà còn trẻ và trắng trẻo dẹp gái. Thật là miếng mồi ngon cho bọn thực dân háo sắc. Nhờ má cậu nói được tiếng Pháp, Tên SQ Tây hiểu bà bệnh. Y lấy thuốc cho uống và chỉ lục soát nhà cửa. Một tên Thượng, lòng thòng chiếc khố màu xám tro, bẩn thỉu, chụp lấy cái kính lão của ông NôẢi. Ông xin lại thì nó xô ông suýt ngã chúi và dọt lẹ ra cưả. Nhà nghèo không có vật gì quý giá để chúng cuớp doạt. Trước đó không lâu, Ba má cậu cũng ở Sông cạn làm rẫy trồng bông. Cậu còn nhớ ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngày VM cướp chính quyền từ tay quân Nhựt, dân thành phố làm một cuộc meeting tại sân vanả động Mỹ Đức PR. Các đoàn thể đông vô số tập trung trong Vận động trường dự lễ mừng độc lập . Họ hô to các khẩu hiệu vang cả môt góc trời. Sau đó, họ diễn hành, phô trương lưc lượng khắp phố phường. Những ngày tiếp theo, Nguyên còn thấy những tốp thanh niên kéo dài bất tận, từ TC về PR . Họ diễn hành trên con lộ phía trước nhà Ba Má Nguyên đang trọ. Họ ca hát những bài hùng tráng như Tiến Quân Ca. Những bản nhạc CM chống Pháp, vang vọng khắp đường cái quan lúc đó.
Vào khoảng đầu năm 1946 thì biến cố trọng đại dã xảy ra. Ngày rằm tháng hai âm lịch năm đó, Má cậu đi chợ Dinh.
“Đất bằng nổi sóng đùng đùng
Thực dân lại đến xăm lăng nước mình”
Thật vậy, máy bay Pháp oanh tạc một số đô thị lớn ở VN khi chúng đổ bộ tái chiếm ĐD. Khu chợ Dinh thành phố PR, sáng hôm đó bị phi cơ Pháp ném bom và bắn phá ác liệt. Nhiều người bị bom nổ banh xác. Đâu người lăn long lóc, tay, chân, xương thịt bay vung vãi nhiều nơi. Máu nhuộm khắp chợ Thịt da dính treo lơ lửng trên cành cây, mái chợ. Thật là khủng khiếp! Thật là tang thương, đau xót cho nhữỉng nạn nhân bị chết thảm hôm ấy. Cũng may, Má cậu đã rời chợ trước đó và đang trên đương gánh hàng về nhà ở Mỹ Đức. Bà Lê, Má cậu, đang vội vã quang gánh bên lề con đường Tháp Chàm PR, thì xe tăng địch đang rầm rộ lăn xích sắt từ TC xuống PR. Chúng bắn xối xả thị uy hai bên đường. Bà Lê kinh hãi, quăng quang gánh và lủi nhanh vào bụi gai chùm lé gần đó. Bà bình an, nhưng khắp người bị gai đâm trày xướt, máu me túm lum. Gai chùm lé rất độc. Vết thương un mũ, nhiễm trùng. Má cậu phải rửa thuốc tím và bôi pommade một thời gian mới lành hẳn. Trong thời gian đó cậu còn ở nhà Nôị. Ngày máy bay bắn phá, oanh kích PR, người dân thành phố bồng bế chạy loạn về các vùng thôn quê hẻo lánh rất đông. Nguyên không quên được hình ảnh một ông già bị chết thảm vì bom đạn địch. Ngươì thân chạy giặc, lánh nạn mà phải khiềng xác chết trên võng tòn teng dài dài. Thây ma chuyển theo cùng với người sống suốt ngày hôm đó vì không họ có thì giờ chôn cất. Mặt kẻ xấu số loang lổ những vết máu khô, thâm xì, lổ chổ trên má, trên trán, trên tóc. Đôi mắt khép kín như đang ngủ giấc ngàn thu. Quần áo còn be bét máu. Người chết còn lao đao. Người sống càng đau khổ.
“ Đoạn trường thay một mảnh đời
Thác còn lận đận với người bôn ba”
Chợ PR là mồ chôn tập thể của những con người bất hạnh. Ngày rằm tháng hai năm đó ”Bom nổ, đạn bay, thây người tan tác” là ngày Cầu Siêu tập thể hằng năm tại các chùa tháp, nhà thờ, trong nhiều năm sau này của tỉnh Ninh Thuận.
Trước cái ngày tang tóc đau thương đổ xuống VN và Thành phố nắng gió này là thời kỳ VN được độc lập. VM đã cướp chính quyền từ tay Phát Xít Nhật. Lúc Ông Hải và gia đình đang ngụ tại Mỹ Đức, ở nhà một người bạn, Ông Năm, Cha anh Hớn thì. quân Nhật đang đô hộ nước ta. Chúng bắt dân Việt phục dịch cho chúng đủ thứ. Chúng chèn ép, hà hiếp, làm tình, làm tội người dân trăm bề mà đau khổ tang tóc nhất là gây nên trận đói năm Ất Dậu, 1945 ở Miền Bắc, làm cho hơn hai triệu người bị chết thảm.
“ Năm Ất Dậu tháng ba còn nhớ mãi
Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương
Những thây ma thất thiểu đầy đường.
Rồi gục xuống không đứng lên vì đói...”
(Bàng Bá Lân)
Tại Phan Rang, Vùng Sông Cạn Mỹ Đức, quân Nhật cũng hà khắc bóc lột dân VN không kém. Ông Hải có thể bút đàm bằng chữ nho với viên SQ Nhật chỉ huy cánh quân đóng tại một đồn binh gần đó. Chữ Nhật và chữ Hán nhiều từ có nghĩa giống nhau dù khác về phát âm.Vì thê, hai người hiểu ý nhau qua chữ viết. Ông Hải chỉ biết lỏm bỏm vài tiếng Nhật, nhưng diễn ý qua bút đàm thì tên Nhật hiểu được những ước nguyện và thỉnh cầu của dân địa phương, nên chúng cũng nhẹ tay chút ít đối với những ép buộc yêu sách và đòi hỏi quá đáng. Cuộc sống của người dân nô lệ cứ tiếp tục trôi đi như bọt bèo trôi theo dòng nước. Lúc đó Ba Nguyên thuê rẫy trồng bông tại đây, Ông mướn một số thanh niên ngụ tại Phước Khánh qua cuốc đất, dọn cỏ, trồng trọt . Anh Quang đã bị bạn mình , anh Trung đứng phía trước, lât ngữa lưởi cuốc để đập vỡ tảng đất cục làm trọng thương. Anh ta vô ý bị bạn đụng lưỡi len vào đầu mình. Đáng lẽ anh phải tránh xa tầm len của bạn đứng phía trước mặt. Vết thương sâu, máu ra lênh láng. Quang bị ngất xỉu. Trong lúc đó thuốc men thiếu thốn. Ba cậu phải hái cỏ cứu từ vườn trầu nhà Bà Nộị, giã với muối hột đăp lên vết thương, rồi băng lại. Thế mà vết xẻ khép miệng lành dần. Cỏ cứu là môn thuốc Nam gia truyền, trị được nhiền bệnh như nấu chung với lá xả, lá ổi, lá khuynh diệp... có cho ít muối hột vào, thì nồi nước xông trị được bệnh cảm cúm. Riêng lá thuốc cứu giã nhỏ vời muối đắp lên vết thương rồi băng lại. Vét lở sẽ kéo da non và lành hẳn. Anh Quang lành bệnh có thể đi lao động lại bình thưòng. Mọi người ai cũng mừng rỡ.
Ba Má cậu cúng tạ một con dê trên khu đất trồng bông. Mọi người được dịp “Chén chú chén anh ,chén tôi chén bác. Rượu vào lời ra tiệc thật vui vầy” Nghề nông rất vất vả, nhọc nhằn, lại trông ngóng nước trời mà thu hoach chẳng được bao nhiêu.
Khi Quân Pháp trở lại xăm lăng VN, thì chiến tranh càng lúc càng ác liệt. Cuộc sống càng ngày càng khó khăn. Ba Má cậu tính về ở tạm nơi Quê Ngoại cậu Vùng duyên hải. Năm đó, Nguyên khoảng 6 tuổi. Cậu chào đời vào mùa nưóc lụt lớn năm Kỷ Mão ( 1939) . Bà Nội cậu nói, Không hiểu sao Ba làm khai sanh cho cậu sinh 12/10/1938. .Nhưng năm 1938, nhiều người bảo là năm Mậu Dần. Không rõ Ba cậu có nhằm không ? Hoặc lúc đó vẫn còn năm Kỷ Mão? Ba cậu từ Mỹ Đức sang nhà Nội điệu cầu về. Cậu không chịu theo cha vì lúc đó cậu đã yêu mến Ông Bà Nội và Cô Mười. Cậu ở đây lâu ngày và không muốn rời những người đã nuôi nấng, đùm bọc cậu. Cậu cũng không nở xa khu vườn xanh tươi có chim chóc ca vang vào những bình minh nắng ấm. Cậu không muốn rời bỏ những ngưòi, những cảnh thân thưong, quen thuộc, đã làm ấm áp tâm hồn cậu bấy lâu nay. Nhưng Ba cậu đã sử dụng võ lưc, bắt ép, áp đặt cậu phải về với gia đình. Ộng nổi gíận vì cậu không chịu đi theo mình. Ông bẻ cây đỗ rào ( cây giẹp) quất tui bụi vào mông cậu. Cậu vẫn không chịu nghe lời bố. Cậu lăn mình xuống đất. Cậu khóc lóc la to:
- Ba cho con ở với Nôi! Con không đi !Không đi! -
-Bướng này! Bướng này!
Ba quất lien tục. Roi này gẫy, Ông bẻ cây khác. Ông vừa lôi kéo , vưa quất vào người cậu. Khi bị lôi ra tới bờ sông, thĩ cậu đã mệt rã rời. Thân mình ê ẩm, mông đít sưng nhiều, tím bầm, rướm máu. Cậu buộc phải lê lếch theo Ba lội sông sang Mỹ Đức. Cậu vừa bước lê thê, léch thếch trên bãi cát nóng bỏng, vừa nghĩ đến người em gái nhỏ thua mình một tuỗi, Sự tuổi Canh Thìn, sanh năm 1940 . Sự da trắng nõn nà, cao ráo, xinh đẹp như má cậu. Sự gi6ng mẹ như đúc. Lúc Sự ở Thương Diêm với Ngoại và Dí thì Ba cậu vào đưa con về PK. Sự cũng không chịu đi và bị cha áp đặt, điệu về nhà Nội. Lúc đó, em buồn so, mặt mày ủ dột, bưóc lếch thếch từ ngoài đường lộ đầy đất bủn, hướng về cỗng nhà . Theo sau là Ba cậu, dáng đăm chiêu, cương quyết
Hai cha con im lặng cho đến khi họ bước lên thềm . Cậu vội chạy ra nắm lấy tay em . Sự gục đầu vào vai anh khóc nức nở. Số em thật vắng phần. Có phải buồn phiền vì lạ cảnh, lạ ngưòi hay không mà nó ngã bệnh. Thuốc men thiếu thôn . Em lìa đời sau đó. Mộ em nằm bơ vơ, hiu quạnh tại nghĩa trang PK.
Trở lại việc ông Hải bắt cậu về Mỹ Đức. Khi về đến nhà trọ, má cậu nhìn con trai đầu lòng, mắt lệ rưng rưng . Bà ôm chầm con, vuốt ve, ậu yếm, vỗ về an uỉ đủ thứ. Bà mài nghệ xức những vết thưong rưóm máu trên mình con. Bà không hề trách cứ chồng chút nào. Bà chỉ biết thương con thôi. Cậu thấy khiếp sợ Ba từ đó. Ông thương con, nhưng lại áp dụng biện pháp giáo dục:
”Thưong cho roi cho vọt, Ghét cho ngọt cho ngào”
”Dạy con phải đánh bằng roi.
Làm con phải biết vâng lời mẹ cha”.
Những trận đòn khủng khiếp đó cứ thỉnh thoảng xuất hiện trong giấc mơ của cậu.
Cứ mỗi lần nghĩ đến trận đòn đó, cậu còn khiếp hãi Ba cậu hơn cả nỗi sợ đến thốn dậu khi bị một anh lính hăm dọa bắn bỏ trước đó không lâu. Một hôm, Tây hành quân truy lùng Quê Nội. Bữa đó, Quân Pháp dẫn lính về bao vây làng. Sau khi lùng sục đã đời, chúng ngồi nghỉ dưói cây me cổ thụ cao ngất nghểu, cạnh ngôi nhà làng. Lính đông đảo, kẻ nằm, người dựa lưng vào tường hay gốc me. Súng ống đủ loại, nào súng trường, súng trung liên bar, súng tiểu liên để la liệt dưói đất, Họ ăn uống, cười nói ồn ào. Dân làng ít ai dám bén mảng đến gần, ngoại trừ các chú nhóc con tò mò, không sợ trời, trăng, mây, nước gì cả. Trong đó có Nguyên. La cà chán che, cậu thấy đói về nhà Nội lục cơm ngụi xơi với mắm nêm ngon lành. Nhưng cậu lại nổi tính hiếu kỳ. Nguyên lang thang xuống xóm giữa rong chơi. Cậu đang băng qua mấy ngôi mộ trưóc nhà Thím Năm, thì chợt có tiếng gọi sau lưng:-
-Này cậu bé! Lại đây bảo!
Cậu kinh ngạc quay đầu lại, thì thấy một chú lính đang ngồi ẩn mình dưới cây keo gần nghĩa trang bé nhỏ, chỉ lác đác dăm bảy ngôi mộ. Ông ta tay cầm súng trưòng. Trên đầu treo tòn teng một bị đạn, buộc vào nhánh cây. Y bảo cậu vào làng xin dùm một gáo nước uống. Vốn hay gíup đỡ người khác khi có yêu cầu, cậu vội vã chạy vào nhà dân gần đó . Cậu đem ra cho y một gáo to nước uống. Uống xong, y không có lời cảm ơn mà trừng mắt quát lớn:
-Này hãy đứng yên! Ta muốn giết tên liên lạc cho VM.
Y lên đạn răn rắc, như sắp bắn cậu thật. Cậu kinh hãi, ba chân, bốn cẳng, sãi nhanh ra khỏi đám mả. Chạy bá thở cào cào. Chạy như bị ma rượt. Chạy trối chềt trên con đường đất bủn. Chạy một mạch, không dám nhìn lại ngưòi lính phục kích trong bụi cây. Chạy một hơi tới nhà. Về sau, cậu mới biết là y dọa cậu. Y đùa thôi, Nếu anh ta muốn bắn cậu, thì làm sao cậu chạy thoát được vì tầm đạn quá gần. Cậu có tội gì mà bị anh ta giêt? Chẳng qua cậu nhát như thỏ đế đó thôi. Chỉ nghe đe dọa là dọt lẹ như tên. Nguyên thật nhát gan.
Những kỷ niệm vui buồn trong thời gian ở Sông Cạn không nhiều lắm. Chúng in lờ mờ trong vùng trời ký ức tuổi thơ của Nguyên. Cậu còn nhớ, một hôm giặc Pháp càn quét tảo thanh vùng quê dọc theo bờ Sông Dinh ở khu Mỹ Đức. Bọn Lê Dương đã hiếp dâm một thiếu nữ rất xinh đẹp khoảng 20 tuổi . Chúng thi nhau cưỡng bức cô gái đáng thương trong ngồi nhà nhỏ, trước sự chứng kiến của người thân đành bất lực vì bị chúng trói ké hết. Chúng buộc tội họ là “Bị tình nghi liên lạc với VM”. Không biết bao thằng thay phiên hãm hiếp nàng. Tên Maroc đen bóng, mặt rạch trông dễ sợ, chỉ còn ôm lấy cái xác không hồn của nạn nhân.
“Chiến tranh tội ác chiến tranh,
Con người nào khác yêu tinh thú rừng”.
Sau đó, gia đình Nguyên đã dời về Quê Ngoại.
II) QUÊ NGOẠI
1) CÀ NÀ- THƯƠNG DIÊM
Ông Bà Ngoại gốc Quảng Nam, Quận Điện Bàn, Ga Kỳ Lam. Các người di dân lập nghiệp tại Thương Diêm lâu rồi. Thương Diêm-Sở Muối Cà Ná( La Saline de Ca Na) do người Pháp thành lập đã lâu đời. Trên Quốc lộ 1, từ Phan Rang vào Phan Thiết-Sài Gòn, bên trái, rẽ qua Cầu Hoằng vào Cà Ná -Thương Diêm, du khách trông thấy tấm bảng chữ Pháp ghi trên. Thôn làng duyên hải này nằm cách “Tỉnh lỵ hầu như nóng bốn mùa” khoảng 30 km đường bộ. Sở Muối rộng bao la, bát ngát. Cánh đồng ruộng muối phẳng bằng, trải ngút ngàn từ phía trưóc con đê cuối xóm, gần Nhà Máy Sở Muối, đến tận Cầu Hoằng, sát Quốc Lộ 1 và cánh rừng chồi trùng điệp, cuốn hút vào núi sâu chập chùng. Đó là bề dài. Còn bề ngang cánh đồng muối trải rộng, từ con lộ nằm sát bờ đê, chạy song song với mường nước, thường khô cạn trước làng Thương Diêm, đến kề dãy Gò cao, cây cỏ lô nhô . Gò này dài và rộng như một dãy đồi nằm thiếp, mình nghe sóng biển vỗ rì rào, bất tận, suốt ngày đêm. Gò là vùng giang sơn hỗn tạp của đá sỏi , san hô , vỏ ốc, trai, sò, hến, đất cát . Là thế giới của bồn bồn và gai gốc đủ loại, sinh sôi nảy nở. Gò là láng giềng gắn bó trăm năm với bãi biển lởm chởm đá sạn, cát bùn xám xịt. Cây cối trên vùng cao này là thế giới của các loài hải âu làm tổ, đẻ trứng. Xa xa, là phi trường dã chiến của chủ Sở muối, nằm sát bãi biển và chiếc cầu sắt nối từ con lộ ra một quãng xa ngoài biển . Chiếc Cầu Tàu này dùng cho xe rùa vận chuyển những toa muối hột, đem từ vựa ra đổ vào sà lang đậu ngoài xa, sát phía cuối chiếc cầu. Từ đây, chiếc chaloup kéo sà lang khẳm muối ra chiếc tàu thủy “Ăn muối” đậu ngoài biển. Rồi muối được công nhân xúc vào chiếc giỏ mây khổng lồ. Tàu thủy dùng cần trục chuyển gịỏ đầy muối lên tàu và trút xuống hầm sâu hun hút, nằm dưới đáy của con kình ngư . Công việc chuyển muối thật là nặng nề vất vả, từ khâu lấy muối nơi vựa cao chất ngất, sát núi ở cuối làng, cho đến lúc đem ra tàu thủy đậu ngoài phía xa.
”Vựa ngất cao, muối cứng dày khó cuốc.
Người dân phu, hì hục xúc đầy toa.
Đầu máy nổ rền, đoàn rùa nghiến sắt.
Những chiếc sà lang rạo rực trông chờ.
Muối chảy rào rào, ca nô xình xịch.
Thuyền khẳm lắc lư, sóng lướt nặng nề.
Chiếc cần cẩu, lấy đà căng móc xích .
Điều khiển giỏ mây chẳng lệch đường đi”
Trước thôn làng là con đường bằng phẳng trải đá và cát. Con đường nối từ Sở muối đến Cầu Hoằng, trước khi chạy ra Quốc Lộ 1, lên ga Cà Ná hay rẽ phải về hướng Phan Rang. Con sông Cà Ná, một con sông bé nhỏ và ngắn ngủi, chảy tư vùng rừng sâu, núi thẳm, phía trên cao của Cầu Hoằng. Con sông nối dài từ vùng núi xa ngút ngàn, đến biển Cà Ná. Con sông chảy dọc theo con đê dài từ phía Cầu Hoằng, tiến về phía Cà Nà, nằm sát biển cả mênh mông, bát ngát. Một thôn làng duyên hải trù phú với rừng dừa xanh biếc, lấp lánh nắng vàng và hứng gió trùng dương, rì rào, vi vu, bất tận.
”Đây Cà Ná! Rừng dừa lộng gió!
Biển xanh rờn nuôi đồng muối Thương Diêm.
Chiếc Cầu Tàu ngày đêm sóng vỗ
Vựa ngất cao nghe nhung nhớ chuyển mình”
“Thương Diêm rừng núi chập chùng
Thôn làng heo hut, muối đồng bao la.
Rì rào sóng vỗ ngoài xa.
Trùng dương lộng gió, sương mờ chiều buông.”
2) GIA ĐÌNH NGOẠI
Ngôi nhà Ngoại ở giữa xóm TD. Khu nhà rộng rãi. Nhà tranh, vách đất đơn sơ, nhưng thềm nhà được tráng xi măng. Quanh nhà có trồng cây ăn quả. Cạnh nhà có cây duối sum sê, thường ra trái chín đỏ, ngọt lịm.
“Quanh nhà rộng, có trồng cây ăn trái
Đu đủ, mãng cầu rải rác đâm bông”.
Bồ đoàn thê tử của Ông Hải ở đây. Lúc bấy giờ, Ba Nguyên đi làm phu muối. Má cậu buôn gánh, bán bưng. Gia đình Ba Má ở chung nhà Ngoại. Ngoại có` hai bà Dì. Bà Dì , em kế má, là Dì Tám. Nghe nói, Ngoại cũng có con trai. Nhưng”Hữu sanh vô dưỡng”
Chỉ còn hai cô gái. Má cậu trước kia nổi tiếng là thiếu nữ xinh đẹp tại vùng quê hương nắng gíó này. Dì Tám cũng là một thôn nữ có nhan sắc, không thua gì chị mình. Cậu nghe Ngoại và Dì kể lại, thì Má cậu, Bà Lê, là cô gái duyên dáng, hoa khôi tại địa phương. Bà học đến lớp Ba là hết cở thợ mộc tại nơi” Khỉ ho, cò gáy” này. Đây là lớp cao nhất tại nơi “Chó ăn đá , gà ăn muối ”, xa xôi, hẻo lánh, vùng quê duyên hải nắng gió, quạnh hiu quanh năm suốt tháng. Ngôi trường sơ học do chủ ngưới Pháp lập ra ở đây chỉ có thế. Trường học dành cho con em các công nhân và viên chưc Sở Muối. Dạy bằng chữ Việt và Pháp. Má cậu da trắng, tóc dài óng ả. Môi đỏ tự nhiên. Mắt đen láy, thông minh. Má giống Ông Ngoai. Ông khôi ngô, tuấn tú thời trai trẻ. Dì Tám cũng đẹp.
“Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”,
“Xuân lan, thu cúc, mặn mà cả hai” (Kiều).
Dì trông mát da thịt hơn, rắn chắc hơn. Mặt tròn trịa “khuôn trăng đầy đặn”. Cười có duyên. Má lúm đồng tiền. Đôi môi tươi thắm.
“Hải đường mơn mởn đào tơ,
Hoa hồng, hoa cúc, hai cô diễm kiều.” ( Nhại theo Kiều).
Dì Thạnh là Dì bà con. Dì theo Ông Bà Ngoại vào TD từ xứ Quảng Đà. Dì nhỏ hơn Dì Tám vài tuổi. Dì không đẹp bằng hai ngưởi chị họ. Nhưng dì cũng dễ coi. Thân hình mảnh mai. Dì siêng năng, nhanh nhẹn. Dì lao động dẻo dai, cẫn cù. Tánh tình chân chất, hiền thục, dễ bảo. Vì thế, trong gia đình, ai cũng thương Dì.
3) CÔ LÊ CHỐNG TÊN DU ĐÃNG
Theo lời kể của Ngoại, Má Nguyên là một phụ nữ can cường, bất khuất và kiên trinh hết mực. Bà không phải tay vừa, dễ cho người khác động đến, chèn ép hay hiếp đáp. Lúc còn trẻ, một hôm, Lê đi làm ở Bến Tàu về. Mặt trời đã ngã hướng tây. Con đường từ Cầu Tàu tới thôn Thương Diêm khá xa. Lê đi bộ qua môt đoạn đường, dọc theo con mương, chạy dài từ Nhà Máy Sở Muối, đến đầu làng. Mương nước thường đục ngầu khi thủy triều vừa rút xuống. Rong, rêu, cỏ dại mọc tùm lum dưới lòng mương. Cá chốt, cá căn, theo nước đi xuống dần về phía cửa biển. Con đê làng chạy giữa mương và đồng ruộng muối khá cao. Cỏ mọc xanh rì về mùa mưa và vàng úa, héo rũ về mùa nắng. Cây cối khắp nơi hầu như xơ xác, tiêu điều vì nước mặn tại xứ “Khỉ ho cò gáy” này. Phía sau làng thì núi cao chớn chở. Rừng trải dài bao la, bát ngát. Trước mặt làng là đồng muối trải rộng dưới ánh nắng thoi thóp của buổi hoàng hôn hoang vắng. Gió biển lồng lộng thổi về mát rượi. Con đường đê vắng tanh. Lê lúc ấy vừa tuổi tròn trăng, song đã trổ mã. Lê xinh đẹp rực rỡ khiến nhiều thanh niên trong làng say mê, theo tán tỉnh. Trong đám ngưỡi si nàng có chàng Long. Y là một thanh niên cao to, da ngăm ngăm . Một kẻ lỗ mãng, bậm trợn. Một tên du đãng khét tiếng, thường theo chọc nàng, nhưng bị giai nhân từ chối. Người đẹp sợ gặp kẻ du côn, hung dữ, thì đời hoa sẽ tan tác khổ đau. cất đầu không nổi.
Long bực tức vì có kẻ dám chê mình. Y ức lắm! Y theo dõi, dò la nhiều lần, biết nàng thưòng một mình đi làm về trên con đường vắng vẻ, ít người qua lại này. Y mới phục kích trong bụi bồn bồn rậm rạp, dưới con đê, cạnh dòng nước đục ngầu. Vưà thấy bóng nàng đến gần, y mừng rỡ, vồ ngay lấy người đẹp. Y quen tánh ngang tàng, du côn, liều lĩnh, “Coi trời bằng cái vung”. Y sỗ sàng ôm lấy giai nhân và hôn tới tấp trên mặt, trên ngực nàng. Nàng bất ngờ, cố vùng vẫy dữ dội. Dùng hết sức liễu yếu, đào tơ xô hắn ra. Song hai cánh tay y gân guốt, rắn chắc như gọng kềm, cứ ôm cứng lấy nàng. Hắn muốn làm ẩu, sơ mó tùm lum. Nàng tức giận, tát vào mặt y. Long chưa hề bị phái nữ dám chống cự lại võ lực của y, một kẻ gan lì, bặm trợn. Tại làng này, hầu như ai cũng nể sợ tánh hung hăng, tàn nhẫn của y. Cho nên y nổi nóng, tát túi bụi vào mặt, vào đầu nàng. Y đấm đá, vùi liễu dập hoa. Y tính trừng trị kẻ dám chống lại y cho bỏ ghét, rồi sẽ chạy thoát phi tang, như y đã quen thói hà hiếp những phụ nữ hiền lành, ngoan ngoãn trước đây.Y nổi danh là một kẻ phong tình,ưa thích trêu hoa, ghẹo nguyệt. Một kẻ phong lưu, đàn điếm. Một gã ăn chơi, thich bẻ hoa , cợt nhã với gái tơ. Một tên côn đồ lưu manh . Ai ai cũng sợ. cũng tránh né ”Ông Vua cũng thua thằng khùng”
Đánh đã tay, y vùng ra, tính bỏ chạy, thoát thân, hòng tránh phiền phức vì tội hành hung phụ nữ. Tuy nhiên, “Đi đêm có ngày gặp ma” . Lần này, y bị Lê chụp được chiếc áo thun bên trong áo sơ mi đã bị y xé rách, để tiện bề đào tẩu. Lê vừa nắm chặt chiếc áo thun của tên hung bạo, vừa la to:
- Cứu tôi! Cứu tôi! Du đãng!
Thật may mắn cho người đẹp! Thật vậy, lúc ấy, có người đi gần đó nghe được tiếng kêu cứu của nạn nhân, vội chạy lại. Thế là y bị bắt giải về Trụ sở Làng. Báo hại mẹ y, phải năn nĩ lạy lục chính quyền địa phương tha mạng cho đứa con trai bất trị, lỗ mãng của bà. Lê bị y đánh mặt mày sưng húp. Nhiều nơi trên cơ thể bị bầm tím. Mẹ Long chịu tiền cơm thuốc và đích thân săn sóc nạn nhân cho đến khi lành bệnh. Riêng kẻ vũ phu, du côn, thì bị Làng phạt làm cỏ vê một tuần, sau khi y làm tờ cam kết không tái phạm. Nhờ bà mẹ khóc lóc, nài nĩ chính quyền, không thì y có thể bị tù mục xương vì tội chọc ghẹo và đả thương phụ nữ
4) NÊN DUYÊN TẤN TẦN- SINH HOẠT GIA ĐÌNH
Cũng theo lời Ngoại và các Di kể lại “Tình sử” trai PK gái TD. Ông Hải vào Sở Muối xin làm công nhân để kiếm sống vì quê Ông khó khăn về công ăn việc làm . Lúc đó, Ôâng Hải, Ba Nguyên, ăn cơm tháng tại nhà Lê. trong khi làm phu muối. Hai bên tâm đầu, ý hợp, và nên duyên vợ chồng, dù anh hùng hơn thuyền quyên một giáp. Cả hai đều tuổi Hợi. Hợi lớn và Hợõi nhỏ . “Hai bên ý hợp tâm đầu Khi thân nào chẳng lọ cầu mới thân”(Kiều).
“Trai Phước Khánh , gái Thương Diêm ,
Ba sinh hương lửa phỉ nguyền gặp nhau.
Hai làng nối môt nhịp cầu,
Đi về Nội Ngoại đã hầu thường xuyên”.
Ông Ngoại Nguyên, càng về già thì chứng bệnh thần kinh càng nặng. Ông khùng khình, hay đi lang thang khắp nơi. Hễ gặp gì ngoài đường, Ông cũng nhặt, nhất là chai không hay hộp loong đủ loại. Ông đem những thứ đó chất đầy trên một kệ cao, để ở một góc sân. Ông thường lẩm nhẩm một mình. Nguyên không rõ ông muốn nói gì vì lúc đó cậu còn bé lắm! Bà Ngoại bán quán và nấu cơm tháng cho công nhân Sở Muối có nhu cầu ăn hàng quán. Dì Tám và Dì Thạnh cũng đi làm muối giống Ba Nguyên .Những khi thất nghiệp hay rổi việc thì mọi người trong nhà khai thác rẫy trong rừng hay trên Gò cao, nằm cạnh bờ biển và gần cánh đồng muối. Cậu thường đi theo phụ giúp Dì làm nương rẫy. Rẫy thường trồng ngô , khoai lang, khoai mì, đậu nhiều loại. Rẫy cứ trông cậy vào nước trời. ”Nước mưa ít tơi nơi này Làm nông trông ngóng mãi ngày trời mưa”.
“ Dì cháu mình làm nương bên đồng muối
Nơi gò cao đất sỏi trộn san hô
Thời tiết bốn mùa, nước mưa ít tới.
Khoai vẫn ra dây đợi bắp trổ cờ .”
Cậu cũng thường giúp Ngoại, ghi chép vào sổ những khách hàng hay mua chịu. Chờ đến phơi lương, họ mới chịu trả nợ quán. Lúc đó, nhàù dân chưa có điện, chỉ thắp đèn dầu. Muỗi ở đây lại nhiều. Cứ chiều tối là chúng ồ ạt bay đến kêu vo ve. Dì un lá “sầu đâu” (Hay lá “sầu đông”, người Miền Nam gọi, hay lá” xoan” người Bắc đặt tên cho lá cây này) để đuổi muỗi bay đi.
“ Người bán quán, con vỡ lòng sổ sách
Ngoại nhớ thật tài, một khách không quên
Cứ chiều tối, khi đèn dầu sắp thắp
Bày muỗi vo ve, trổi nhạc khắp thềm”
ooo
Lá “sầu đâu “ Dì đem về un khói
Mùi hăng hăng, ngan ngát muỗi tan hàng
Miền duyên hải, gió trùng dương mát rợi
Bầu trời đầy sao sáng mãi thâu đêm”.
Có lần đám ngô trước nhà sai quả, no tròn, sắp già, chưa thu hoach được. Trời hạn hán . Đám ngô héo úa sắp chết khô.Vì vậy, cả nhà phải gánh nước tưới để cứu nguy. .Cậu múc nước cho các Dì gánh muốn rã tay.
”Con còn nhớ trước sân nhà khô hạn
Mấy hàng ngô bụ bẫm quả no tròn.
Thân ủ rũ héo hon dường chết đứng
Khiến cả nhà gánh nướ những đêm trăng”
Cứ mỗi lần “Mùa tàu ăn muối’ thường vào mùa gió bấc, muà đông. Trời thật lạnh. Cái lạnh buớt xương da ở miền núi. Nhưng ai ai cũng vui vẻ đi làm vì có tiền rũng rĩnh trong túi, sau nhiều ngày thất nghiệp chờ đợi. Lúc đó, Dì Tám thường gánh hàng xuống Bến Tàu bán cho công nhân và Má cậu hay lân la trên Tàu thủy để đổi hàng lấy thực phẩm của thủy thủ nước ngoài, như bánh mì khô, cá thịt hộp, thuốc la, rượu...
”Mùa Tàu Ăn Muối”, cả làng nô nức
Gió bấc vi vu lạnh buốt da người.
Đôi quang gánh trĩu vai Dì kiễu kịt
Con đường quê cỏ ướt đẫm sương mai”
Kỷ niệm cậu nhớ mãi là có một lần đám bắp dì trồng trên gò cao đã già Những trái ngô mập ú bắt đầu vàng bao, sắp thu hoạch, nằm phơi mình dưới ánh nắng rực rỡ của vùng duyên hải. Xa tít ngoài kia là biển xanh bát ngát. Sóng vỗ rì rào bất tận vào bãi cát lởm chởm san hô. Má cậú dựng cái chòi sát ranh ngôi rẫy của anh Đá. Đây là chỗ trú mưa nắng, nơi ăn ở đêm ngày của cậu trong thời gian cậu coi giữ rẫy bắp, chờ thu hoạch. Anh Đá , một thanh niên cao to, da ngăm đen, tóc vàng hoe. Anh ở Cà Ná nhưng ra làm rẫy ngoài Thương Diêm . Anh gốc nông dân, cần cù siêng năng và chất phác. Anh giỏi tay nghề đánh cá và chài lưới. Anh lớn hơn Nguyên khoảng mười tuổi. Anh cũng trú tạm trong một cái chòi tranh, gần giang sơn của cậu. Hôm đó, cậu mãi say mê đọc truyện “Con Thần Hồ” Của Tchya , do Dì Tám mượn của anh Giao, bạn Dì. Câu chuyện đường rừng, pha màu ma quái và huyền hoặc rất lôi cuốn hấp dẫn. Cậu quên nhiệm vụ chính là coi chừng rẫy bắp. Nhất là khu giáp bãi cát, dưới thung lũng, chạy dài thoai thoải ra biển . Cả vùng này lác đác cỏ vàng úa vì nước mặn và khí hậu khắt nghiệt, khô hạn hầu như quanh năm, suốt tháng. Không ngờ một đám trẻ trạc tuổi Nguyên hay nhỉnh hơn chút ít, đang bẻ trộm bắp. Tiếng lá ngô sột soạt. Tiếng bước chân lào xào, soàng soạt, thình thịch. Tiếng cười khúc khích, khoái chí của con gái, vang vọng từ phía cuối rẫy, cạnh bãi biển TD.
Hốt hoảng , Nguyên quăng sách, chạy vội ra phía sau rẫy, hướng về nơi lao xao tiếng người. Hỡi ôi! Quân trộm bắp! Quân đạo tặc! Một bày thiếu niên, vừa nữ, vưà nam, ở Xóm Cầu Tàu xa tít dưói kia, đang hối hả bẻ trộm ngô. Toàn là những người quen biết. Toàn là khách hàng đến mua kẹo, bánh, thực phẩm tại quán của Ngoại hằng ngày. Hôm nay chúng đi Cà Ná về ngang qua rẫy bắp, đầy ắp những quả bụ bẫm, no tròn, vưà già đủ để “dớt” trộm. Lại không thấy ai trông chừng rẫy. Chúng tưởng bở, ngon lành, thi nhau ào vô hái trộm. Kẻ hái, người ôm bắp, chuyển ra đưòng cái, băng qua bãi biển. Nguyên bắt quả tang. Nào thằng Phụng, con Anh, con Bảy...Trên dưới chục đứa, đang “đánh nhanh, đánh mạnh, đánh lẹ”. Bọn chúng trông thấy Nguyên xuất hiện, lồ lộ vẻ mặt vừa kinh ngạc, vừa tức giận, song chúng phớt tỉnh Ăng Lê, làm như rẫy bắp là cuả chúng. Một vài tên còn tiếc rẻ vội vã chạy lên ôm hết số bắp đã bẻ bỏ trên cỏ, chưa kịp chuyển xuống dưới . Lực lượng hắc đạo đông quá cỡ thợ mộc. Nhiều thằng đô con, gồ ghề. Dân biển mà! Nguyên cô thế như trứng chọi đá. Cậu lại hiền khô và tánh nhút nhát. ”Một sự nhịn, chín sư lành”, như Má cậu thường dạy cậu. Cậu đành đưa mắt ngơ ngác, bối rôi, đầy kinh ngạc, e dè, nhìn đám lâu la, cưóp cạn, chuyển hết bắp, rồi êm ả rút lui về hang ổ của chúng. Khu Xóm nhỏ thấp thoáng xa xa, thiếp mình bên Hồ chứa chiếc chaloup và những chiếc sà lan to kềnh, nằm chờ “Mùa Tàu Ăn Muối”. Lác đác những mái nhà tranh, vài cây dừa nằm bơ vơ, hiu quạnh bên Cầu Tàu. Lúc nào cũng nghe tiếng sóng vỗ rì rào, rào rạt, ầm ầm ùa vào bờ đá lởm chởm hay chân cầu. Đại dương bát ngát, mênh mông, lộng gió vi vu, nghe như tiếng gió hú đâu đây, vào những đêm mưa rơi dai dẳng tại vùng duyên hải đìu hiu quạnh quẽ này.
Cuối cùng, đám hắc đạo Xóm Cầu Tàu dọt rất le. Chúng biến hết rồi! Quân ăn cướp! Nguyên buồn ba lủi thủi quay về chòi ngã phich xuống chiếc chiếu. Mặt mày xụi lơ, buồn thúi ruột. Số bắp bị mất quá lớn. Tiếc quá! Anh Đá hôm nay lại vắng mặt!Nếu có anh ở đây thì những tên ăn trộm nhóc con kia khó lòng lấy bắp đi thản nhiên như thế. Cậu vừa tức, vừa xót của, lại sợ Má, Dì la mắng. Cậu quá yếu , không tỏ một phản ứng nhỏ nào với gian nhân. Sau đó, cậu về nhà báo cáo lại gia đình về việc này. Bà Ngoại có xuống Cầu Tàu mắng vốn với những người có con em trộm bắp. Nhưng rồi cũng huề cả làng. Làm gì nhau bây giờ? Đền bù ư? Ngô cũng đã ăn rồi. Đã thành phân bón đất cát rồi. Khiếu nại với ai đây ? Đói khổ quá! Trẻ con liều mạng kiếm chác là việc thường xảy ra trong cái xã hội, đa phần là dân ngu, khu đen, nghèo khổ, chân lắm, tay bùn. “Bần cùng sinh đạo tặc”. .Nguyện đã coi giữ đám rẫy những khi bắp già, chờ vàng bao là bẻ. Trông chừng những luống khoai lang, khoai mì, đậu xanh, đâu ván, những khi sắp thu hoạch.
”Nếu không trông ngó rẫy vườn
Những tên hắc đạo dở tuồng chỉa chôm.”
Trên Gò cao hóng gió trùng dương, giữa khu rẫy bạt ngàn ngô sắn, vào những đêm trăng vằng vặc, Đa và Nguyên thưòng ngồi bên đống lửa, cạnh chòi. Cậu nghe anh kể chuyện đủ thứ. Sau khi cơm chiều xong, hai người trò chuyện vui vẻ dưới ánh trăng sáng rỡ như ban ngày. Ngọn lửa cháy bập bùng, ấm áp reo vui phầng phật, nổ lách tách khi gió phe phẩy mơn man. Đêm xuống nhanh. Không khí mát rượi. Anh Đá tuy học không cao, nhưng lại nhớ đủ chuyện trên đời. Anh kể liên tu bất tận. Chuyện nọ tiếp chuyện kia. Từ Tây Du Ký, Tề Thiên Đại Thánh, đến Tiết Nhơn Quý Chinh Đông, Tiết Đinh San Chinh Tây, Thuyết Đường , Phản Đường ,Tàn Đường, Phong Kiếm Xuân Thu , Xuân Thu Oanh Liệt, Phong Thần Diễn Nghĩa ... Những nhân vât lừng danh đặc biệt của Tàu anh nhớ làu làu như Tôn Tẩn, Bàng Quyên, Trình Giảo Kim, Đậu Nhứt Hổ, Đệ nhất nhân có tài độn thổ. Nào Tống Thái Tổ /Triệu Khuông Dẫn, Trịnh Ân, Đào Tam Xuân , Hàn Tố Mai , Hàn Phụng...Thôi thì
“Bao nhiêu tích cũ, chuyện xưa
Những đêm trăng sáng tha hồ cậu nghe”.
Nguyên phục anh Đá vô cùng. Một đại ca có trí nhớ tuyệt vời. Đáng nể ! Đáng nể!
Một buổi sáng, mặt trời vừa nhô lên phía đông và tỏa những tia nắng hồng âm áp xuống đồng muối, trải dài bên cạnh Gò cao, bỗng xuất hiện một đám lính tràn qua đám rẫy của hai người. Thì ra Thủ Tạ, Quan Quản, Đồn Trưởng Đồn Cửu Thân, đang dẫn binh đi hành quân, truy lùng VM. Nghe nói, Quan Thủ Tạ gốc Nại. Y to cao, mặt có thẹo dài gần mắt. Thiên hạ đồn rằng VM định ám sát y tại chợ Dư Khánh. Nhưng vết chém bị trượt, không lấy mạng y đưọc, chỉ để lại vết thẹo trên mặt. Y thật may mắn. Y có giọng rền vang . Tiếng nói sang sảng . Gương mặt nghiêm nghị, đanh thép, lạnh lùng, bặm trợn, nhiều mưu trí, dù học hành không cao, chỉ biết tiềng Pháp chút ít.
Y không phải tay hiền. Ai thấy y , đối diện với y, đều tỏ ra khúm núm, khiếp sợ. Dưới bọn Tây thì y là xếp sòng tại vùng “Đèo heo hút gió “này. Y là luật pháp. Y là quan tòa. Y có quyền bắt giam, bỏ tù hay tha mạng bất cứ người dân nào cư ngụ tại đây. Chỉ cần y buộc tội “ VM’ thì cuộc đời coi như bế mạc. Sáng nay, Quan đeo súng lục rất oai vệ. Quan khệnh khạng đi giữa hàng quân. Lính bố ráp khoảng một trung đội, dàn hàng ngang băng qua Gò cao, lục soát, truy nã những du kích quân ẩn nấp. Vũ khí gòm một khẩu trung liên Bar, một súng máy. Còn lại là súng trường cuả Pháp. Y dừng lại bên chòi, gọi anh Đá và Nguyên ra thẩm vấn. Giọng y ôn tồn nhưng có lúc ồ ồ, rền vang như sấm khi y nghi ngờ, hạch họe, vặn hỏi hai Hiệp Sĩ coi rẫy.Y cầm cây baton chỉ mặt anh Đá:
” Mày làm gì ở đây?”. Anh khúm núm tỏ ra sơ hãi hấp tấp trả lời:
-Dạ bảm Quan Lớn! Con coi rẫy khoai và bắp ạ!.
-Mày gốc ở dâu? Thương Diêm hay Cà Ná?
-Dạ thưa Quan ! Con ở Cà Ná.
Quay sang Nguyên, Y hỏi , dù câụ mới khoảng 10,11 tuổi:
-Thằng nhỏ này! Mày làm gì ở đây?
Nguyên bình tĩnh trà lời. Cậu không tỏ ra chút chi khiếp sợ tên Quan Quản, nổi tiếng là hách dịcch gian ác :
-Con ở Thương Diêm, con Bà Lê ạ”.
Y đã biết rõ gia đình cậu. Y bắt buộc các phụ nữ góa bụa mà còn nhan sắc, phải lên Đồn Cửu Thân ngủ ban đêm. Y nói là để bảo vệ họ vì nghi chồng họ đã thoát ly theo VM (?).
Trong số những phụ nữ trẻ đẹp có bà ĐH. nổi tiếng duyên dáng . Bà là chủ quán cạnh nhà thầy Nguyễn Viết Hoàng, bên phải con lộ chạy ra chiếc cầu gỗ trưóc làng. Bên trái con đường quan là Khu chợ chồm hổm, kiểu dã chiến ở đây. Bà H có một con trai. Chồng bà thì đi kháng chiến từ lâu rồi. Bà còn “ngọt nước” lắm! Khoảng 30 tuổi. Thủ Tạ biết rõ tình trạng gia đình và người chồng làm VM của bà H. Ngoài ra, còn có Bà Tư Ù. Bà Tư không mập mạp gì, tại sao lại có “Hỗn danh “ như thế? Bà cao ráo, mình dây, da hơi ngăm, nhưng mặt mày thanh tú. Bà thật mặn mà, duyên dáng . Bà không có con cái. Chồng thì không biết ở đâu. Có lẽ phu quân trưóc đây của bà mập mạp chăng? Các giai nhân này phải lên Đồn buổi chiều tối . Sáng sớm thì về nhà. Quan Thủ Tạ chất vấn hai người trên rẫy chừng 5 phút .Thấy không có gì khả nghi, sau khi cho lính lục soát quanh đấỵ, Y đảo cặp mắt sắc lẹm, cú vọ, nhìn soi mói vào cái chòi bằng lá buông nhỏ xíu, nằm hiu quạnh bên đám bắp già sắp vàng úa. Nắng và gió trải dài trên đụn cát đầy cỏ dại, gai gốc và san hô. Y tỏ ra thất vọng vì không thấy gì khả nghi. Y ra lệnh thuộc hạ bỏ đi về hướng làng Cà Ná. Họ ra tới lộ. Bắt đầu sắp xếp lại đội hình, di chuyển hành quân. Ho đi cách nhau khoảng năm thước một quân nhân. Bên phải họ là đồng ruộng muối phẳng bằng, trải dài ngút ngàn về phía tây bắc xa tít, tận núi rừng Quán Thẻ hiu quạnh, nằm sát liền dãy Trường Sơn trùng điệp. Bên trái là biển cả xanh biếc, sóng vỗ rào rào bất tận. Nguyên và anh Đá mừng vì Quan Thủ Tạ không làm khó dễ gì cả hai. Thực ra, họ là dân quê chất phát, chỉ biết coi rẫy.
5) THANH TRỪNG ĐẪM MÁU
Có thể nói lúc bấy giờ dân làng TD và CN hầu hết đều theo VM. Theo phong trào kháng chiến chống Pháp. Vì nếu họ không chịu theo VM, mà cứ sinh sống tại một vùng thâm sơn, cùng cốc, một nơi chó ăn đá, gà ăn muối như bài thơ của Chính Hữu được tuyên truyền lúc đó” “ Quê hương tôi, nước mặn đồng chua. Làng tôi nghèo, đất cày lên sỏi đá,”thì liệu VM có để họ yên không? Thế buộc phải theo lực lượng kháng chiến trên núi, “Trên đe dưói búa”, “Sống giữa hai lằn đạn”. Tuy nhiện, cũng có một số không chịu hợp tác với VM. Những người trứơc đây có làm việc cho Tây hay những ai đang cộng tac với họ, đều lần lượt bị thanh trừng. Hôm đó, trời khô ráo, oi ả như mọi ngày hè tại vùng Sở Muối này. Khoảng 6 giờ chiều, mặt trời vừa lặn phía tây thì môt đoàn VM , Ban Ám Sát Xã Diêm Hải ( Xã bao gồm các làng TD,CN, Sơn Hải) đã xuất hiện trong làng. Họ mặc đồ đen, tay cầm dao to và mang súng lục lẫn súng trường.
Nhân dân thì thầm với nhau:
-Có vấn đề nghiêm trọng gì đây mà đoàn người mặt mày lầm lì , dữ dằng, đang tiến vô xóm.
Họ sợ hãi, lo lắng vô cùng.
-Giết trưóc báo cáo sau Làm tới đâu trình tâu tới đó.
Người dân thường bảo nhau:
-Phương chăm của Ủy Ban Hành Động” là như thế.
Lúc bấy giờ,. hoàng hôn đã phủ khắp núi rừng, thôn xóm heo hút. Bóng tối bao phủ xuống vùng duyên hải rất nhanh.
Nhà Thầy Đội Tấn ở xóm trên, gần ngôi đình làng, được một Ban Ám Sát khác viếng thăm, chiếu cố tận tình. Về sau, nghe bà con chứng kiến, kẻ lại. Đội Tấn không chịu đi theo họ khi họ đề nghị:
-Có lệnh của Uỷ Ban Hành Động Xã Diêm Hải ,xin mời ông theo chúng tôi.
Đội Tấn nhìn qua, đã đoán biết VM về bắt mình. Đằng nào thì nguy hiểm cũng đang đe dọa mình. Ông nhất quyết không tuân lệnh. Ông chống cự lại mệnh lệnh của ngưòi chỉ huy. Vì thế, ông bị Ban Ám Sát ra tay trừng trị ngay tại nhà ông. Ông bị họ chém nát mặt và đâm vào mình nhiều nhát dao trí mạng. Ông bị hành quyết tại ngay mái ấm của mình. Mặc cho vợ con ông van xin, lạy lục, nài nĩ, khóc than thảm thiết, họ vẫn không tha mạng ông. Ông bị kết án
-Việt gian, tay sai thực dân Pháp. Có tội với đồng bào, với Tổ Quốc, với Kháng chiến. Tội tử hình. Tội ác không thể tha vì đã theo giặc.
Cùng vào đêm hôm đó, xóm giữa và xóm dưới của làng TD , một số ngưòi khác, cũng bị bắt dẫn đi và bị chôn sống tại môt cụm rừng, bên hòn núi cao chót vót, phía sau làng . Thầy Đội Thơ và bà vợ bé bị buộc tội” Bốc lột nhân dân lao động”. Thầy Thơ trưóc có đi lính cho Pháp lên chức Đội. Thầy đã giải ngũ lâu rồi. Giờ gia đình sinh sống bằng nghề làm nường rẫy. Bà vợ lớn, cao, gầy, già, bệnh, bị mổ ruột già. Khúc ruột lòng thòng bên ngoài hong để có thể đi đại tiện. Bà được tha mạng vì đau ốm triền miên và không trực tiếp quản lý khu rẫy trong rừng. Đám rẫy này rất rộng, do ông bà Thơ khai thác để trồng khoai, bắp, đậu và trông chờ nước mưa. Họ thường thuê mướn người làm công, cuốc đất trồng hay thu hoạch hoa màu. Họ bị VM kết tội cướp mồ hôi, sức lao lực của đồng bào và lãnh án tử hình, bị chôn sống xuống hố đất. Nghe nói, bà vợ được đặc ăn cho phép ăn miếng trầu cuối cùng theo cầu xin vì quá thèm, trước khi bị họ xô xuống lỗ và lấp đất lại. Ban Ám Sát đã thỏa mãn nguyện vọng này của phạm nhân, cũng giống như Tòa án cho tử tội ăn bữa cuối cùng trước khi hành quyết. Thật là thê thảm! Thật là đau thương! Thật là đoạn trường, bi thiết!
”Oan này chỉ biết kêu trời! Nhưng xa”(Kiều)
Còn có môt nạn nhân nữa cũng bị kết tội đã làm việc cho Tây. Thật là oan Ông Địa, oan tình Thị Kính. Thầy Ba sở Muối. Có lẽ thầy thứ ba hay tên Ba gì đó. Thầy cũng gốc Huế như các người bị hại đã kể trên. Thầy làm thư ký cho Chủ Muối. Thầy trẻ lắm, khoảng chừng ba mươi . Thầy mới cưới vợ, người địa phương. Đó là môt giai nhân tuyệt sắc. Nàng mới đôi mươi, đẹp nhất vùng quê hẻo lánh này. Nàng dong dỏng cao, da trắng mịn màng. Mái tóc thề óng ả. Mặt trái soan, môi hồng tươi thắm như một nhà thơ ca tụng thục nữ:
” Anh gọi môi em là hoa đỏ,
Đã nở trong lòng anh mỗi đêm”.
Âu cũng là “Hồng nhan bạc phận”, “Thiên địa phong trần Hồng nhan đa truân”. (ĐTC). Chàng thì khôi ngô, tuấn tú, hào hoa, phong nhã, hiền lành, lại có học thức, có nghề nghiệp chuyên môn vững chắc.”Lạ gì quốc sắc thiên tài gặp nhau” (Kiều). Nào ngờ chồng bị giết môt cách oan ức, thê thảm.
“Tai bay, họa gió bất kỳ,
Tơ duyên đành phải chia ly muôn trùng” .
Nàng góa chồng lúc còn trẻ măng. Liên, tên góa phụ bất hạnh , giờ phải đi làm phu lục lộỉ cho Sở Muối để sinh sống. Cuộc đời thật trớ trêu, đau khổ. Bể khổ trầm luân bất tận. Nàng như là “Người Tiên bị đọa xuống trần, Bắt phong trần cũng phong trần như ai”
Tiếp theo cuộc thảm sát đó, một số người đang làm việc cho chủ Pháp cũng bị bắt lên núi để tra vấn. Đa số đươc tha về, sau một thời gian điều tra, cứu xét. Họ hứa trung thành và cộng tác với kháng chiến chống Pháp. Họ vẫn tiếp tục làm công chức cho Tây nhưng là cán bộ VM nằm vùng. Họ như điệp viên nhị trùng vậy. Sau này, Nguyên mới biết Ông Năm Tr. là trưỏng công an thôn TD, trong thời kỳ ám sát và bắt ngưòi nói trên . Tuy nhiên, VM thấy ông có tật thưòng uống rượu say sưa. Khi Thần Lưu Linh đã nhập thì lời tuôn ra vô tận“ Tửu nhập thì ngôn xuất” “Vẫn cái tật ba hoa” Cũng có khi quá chén thì ngủ vùi, chả biết trời trăng mây nước chi cả. Chính cái đêm Ban Ám Sát về thanh trừng môt số người nói trên, Ông Năm còn ngà ngà say, chẳng nắm đưọc tình hình rõ ràng . Vì thế, sau đó không lâu, môt thanh niên lanh lợi khác tên Mai Ch., đã được cấp thẩm quyền đề cử Trưởng ban C/A TD thay ông Năm. Ông Mai hay la cà lui tỗi nhà Ngoại Nguyên. Chàng thanh niên lạnh lùng, có bàn tay sắt bọc nhung, có dòng máu lạnh , đầu não Ban C/A vùng, lại đa tình, tỏ ra ái mộ Dì Thạnh của Nguyên. Chàng ta cứ đeo mãi, đeo riết, đeo không ngừng nghỉ người đẹp. Về sau, hai ngưòi nên vợ, nên chồng và có môt con. Nhưng có sanh mà vô dưỡng. Hai người thương tiếc đứa con vắng số vô cùng.
Ba Nguyên bây giờ vẫn làm cu li Sở Muối và làm rẫy những khi rỗi rảnh. Nghề Muối thông thường có hai công việc chính. Bốc muối về vựa và chuyển muối hột ra tàu ăn muối. Bốc muối khi muối đủ dày vào mùa hạ và mùa tàu ăn muối, thương vào mùa đông có gió bấc kéo dài đến tháng hai. Má cậu buôn thúng, bán mẹt. Dì Tám giúp Ngoại bán quán và quảy gánh bánh trái đi các nơi có công nhân đang lao động để bán hàng rong. Nói chung, cuộc sống trong gia đình thật vất vả. Hầu như cả làng TD –CN ai cũng gặp khó khăn về kinh tế cả. Số nhà khá giả cũng như các công chưc Sở Muối không nhiều. Đa phần lao động chân tay nặng nhọc để kiếm sống. ”Tay làm hàm nhai, Tay quai miệng trể” . ”Có làm thì mới có ăn, Không dưng ai dễ đem phần đến cho”. Có thể nói, Dì Tám là cột trụ gia đình Ngoại. Lúc bấy giờ, Dì Tám có môt ngưòi tình. Anh ta cũng cao ráo, sáng sủa, lại yêu thương Dì hết mực. Anh Dương, ý trung nhân của Dì, nhà ở tận bìa rừng. Nghe nói anh là cán bộ VM vì ai ai cũng phải theo họ. Hai người đã đính hôn chỉ chờ ngày đám cưới .
“Trai tài gái sắc thương yêu ,
Se duyên Tần Tấn mai chiều mà thôi”