6) NHÀ BẰNG- ĐỒN CỬU THÂN
Chủ Sở Muối ở tại Nhà Bằng, còn gọi là Đồn Bằng. Đó là khu biệt thự , khu cư xá đồn binh kiên cố. Đồn có vọng gác cao chót vót. Đồn binh dồ sộ, sứng sững trên một đồi cao, chế ngự cả một vùng thôn làng bao la, bát ngát. Chủ Sở Muối TD-CN, gồm khoảng ba bốn ông Tây cao, to, mắt xanh, mũi lõ, tóc hoe vàng. Họ có đủ loại xe cộ trú ngụ tại Đồn Bằng. Đó là công trình kiến trúc theo kiểu Pháp. bao gồm nhiều dãy nhà rộng mênh mông, có mái đúc xi măng bằng phẳng. Mội đơn vị nhà binh Tây trú đóng tại đây, có hỏa lực khá hùng hậu, với dàn pháo binh yểm trợ cho Đồn Cửu Thân hay các đơn vị bạn hành quân truy lùng VM. Người lính canh trên tháp cao, có thể nhìn bao quát tứ phía khắp làng mạc và rừng nui phía sau lưng Đồn. Các công chưc ngưòi Pháp, các cán bộ VN như y tá , kế toán, tài chánh, tiếp liệu, thư ký ,đốc công đều có văn phòng tại đây. Những hành lang thênh thang, lót gạch bông rực rỡ, bóng lộn được lao công lau chùi sạch sẽ hằng ngày. Phía trưóc Nhà Bằng (Pavillon)là sân vận động và bóng đá dành cho những trận thi đấu giao hữu của những đội các nơi về đây tranh tài với đội địa phưong. Lúc bấy giờ đội bóng đá TD cũng có nhiều cấu thủ chơi xuất sắc.
Chủ sở cho xe chở nước từ môt giếng sâu, to, xây bằng xi măng, trước Đồn Cửu Thân. Lúc đó, Ông Quang ở xóm trên là tài xế lái xe cà tàng, cũ kỹ của Sở, chở nưóc từ giếng về Nhà Bằng và các nơi khác của Sơ Muối.
Nằm ở phía đấu xóm là Đồn Cửu Thân. Đồn trấn giữ mặt Tây Bắc. Những vòng rào sắt và kẽm gai kiên cố bao quanh khu vực Đồn binh. Nằm chếch về góc trái của Đồn là dãy nhà lợp tranh, vách đất, gần giếng nước. Đó là ngôi nhà rộng lớn, Chủ Sở xây cất, dành cho công nhân muối người Chăm. Họ tạm trú tại đây, trong thời gian xắn và cào muối thành đống trong những ruộng mênh mông. một khi lớp muối đã đóng dày. Sau đó, công nhân địa phương bốc muối hột lên xe rùa để đầu máy kéỏ về vựa. Đồn binh Cửu Thân chế ngự cả một vùng Tây Bắc, gần khu rừng và núi thẳm xa xa. Đơn vị Bảo an trú đóng tại đây do Quan QuảnThủ Tạ chỉ huy. Cứ khoảng một hay hai tuần là Quan cho lệnh lùa dân vào đồn để nghe y thuyết giàng về chính sách, chủ trương cùng những chỉ thị của Chính phủ Quốc gia Liên Hiệp Pháp. Đặc biệt, y cũng ban ra những yêu cầu, chỉ đạo của Nhà Nước Bảo Hộ Pháp. Y khẩn trương yêu cầu đồng bào phải chấp hành tuyệt đối những mệnh lệnh đó. Y đảo mắt sắc như dao lam nhìn qua những ngưòi dân ngu, khu đen, chân lấm tay bùn, đang bị tập trung trưóc cột cờ vàng, ba sọc đỏ (khác lá cờ tam tài đang phất phới tung bay trên nóc Đồn Bằng ở cuối làng) Y cất giọng sang sảng, tiềng ấm và rền vang. Một gịong đầy quyền uy rỗn rãng:
-Bà con phải vạch mặt, chỉ tên, tố giác những kẻ nào theo VM. Những bọn nằm vùng, quân phản loạn .
Ai ai cũng cúi đầu, né tránh cái nhìn soi mói , đôi mắt cú vọ của Quan Trưỏng Đồn. Hình như y nghi ngờ hết mọi ngưòi. Đôi lúc y cũng nói năng ôn tồn, nhã nhặn, tươi cười vui vẻ. Nhưng sau đó, lại bắt bớ, giam cầm, tra tấn, đánh đập những kẻ bị tình nghi . Y là xếp sòng, là Quan tòa xét xử, là chấp pháp, thi hành án lệnh. Tù hay tha mạng do y quyết định cả tại vùng quê duyên hải này. Y tự coi mình là chúa tể. Y là Thượng Đế tại đây. Y cũng có những thuộc hạ trung thành, đắc lực dưới trướng. Cai Nào là người sốt sắng, nhiệt tình thi hành lệnh của trưởng đồn. Quan Đội nhất người Huế, mập mạp, tuổi trung niên, tỏ ra điềm đạm. Y luôn luôn nói năng nhẹ nhàng, ngọt ngào, trái ngưộc với lời thốt cộc cằn của Bác Cai. Còn viên Đội Nhì, tuy cấp bậc cao hơn Cai Nào, nhưng lại trẻ tuổi và đẹp trai hơn nhiều. Trong làng, có cô Nga xinh đẹp. Nhà cô ở gần Mương nước đục ngầu, chảy lờ đờ dọc con đê làng. Con mưong bò lêch thếch, lê thê từ phía trên bìa rừng, đâù xóm, đến tận giáp ranh bãi biển, cuối thôn. Mương thường khô cạn. Nước chỉ đầy vào mùa mưa lũ. Phần cuối mương thì nước trở mặn khi thủy triềi dâng cao. Đội Nhì chết mê chết mệt vì giai nhân. Cô Nga, nghe đâu cũng cảm tình với chàng si. Hai bên ý hợp, tâm đầu, sắp làm đám cưới. Tuy nhiên, “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.
“Trời nào có dễ chìu ai
Yêu nhau một lẽ, thành đôi khó lòng”
Một hôm, bộ ba cấp lãnh đạo Đồn Cửu Thân, cởi xe đạp lên ga Cà Ná như thường lệ, Hàng tuần, có chuyến tàu chợ từ Phan Rang vô Sài Gòn. Xe lửa dừng ở ga xép nàý. Nhiều con buôn tuôn hàng hóa xuống ga. Bọn Hải quan và thuế vụ ngưòi Pháp thường bắt bớ, tịch thu hàng và gây khó khăn cho người buôn gốc làng TD-CN. Vì thế, Quan Thủ Tạ, Thầy Đội Nhất , Đội Nhì, dùng xe cuộc lên ga can thiệp, giúp các bà, các cô, khỏi mất mát hàng hóa. Từ Đồn, họ đạp xe ra cầu gỗ. Họ đi cách nhau khá xa, dọc theo đưòng cái quan, chạy song song vơi con đê và đồng muối, đến tận Cầu Hoằng. Đội Nhì thả nước rút tiên phong. Tiếp theo là Đội Nhất đạp cà rịch, cà tang, vừa ngắm trời xanh, mây trắng. Tiếng chim ca vang lừng trong rừng cây, phía bên kia mương nước lềnh bềnh rong rêu và cỏ dại. Quan Thủ Tạ đạp thong thả đoạn hậu. Ngài chả vội vã gì. Bỗng nhiên, có một toán người võ trang, núp bên rừng chồi, đổ ra đưòng, chận viên Đội Nhì. Họ còng tay và bắt y tại chỗ. Thì ra thói quen của họ đã bị trinh sát VM nắm đưọc. May mắn là họ không đi sát nhau. Đội Nhất đã kịp thời phát hiện VM phục kích bắt sống bạn mình từ xa. Hốt hoảng, y quay xe, đạp trối chết, báo cho Thủ Tạ biết ngay. Rồi cả hai nhanh chân đạp xe như bị ma đuổi về tới Đồn. Thật hú hồn, hú vía cho hai quan. Họ đã thoát nạn trong gang tấc,”Giỏi không bằng hên”. Từ đó, họ không bao giờ dám đi xe đạp lên ga Cà Ná nữa. Về sau, nghe nói Đội Nhì được VM tha mạng vì y chịu cải tà, quy chánh. Y theo kháng chiến. Bà Đội Thơ, có khúc ruột lòng thòng bên hong, trở thành mẹ nuôi của y. Không rõ y có gặp lại cô Nga hay không vì y bị giam giữ để điều tra và giáo dục trên núi quá lâu. Có tin đồn, người đẹp đã ôm cầm sang thuyền khác, Chẳng lẽ cô phải chờ hoài một tù nhân có tội với nhân dân và cách mạng?
7) NHỮNG HỒI ỨC LINH TINH QUÊ NGOẠI
A) ÔNG BỐ LÀM NGHỀ NẶNG NHỌC
Bấy giờ, Ba Nguyên đang làm Sở Muối. Ông phụ trách khâu xúc muối sau khi Toán công nhân người Chăm đã xắn và cào muối thành đóng lớn, dài, trong những ruộng xâm xấp nước. Nước mặn chát, đục ngầu, vàng sệt, rát, cắt da thịt. Ông thưòng làm chung với ông Tẩu, theo sự săp xếp của người Quản Đốc. Những chiếc toa không được đầu máy đưa xuống tận ruộng, nơi có những đụn muối trắng xóa nằm chờ xúc, chuyển về nhập vựa. Từng cặp hối hả, dùng xẻng đưa muối hột chắc nịch vào toa xe. Sau đó, hai người cùng phụ đẩy toa xe đầy muối trên đường rầy . Họ ì ạch, cống rống, rướn người, dùng hai tay chồm về phía trước đẫy toa đầy muối lăn từ từ trên con đường sắt. Toa xe cuối cùng lên trên con lộ lớn. Con đường lót đá và sạn rộng thênh thang, nằm giữa hai dẫy ruộng phẳng bằng. Đường sắt dành cho xe rùa trải dài theo những con lộ này . Đường rây bò chằng chịt các nơi, và nối dài về vựa muối, nằm tận cuối làng, sát khu rừng, núi cao chất ngất. Phu xúc muối đẫy toa lên lộ. Họ móc xích vào toa trước. Các toa đã móc xong, đầu máy sẽ nổ xình xịch, phun khói đen nghịt trời và chuyển muối về vựa. Tất cà những công việc tại đây đều thực hiện bằng tay chân. Bằng mồ hôi và nuớc mắt của người cu li. Thu hoạch muối hột. Bốc muối chuyển về kho cứ diễn ra vào mùa hè rực lửa. Nắng chang chang. Nắng như thiêu đốt da người. Đúng là“Đổi mồ hôi lấy bát cơm” . Công nhân mồ hôi tuôn xối xả, ướt dầm cả mặt mày, mình mẩy, tay chân. Làm khoán sản phẩm. Làm nhiều, ăn nhiều. Làm ít, lương ít. Thế thôi!
”Thi nhau ta xúc ta cào
Làm nhiều thì đươc lương cao phơi này”.
Ngưởi Việt đã cực, mà người Châm làm còn nặng nề, vất vả hơn nữa. Có thể nói, khâu xắn và cào muối hột Sở Muối chỉ dành cho con cháu của Chế Mân, Chế Bồng Nga và Nữ Thánh Ni Na, một công chúa diễm lệ của Chiêm Thành. Cứ mỗi mùa dỡ muối, xe hơi của Chủ Sở, ra tận Hòa Trinh, Phú Quý, Văn Lâm... chiêu mộ phu người Chàm. Những người trai trẻ khỏe mạnh đưọc tuyển chọn và đưa vào TD. Họ tạm trú tại dãy nhà trườc Đồn Cửu Thân. Họ đươc khoán sản phẩm và lương cao hơn các khâu khác. Tuy nhiên, công việc quá ư nặng nhọc. Hai tay cầm lấy xà beng sắt nặng nề . Họ phải dùng sức người xắn những tảng muối dày, to, đóng cứng như đá núi. Hơi nóng bốc ngùn ngụt, tưởng chừng như có lửa tỏa ra dưới ánh nắng rực rỡ, chói chang của vùng duyên hải. Rồi khâu cào muối, sau khi ruộng được xắn xong. Ho dùng cào sắt nặng nề. Đầu chiếc cán dài đặt trên vai, hai tay nắm chặt phần giữa cán, họ khom lưng gần như cúi rạp người về phía trước. Hai chân trụ vững và dùng hết sức bình sinh, kéo chiếc trang bật về phía mình. Cứ thế, công nhân dồn muối hạt thành đóng trắng xóa, cao nghều nghễu, nằm dài trong ruộng nước đục nhờ nhờ, sóng sánh , vàng sềnh sệch.
“Xắn xong rồi đến khâu cào
Khâu nào cũng nặng cũng hao sức người”
Ông Tẩu và Ba Nguyên gắn bó lâu dài khâu xúc muối. Ông ta bị dẹo chân. Đi cà thọt, làm chậm chạp. Vì thế, Ông Hải phải gồng mình cho bạn. Hai người lại làm ở toa gần cuối. Những toa đầu khỏe hơn. Xúc trước, đẫy lên, ngồi nghỉ thoải mái. Ngồi chơi, xơi nưóc, chờ toa chót đưa lên. Đầu máy chuyển muối về vựa, họ mới xuống xúc. Còn những toa cuối, dân phu vừa ì ạch đẩy lên thì phải xuống xúc vì
“ Toa đầy vừa mới chuyển đi
Toa không đã xuống, tức thì xúc ngay”.
Ba cậu là dân tạm trú, gốc ở PK. Ông không có quen biết nhiều ở đây, Không phe đảng, bè phái. Không dễ gì được cắt cử phụ trách các toa phía trước. Ông bị “đặt đâu thì phải chịu đó’. Phải làm chung với kẻ tật nguyền. Phải cắn răng chịu đựng vì miếng cơm, manh áo. Không dễ gì có được việc làm trong thời buổi loạn ly, khó khăn này.
”Phải rán nín thở qua sông
Than phiền thiên hạ, khó lòng ở đây”
B) NGƯỜI HÙNG SỞ MUỐI
Lúc bấy giờ, Thầy Nguyễn Viết H. gốc Quảng Nam là xếp sòng ở đây. Thầy to con, cao ráo, trắng trẻo, đẹp trai. Thầy khôi ngô, tuấn tú, không thua gì Phan An ,Tống Ngọc hay Kim Trọng. Thầy lại noi tiếng Tây lưu loát, trôi chảy. Đôi khi thầy xổ môt tràng nhanh như gió. Thầy là Tổng Quản Đốc kiêm kế toán, tài chánh.Thầy có quyền ấn định mức lương công nhân và tuyển dụng mọi người vào làm Sở Muối. Ban Giám Đốc Sở Muối rất tin cậy Thầy. Cho nên, mọi người dân hai làng TD-CN rất kính sợ, nễ nang Thầy. ”Mọi sự kính nhờ Thầy giúp đỡ”. Hiện tại, Thầy có nhị phòng. Bà vợ cả đã cao tuổi, cùng quê quán với trượng phu. Bà có lẽ ngang tuổi anh hùng . ”Hai bên cùng tuổi lủi thủi làm ăn” . Câu phương chăm này trật lất với cặp vợ chồng vô cùng cá biệt này. Chàng hào hoa, phong nhã, khôi ngô, tuấn tú, thich phong lưu như thế làm sao “Lủi tủi làm ăn đưọc đây?”. Vì thế, ngưòi hùng đã có thêm vợ bé trẻ đẹp, duyên dáng vô cùng.
“Hải đưòng mơn mở đào tơ,
Ngày xuân càng gió càng mựa càng nồng .
Nguyệt hoa, hoa nguyệt não nũng,
Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho đang“ (Kiều).
” Quê nàng Dư Khánh, Đáụ Chồng
Bây giờ tròn vẹn chữ tòng Thương Diêm”.
Bà vợ lớn tuy cao tuổi, song cỏn giữ nét duyên dáng, nhu mì thời con gái. Dáng dấp dong dỏng cao , da trắng trẻo, nét đẹp thanh cao, trang nhã của gái Quảng Đà , vùng Chùa Non Nước xa xôi, Bà hiền lành và mọi việc đều nghe ông xã săp xếp .“Má hồng phó mặc trương phu. Mọi điều quyết định để cho anh hùng”.
Thầy H. có tánh hay ưa phụ nữ, nhất là phụ nữ xinh xắn, duyên dáng . Thục nữ nào thích người hùng hào hoa, phong nhã phong lưu, mã thượng, thường ưa ông lại. “Lạ gì quôc sắ thiên tài gặp nhau”(Kiều). Ngay những bà có gia đình cũng khó lòng thoát khỏi vòng tay ông, nếu ông để mắt đến giai nhân. Một kẻ khôi ngô , hào hoa , phong lưu, giàu có, quyền thế, đa tình như thầy H.Thầy muốn gì mà chả được tại nơi “Chó ăn đá gà ăn muối này” . ”Ở Xứ Mù người chột làm Vua” .“Đa tình, đa lụy, đa mang, Cuối cùng chuôt lấy đau thương khổ sầu”. “Trần gian ta đánh một vòng, Anh hùng xương trắng, má hồng sọ khô”.
C) CUỘC RƯỢT ĐUỔI VM
Một hôm , trời vừa rạng sáng. Vầng thái dương mới nhuộm hồng khắp thôn quê làng mạc, ngươì ta thấy một thanh niên chạy hớt ha, hớt hải trên con lộ trước nhà thầy H, Đối diện nhà thầy là khu chợ chồm hổm. Ngôi chợ dã chiến của dân làng. Anh ta còn trẻ, chừng ba mươi là cùng. Anh là cán bộ VM, bị lính trên Đồn CT phát hiện. Họ đuổi theo anh ráo riết, quyết bắt sống để khai thác tin tức. Núi rừng trùng điệp, bao la, bát ngát, phía sau làng. Khoảng cách bìa làng và rừng núi trong gang tất mà xa cách muôn trùng. “Rừng- làng gang tất cách xa Mà đường trốn thoát thật là quan san”. Anh mới từ mật khu mò ra làng hoạt động thì bị kẻ địch phát hiện và truy đuổi gắt gao. Anh không thể chạy trốn vào rừngõ vì đã bị lộ và bị phục kích. Anh chỉ co thể chạy ra hướng phía trươcù làng . Tuy nhiên, bọn lính Bảo An đang rượt theo sau anh không xa lắm. Mặt tiền thôn xóm là đồng ruộng muối phẳng bằng, trống trải không có chỗ lánh mình, ẩn thân. Vì thế anh ta bối rối, quýnh quáng, lủi đại vào đám ngô cao ngòng, rậm rạp, đã ra trái, bên góc mặt con lộ, cạnh chiếc cầu gỗ. Đám bắp xanh rì còn đọng sương đêm, nằm sát đường rẽ phải từ Quán bà Sáu đổ xuống dốc lên xóm trên. Bọn lính truy nã VM chạy đến khu chợ, thì không còn thấy kẻ họ đuổi băt nữa. Chúng chia nhau lục soát các nơi chung quanh đấy. Một vài tên chạy ra tận phía ruộng muối, nhìn dáo dác khắp cánh đồng trống trải, mênh mông, bát ngát. Nhưng không có bóng người chạy trốn. Tên chỉ huy tra vấn môt số người có mặt tại đó:
-Bà con có thấy một thanh niên chạy qua đây không?
Ai ai cũng trả lời:
- Dạ thưa tôi không thấy người nào chạy qua đây cả ạ!.
Dân ở đây là kẻ nuôi dưỡng VM. Họ theo VM. Họ che chở cho VM. Đời nào họ dám khai sư thật. VM giáo dục, tuyên truyền trong dân chúng là Pháp và Việt gian là kẻ thù của đồng bào, của kháng chiến. Mà dẫu có ba đầu, sáu tay cũng không ai dám hở lời. “Ai đâu mà dám hé môi Dại gì mà phải toi đời như không”. Bọn lính dư biết không dẽ gì khai thác hay lấy tin nơi đám dân theo VM này. Chúng đa quan sát hiện trường và hội ý với nhau. Không có chỗ nào cho y tẩu thoát hay ẩn thân trong thời gian nhanh như thế Cuối cùng, chúng quyết định lục soát rẫy bắp. Kết quả, y bị bắt, bị đánh gục và trói gô bắng dây điện. Y bị áp tải về đồn. Nơi đây, có tên Các là thuộc hạ thân tín của Thủ Tạ. Y thường tra khảo, đánh đập tù nhân bằng xà beng, nhất là những ai bị tình nghi có hoạt động cho kháng chiến. Hôm sau, anh ta bị đưa lên ga xe lửa Cà Na, chuyển ra giam tại Lao xá PR. Từ đó, không ai rõ số phận anh ta ra sao.
D) NGƯỜI TÌNH CỦA DÌ THẠNH
Nguyên rất thương mến người Dì họ này. Hồng nhan bạc mệnh . “Người hiền chẳng sống được lâu , Má` hồng phận bạc, xanh đầu yểu vong”. Dì Thạnh là cô gái quê duyên dáng, chơn chất, mộc mạc. Dì là cháu Ông Bà Ngoại. Dì theo Ngoại vào TD từ bé. Dì siêng năng, cần mẫn, thật thà, hiền lành. Trong gia đình, ai cũng mến thương Dì. Ngoại coi Dì như con ruột. Lúc đó Ông Mai Ch., Trưởng C/A thôn TD, cũng gốc Quảng Nam, lại để ý đến Dì. Ông Mai có tướng đi nhanh nhẹn. Đôi mắt sắc lẹm. Ông cũng lai rai bia rượu, nhưng không giống cha ông, Ông Bảy Say. Cha ông có biệt hiệu như thế là vì, hầu như lúc nào, ông cũng như hủ chìm. Cứ chiều tối là ông say túy lúy. Ông bưóc xập xình, lê thê , lêch thếch, chân nam đá chân xiêu, từ các quán rượu về ngôi nhà lụp sụp ở gần mương nước, cạnh chiếc cầu gỗ. Sau đó, ông đứng bên hè, hướng mặt về phía đông, có chòm xóm láng giềng. Rồi ông bắt đầu chửi rủa những người đã làm mất lòng ông từ đời cốt tủy nào. Tính ông vậy, hay ông mượn ma men để mắng chửi đời, chửi người cho hả giận, Không ai rõ cả. Sau khi vợ ông bị cọp ăn, ông càng mượn chất cay để giải sầu và để cho thêm sức mắng chửi thiên hạ cho đã miệng. Như thường lệ, hôm đó, Bà Bảý ôm thau quần áo bẩn, đi lên con suối nhỏ nằm gần khu rừng chồi. Con suối này cách ngôi đình làng xóm trên khoảng vài trăm mét. Suối cạn. Nước trong veo, chảy róc rách. Những bụi cây như tre, nứa hai bên bờ, xỏa cành lá, soi mình trên mặt nước biếc lung linh ánh nắng chiều vàng nhạt. Nước ở vùng duyên hải này không được ngọt. Nước thường mặn hay lờ lợ. Giếng nước ngọt thì khan hiếm nước, Chỉ đủ nước cho dân gánh uống . Nước không dễ dàng cho việc giặt giũ quần, áo, mùng màn, chiếu chăn...Vả lại, giặt nước suối thì sạch sẽ, thơm tho quần áo hơn. Cho nên, Bà con trong làng thưòng đến suối giặt đồ.
Bà Bảy đang ngồi trên bệ đá lui cui giặt giũ , bỗng nhiên, một con cọp rằn, núp trong lùm tre gần đó rình mồi từ hồi nào, phóng ra, vồ Bà tha đi mất. Trước đó vài giây, Bà có ngửi thấy mùi thum thủm. Bà nghi Ông Ba Mươi hiện diện gần đây, nhưng không kịp chạy trốn. Khi dân làng phát hiện, họ đánh mõ, phèn la báo động tùm lum khắp xóm, thì cọp đã tha Bà chạy khá xa vào trong núi sâu rồi. Đoàn người trai tráng mang xà beng, gậy gộc, rựa, búa, ùa chạy đuổi theo con hổ vào tận rừng rậm. Cuối cùng, họ phát hiện xác Bà ở trong một lùm cây. Mắt bà bị cọp móc ăn. Mặt bị cạp lồi lổm, trông dễ sợ vô cùng. Vài chỗ chỉ còn trơ xương. Bà được dân làng chôn trong núi. Họ đắp ngôi mộ thật cao và đặt nhiều đá trên đó cho cọp không thể đến moi xác ăn được. Họ nghĩ cọp thường đào xác nạn nhân từ mả lên để xơi khi quá đói, vì không có mồi sống để nhai. Tội nghiệp Bà cụ, mẹ ông Mai chết thê thảm. Cha ông thì hết thuốc chữa. Càng say sưa chửi đổng thiên hạ, đến khuya, mỏi miệng, mới chui vô giừơng ngủ.
Một hôm, Cai Nào cùng bọn lính B/A lùa dân vào đồn như thưòng lệ. Thủ Tạ đang diễn thuyết. Mai mặc áo bà ba đen, cũ mèm, chiếc quần vải thô màu cháo lòng, đầu đội nón cời đã ngã màu nâu bạc, phong sương tơi tả.,. Da đen xạm. Tướng nông dân, lam lũ trăm phần trăm. Viên Trưởng Đồn bỗng đảo cặp mắt diều hâu soi mói, nhìn qua một lượt đám ngưòi ngồi trong sân. Đôi mắt sắc lẹm dừng hơi lâu trên gã thanh niên cúi gầm mặt dưới chiếc nón cời tơi tả, te tua, che mái tóc húi ngắn. Y thong thả tiến lại phía Mai. Y đưa hai bàn tay hộ pháp, gân guốc chụp lấy bàn tay mặt của vị Trưởng C/A TD. May mắn cho Mai lúc đó. Bàn tay sần sùi, chai cứng vì cầm cuốc thường xuyên. Y mỉm cười vui ve. Hình như nỗi ngờ vực về Mai đã tan biến trong lòng y. Một nông dân cày sâu, cuốc bẫm. Một phó thương dân nghèo khổ, lao động vất vả. Người như thế không thể là cán bộ VM được. Tuy nhiên, “May đâu chẳng thể kéo dài , Đi đêm cũng phải có hồi gặp ma”. Ông Mai, cuối cùng, bị bắt và bị B/A giải ra lao xá PR. Mai bị nằm ấp nhiều năm. Lúc này, Dì Thạnh đã là vợ ông Mai. Họ có một con. Đứa bé chết non. Dì thương ra PR thăm nuôi chồng. Mai rất căm thù tên Các đã tra tấn ông bằng xà beng. Các đã cho Mai đi “máy bay, tàu thủy’. Các làm Mai chết đi, sống lại nhiều lần trong thời gian bị giam giữ tại Đồn CT. Mai thề sẽ trả thũ Các. Nhưng sau này, không bao giờ Mai gặp lại Các trong cuộc truy tìm tong tích kẻ thù đã làm mình điêu đứng , đau khổ trong nhà giam. Riêng Dì Thạnh, thì từ ngày lang quân sảy chân, tù đày, trở nên buồn phiền, cô quạnh, ngã bịnh và từ gĩã cõĩ trần đầy đau khổ, điêu linh .
“Hồng nhan cứ mãi lênh đênh
Chồng tù, con chết, một mình bơ vơ.
Thờ chồng thui thủi đợi chờ
Hoa tan tác rụng bên bờ tang thương”.
]E) TRUY TẦM CÁN BỘ VM
Một hôm, công nhân Sở Muối đươc lệnh của Chủ nghỉ việc bất ngờ và phải túc trực tại nhà chờ lệnh Cấp Trên. Buổi sáng mùa hạ ụp đến vùng duyên hải rất nhanh. Lúc đó khoảng 9,10 giờ. Trời nắng gây gắt . Gió im phăng phắt. Quân lính tràn qua làng TD. Chúng lùa dân chúng, già, trẻ, trai, gái tập trung trên con lộ, trước khu chợ trời, cạnh nhà thầy H. Quân lính, mặt mày ai cũng nghiêm nghị, khẩn trương. Quan Ách Lan, thuộc Phòng Nhì (Deuxième Bureau) Pháp ở PR, cũng có mặt lúc đó. Ông cầm baton mây, mặc thường phục. Mặt đằng đằng sát khí. Ông là vị chỉ huy cả phái đoàn truy lùng các cán bộ VM trà trộn trong dân chúng hôm nay. Đoàn lính thành lập thành nhiều toán: Điểm danh, Hỏi họ tên, Nhìn mặt nhận diện từng ngưòi dân đang cư ngụ tại TD. Những người tra xét toàn là nhân viên Phòng Nhì, dưới quyền lãnh đạo, chỉ huy của Ông. Quan Ách mâp tròn, bệ vệ, uy nghi, lẫm liệt như một vị Nguyên Soái , cầm gậy chỉ chỏ tứ tung. Mặt lầm lì, lạnh lùng, trang nghiêm, Ông đảo cặp mắt sắc bén, soi mói, quan sát, theo dõi, nhất cử nhất động của đám dân ngu, khu đen, đang xếp hàng dọc, dài lòng thòng trên con đường cái quan, lởm chởm đá sỏi. Nắng đã lên cao . Nắng bắt đầu gay gắt. Nắng chói chang, rực rỡ Những tia nắng vàng chiếu lấp lánh trên những đọt sầu đâu, những cây cổ thụ cao, to, trước nhà thầy H.
”Tập trung dân chúng trên đường,
Truy tìm những kẻ nằm vùng Việt Minh”
. Bỗng Quan Ách quay mặt nhìn mọi người đứng xung quanh đó hỏi to:
-Có ai ở đây tên Nguyễn thị Mòi không?
Mòi là khuê danh của Dì Tám, Dì ruột của Nguyên. Dì sợ hãi vô vùng khi nghe Quan lớn hỏi đích danh tên mình. Lúc đó, Dì khoảng 24, 25 tuổi, đang hồi xuân sắc, da hơi ngăm, nhưng duyên dáng, xinh đẹp. Người tình của Đì đã bị Tây bắn chết trong cuộc truy lùng những người dân có nhà ở ven rừng trước đó. Lúc bấy giờ, Dì hoạt động cho kháng chiến. Dì là cán bộ xã, nằm vùng. Ông Năm Tơ , cũng hoạt động cho VM, đang bị tù, đã khai đích danh tên Dì. Do đó, kỳ này về làng TD, Quan Ách có trong tay danh sách những kẻ cộng tác với VM . May là hôm đó Dì đang đứng ở xa, chưa đến phiên mình bị xét hỏi. Nếu không thì vô tình khai tên thật, chắc chắn bị tóm ngay. Khi nghe Quan hỏi thế, mọi người chung quanh vẫn im lặng, lắc đầu. Có ai dại chịu cha ăn cướp bao giờ. Dì rất lanh và giữ bình tĩnh, thản nhiên, trong khi tiến lại gần các người tra xét tên họ. Ách Lan đứng gần đấy, cầm baton nhịp nhịp trên cát bủn. Quan chỉ huy thân hành hỏi:
- -Cô tên gì?
- Dì mỉm cười duyên dáng, tỏ ra ngây thơ , bạo dạn, thản nhiên, chớp chớp đôi mắt to, đen lóng lánh. Người đẹp trả lời thỏ thẻ, nhẹ nhàng:
- -Dạ thưa Quan! Em tên Lê thị Mai ạ!” (Mai là tên cô bạn của Dì, con Thầy Ba Nhà Thương. Thầy người Huế, đẹp trai, ngụ tại Nhà Bưu Điện của Sở Muối, nằm cạnh mương nước, gần chiếc cầu Gỗ, phía trươc làng. Thầy cũng bị VM ám sát lâu rồi. Ông bị kết tội làm việc cho Pháp). Dì có tên trong sổ Phong Thần bị truy tìm để dẫn độ về giam giữ, khai thác tại Lao Xá PR. Dì đã may mắn thoát nạn trong gang tấc.Tuy nhiên Dì đã bị lộ.Dì không thể hoạt động trong lòng địch được nữa. Theo lệnh của Cấp Trên, lệnh của Ủy Ban Hành Động Xã Diêm Hải, Dì phải thoát ly theo kháng chiến.
Hôm đó, Bà Ngoại đã tổ chức một bữa tiệc tiễn đưa Dì ra đi, tranh đấu cho dân tộc, thoát khỏi sự đô hộ của thực dân Pháp. VM tuyên truyền, rỉ tai như thế. Bữa tiệc đơn giản, nhưng rất đậm đà tình nghĩa gia đình. Bánh xèo tôm, thịt heo, mực, giá, rau sống ngon tuyệt. Nước mắm Má Nguyên làm hết sẩy.
”Dì ra đi một chiều quê lộng gió
Cháu vời trông theo đồi núi âm u”.
”Rừng xanh, núi thẳm ngút ngàn
Một mình thân gái dặm trường ra đi”.
Từ đó, thỉnh thoảng Dì đi công tác, ghé về nhà ban đêm, thăm Ngoại và gia đình. Dì thường nằm trên giường Ngoại. Đó là một chiếc giừơng lớn, chiếm một góc rộng, mặt tiền của ngôi nhà ba gian. Bên cạnh là hàng quán tạp hóa, quà vặt, bánh tráng, gạo, nếp, linh tinh. Hai mẹ con thủ thỉ, tỉ tê, to nhỏ, tâm sự huyên thuyên, đủ thứ. Mẹ thương con, nhớ con da diết. Con yêu mẹ, nhớ mẹ vô vàn.
”Nỉ non đêm vắng tình dài
Tình yêu mẫu tử khôn nguôi trong lòng”(Nhại theo Kiều)
”Những lần công tác ban đêm
Dì về thăm viếng Mẹ mình thường xuyên.
Bột, đưòng, quà, bánh, bạc tiền
Ruột tầm cứ nhã liên miên con mình”
Lúc đó, Nguyên thường bị thức giấc nửa khuya, khi hai người nói chuyện xầm xì, to nhỏ, bên cạnh chiếc giường con cậu đang nằm ngủ. Chiếc giường dành cho cậu, kê sát vách, có khung cửa sổ hướng ra sân trước. Ánh trăng vàng nhạt, mờ mờ, chiếu lung linh trên những đọt mãng cầu, phía phải góc sân rộng. Ngoài trời, côn trùng kêu rả rích, nghe thật buồn bã, thê lương, não nuột vô cùng.
”Ánh trăng mờ nhạt ngoài sân
Côn trùng tấu nhạc nghe rân sau hè”
F) PHU MUỐI BỊ BẮT TẢI ĐẠN HÀNH QUÂN
Dân phu đang làm muối ngoài ruộng, thì có lệnh của Chủ Sở Muối mời về Đồn Bằng. Ông Hải trong đám người này. Sau đó bọn Tây bắt hết các công nhân khỏe mạnh tải đạn và thực phẩm cho họ, trong cuộc hành quân quy mô, truy lùng mật khu của VM. Ba Nguyên mất liên lạc với gia đình trong ba ngày, hai đêm. Nhiều người phu muối trong làng cũng thế. Khi Bà Lê cùng nhiều phụ nữ có chồng cùng cảnh ngộ, kéo xuống Đồn Bằng hỏi tin tức lang quân, Chủ Muối tươi cười trả lời:
-Họ đi công tác vài hôm rồi về. Các bà cứ yên tâm! Không sao đâu! Đừng lo.
Quả nhiên, ba hôm sau, Ông Hải và các công nhân khác,được trở về gia đình. May mà họ đều bình an cả. Mệt phờ người sau cuộc hành quân trên núi cao, rừng sâu, truy lùng. tiêu diệt VM trong các mật khu CK7 và CK35 trong dãy Trường Sơn, tại các vùng Sơn Hải , Quán Thẻ, Chà Bang ... Các vùng thâm sơn, cùng cốc của tỉnh NT, nơi thiết lập chiến khu của VM. Núi rừng bao la, bát ngát. Họ phải vượt đèo, lội suối, dưới ánh nắng chói chang. Đá núi nằm ngổn ngang. Đèo cao vươn mình chớn chở. Rừng xơ xác hoang vu. Cảnh sắc khô cằn, hiu quạnh, chỉ nghe tiếng chim kêu, vượn hú. May mà không đụng đô trận nào. Thật dễ bỏ mạng sa trường, nếu gặp phục kích của đối phương. Có lẽ nhận thấy lực lượng truy lùng của Pháp đông đảo, vũ khí tối tân , hỏa lực hiện đại, cuộc hành quân qui mô, Kháng chiến quân đã rút lui, tránh đụng trận. Quân Pháp đi xa, có người mang vác đạn dược, thực phẩm, nưóc uống, thuốc men, nên họ khỏe ra. Họ hăng hái xông xáo vào chiến khu, lùng sục các hang động, tìm VM. Nhưng không thấy tên nào lai vãng cả. Họ đốt cháy các nhà làm bằng cây lá, các nhà lợp tranh dã chiến. Họ thiêu hủy các căn cứ, phá hoại hoa màu như ngô, sắn, đậu trồng bên suối. Họ cũng hỏa thiêu lúa gạo và thực phẩm tích trữ, không kịp chuyển đi nơi khác của VM. Sau đó, họ liên hoan chiến thắng và ra về êm ả, mát mái,xuôi chèo.
“Hành quân đến tận mật khu
Phá tan căn cứ kẻ thù biệt tăm”
Thương thay cho đám công nhân!
Bạc phờ thân xác, tinh thần khổ đau.
Đoạn trưòng thay kẻ qua cầu!
Mảnh đời nô lệ ngóc đầu không lên”.
G) ÔNG HẢI NGÃ BỆNH
Sau cuộc hành quân gian khổ mang vác nặng nhọc, nhiều dân phu ngã bệnh. Ông Hải quá mệt mỏi, rã rời tay chân. Ông bệnh liệt giường, phải đưa đi bệnh viện PR để điều trị. Sau đó, Ông về nhà mẹ ở PK để dưỡng bệnh. Đó là Quê Nội của Nguyên . Bây giờ, Má cậu phải thay chồng, đảm đang mọi việc trong gia đình. Nguyên từ lúc rời làng PK về đây, chưa được cắp sách đến trường. Nhà nghèo, cậu phải coi giữ các em nhỏ dại. Hơn nữa, Bà Ngoại cũng như ba má cậu, cũng không coi trọng việc học hành, chữ nghĩa mấy. Ba cậu là con trai trưởng trong một gia đình đông con, nghèo khổ, ở vùng thôn quê hẻo lánh. Ông cũng chỉ học đến lớp Ba, thi đậu bằng “Yếu Lược” hay bằng “Tuyển Sanh”. Muốn học lên lớp trên, phải đi xuống thành phố. Ông thông minh, học giỏi, viết chữ đẹp. Tuy nhiên, nhà nghèo, phải đành xếp bút nghiên, vui nghề ruộng rẫy .
“Văn chường phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ học cày cho xong”.
Má cậu cũng thế, chỉ học hết lớp Ba là nghỉ học. Không thể đi xa, học cao hơn nữa vì nhà nghèo. ” Nghèo cũng là một cái tội “, như người ta thường nói thế. Vì vậy, Má và Dì Tám chỉ dạy cậu biết dọc, biết viết, biết các phép tính đơn giản, ngõ hầu cậu có thể giúp Ngoại về sổ sách, buôn bán hằng ngày. Thế thôi! Cậu phải ở nhà giúp đỡ gia đình, giữ em , phụ làm rẫy, làm các việc lặt vặt trong nhà.
Trong làng có ngôi trường sơ học ( cũng đến lớp Ba là cao nhất). Trường này, nguyên là tòa nhà bưu điện của Sở Muối trước đây. Bây giờ cải tổ thành ngôi trường, vừa là chỗ cư ngụ của gia đình Thầy Hưng, người Huế. Lớp học từ Enfantin đến Élementaire (Lớp Năm đến lớp Ba). Cậu vốn hiếu học, song lại không đươc cắp sách đến trường, như bao trẻ em khác, thời đó. Vì vậy, cậu thưòng ẳm em, lân la đến trưòng, đứng ngoài nghe thầy giảng bài. Chẳng khác nào anh chàng chăn lợn ngày xưa, trong sách giáo khoa thư lớp Đồng Ấu, cậu đã có dịp đọc qua. Anh này chăn lợn cho gia đình phú hộ, nhưng lại la cà đến lớp học để nghe Thầy Đồ giảng bài.
Lúc đó, Nguyên thường trò chuyện với các học sinh cùng trang lứa, vào giờ ra chơi hay tập thể dục, sinh hoạt thanh niên, làm vệ sinh trường học, cá nhân...