PHẦN IV: ĐI LÍNH
1) HỌC TRƯỜNG BBTĐ
Thế rồi , tháng 6/1966 , chàng động viên đi khóa 23/VBTĐ . Từ Quân Trường chàng viết thư và gởi tiền về cho nàng, nhưng chàng không nhận hồi âm. Chàng buồn lắm! Chàng viết cho nàng nhiều bức thư dài, nhưng vẫn biệt vô âm tín. Nghe nói nàng sanh con trai, giống cha như đúc. Một tin không vui là người tình cũ của nàng ở NT tên HPT, một công tử đẹp trai, hào hoa , phong nhã, con nhà giàu. Một cảnh sát Quốc Tế! Nàng từng nói cho chàng hay trước đây. Nguyên không biết gì về anh này. Nghe nói, gia đình anh là chủ nhân các khách sạn sang trọng ở Thành phố biển . Chàng ta đi lính SQ Thiết Giáp , đóng tại PR. Ngoài ra, còn có mối tình của nàng với anh chàng S. SQ Công Binh. Trước đây, nghe thiên hạ bàn tán , xì xào, nhưng chàng đã mù quáng theo nàng. Chàng chỉ muốn sống lâu dài với người đẹp . Tuy nhiên, bây giờ chàng đã vỡ mộng, vô cùng thất vọng. Khi ra trường, đổi về phục vụ tại tỉnh nhà, chàng ghé thăm nàng. Có anh HPT ở trong nhà lúc đó. Họ không chào hỏi gì chàng ca. Hai người rất thân mật, âu yếm với nhau . Chàng lặng lẽ bỏ ra về và không đến nhà nàng nữa . Trong thời gian thụ huấn tại QuânTrường TĐ, chàng cũng bị bịnh phong thấp, sưng đâu gối và bàn chân. Bịnh kinh niên tái phát. Chàng phải nằm bệnh viện TYVCH . Điều trị tại Phòng Nội Khoa dành cho SQ. BS Th Tá Bạch Đình Minh, Phó GĐ, phụ trách Phòng này . (BS Tr Tá Thanh, YST, sau này, Ông lên cấp Tướng, CT/ CQY/VNCH ). Bịnh giảm, chàng xuất viện. Nguyên chuẩn bị thi bằng “ Khả Năng SPTC”, dành cho GVTH có bằng TT2. Chàng mua cua tại SG để học thi môn luận Sư Phạm Lý Thuyết (SPLT) và thi vấn đáp. Cua này do GSĐHSP/SG soạn thảo. Chàng thi luận SPLT chung phòng với T/U Tân, cũng gốc GV, người Nam, Cán Bô TĐT cuả ĐĐKS 52, giai đoạn 2, do Tr/uy Mai Văn Chính , cao, gầy, người Nam chỉ huy. ( Ông này rât tốt, đã thông cảm cho Nguyên ra trường với cấp bực C/U, dù chàng bị bịnh, nằm viện hơn hai tháng, Giai đoạn 1, ĐĐT/KS là Tr/Uy Ông văn Chính , gốc Quảng Nam. Th/U Lữ Quang Đê, làm TĐT . Anh này trẻ măng , trắng trẻo, đẹp trai, như con gái. Nói năng dịu dàng, chỉ huy SVSQ bằng tình thần tự giác. Sau này, khi sang Mỹ, chàng được biết, anh Lê Đại, gốc Quảng Ngãi, cũng học cùng khóa 23 VBTĐ với chàng . Học cùng Trung Đội và anh Trần Thy Vân cũng gốc Quãng Đà cựu HS DT cũng học khóa 22/VBTĐ). Sau khi thi bài luận văn SPLT , chàng dự thi SPTH, dạy hai bài. Dạy Môn Việt Văn, Giảng văn lớp ĐN, tại Trường Nữ TH Trưng Vương. Giảng LVT , đoạn thơ “ Võ Thể Loan tiễn LVT đi thi”. Dạy bài 2 tại Trường TH Petrus Ký, môn CD lớp ĐTứ. Môn nào cũng được GS Giám Khảo tỏ vẻ hài lòng. Mỗi môn có hai GS GK chấm thi. Tại Trường Nữ THTV, Nữ GS người Bắc, GK tươi cười nói với chàng:
-Ông dạy hay lắm! Chúc mừng ông!.
Chàng nghe mà mát ruột , mát gan vô cùng . Tại Trường Petrus Ký, một GS điều hành cuộc thi, đứng nhìn bảng phê điểm của hai vị GK, ngồi gần lối ra vào, nói to:
- Chắc đậu qúá!.
Chàng nghe thoáng, lòng vui khôn tả. Bài dạy môn CD tại Trường Petrus Ký, suýt nữa bị hỏng, vì HS nói chuyện ồn ào khi thấy ông thầy dạy là quân nhân lạ hoắc, không phải sư phụ thường ngàỵ của chúng. Các GK tỏ ra khó chịu ra mặt khi lớp học náo nhiệt như cái chợ ba mươi. Có biết bao thí sinh thi hỏng vì không giữ trật tự, không nắm được lớp học, không làm chủ được bài mình đang dạy. Chàng bối rối vài giây, rồi bình tĩnh đối phó tình huống lớp hoc và HS bất trị này. Chàng dùng tài kể chuyện của mình . Chàng bắt đầu kể chuyện . Chàng không dạy nữa. Chàng nói trời, trăng , mây , nước. HS thấy lạ tai , hấp dẫn . Chúng tỏ ra chăm chú, ngồi yên, lặng nghe câu chuyện vui thầy kể mạch lạc, sống động . Nhận thấy HS đã ổn định , lớp học đã im lặng, chàng từ từ đưa vào bài dạy một cách mạch lạc, khéo léo cho đến hết tiết học. HS trong lớp tỏ ra mến ông thầy dự thi SPTH . Một số nhao nhao, sau giờ dạy :
-Thầy dạy trường nào, vậy thầy?.
Chàng nở mày, nở mặt vô cùng. Rồi tiếp theo hôm sau, chàng vào thi vấn đáp . Cũng hai GSGK hỏi bài . Sau này, kết quả gởi đến chàng, chứng nhận đậu bằng KNSPTC. Chàng đỗ xếp hạng cao và được chuyển ngạch sang GSTHĐIC, bổ nhiệm dạy tại Trường TH Tháp Chàm.
Thầy TN Mai , học khóa 24/VBTĐ, khóa đàn em của chàng. Thầy trò gặp nhau mừng rỡ , vui vẻ hết nói. Thầy căn dặn chàng:
- Trước khi dạy, em nên nhớ ghi vào sổ đầu bài môn dạy.
Thầy đang dạy tại Trưòng TH Trần Hưng Đạo /ĐL thì bị động viên học TBBTĐù . Trong thời gian nghỉ phép cuối tuần, hay dự thi SPTC, chàng ngụ tại nhà bà con bên Ngoại, gốc QN, ở Đường Nguyễn Kim CL. Cậu mợ có một con trai, ba cô gái. Các người con đều nói rặc giọng SG . Cô gái lớn tên Ninh , có bồ nhưng lại khoái anh bạn SVSQ , gốc QN, đẹp trai, anh Nam, cùng ĐĐ với chàng. Nguyên dẫn bạn về nhà cậu mợ chơi là vì cô gái xinh đẹp, thứ nữ của người bà con, tên Na. Nhưng bà chị lại mê mẫn chàng Kim Trọng này, nên nói với Nguyên:
- Cậu hãy giới thệu tôi cho anh Nam . Nếu anh ta đồng ý tiến đến hôn nhân với tôi , tôi sẽ cho "chả" dọt.
Thật hết ngõ nói. “Chả”là ý trung nhân của Ninh. Cho hay con trai khôi ngô , tuấn tú, là đá nam châm, thu hút nữ nhi dễ dàng khộng ít . Vì vậy, ngườii xưa có câu “Trai ham sắc Gái ham tài” không đúng lắm đâu. Nhiều khi, phải nói ngược lại mới đúng sự thật. Nhà văn Khái Hưng đã từng nói:
- Muốn phụ nữ yêu mình thì nam nhân phải thật khôi ngô, tuấn tú. Thứ đến, mới nói cái tãi nổi bật.
Còn câu nói:’Trai khôn tìm vợ chợ đông, Gái khôn tìm chồng giữa đám ba quân” ám chỉ nữ nhân thích người trai can đảm, hùng dũng, tháo vác, mưu trí hơn người. Còn nam nhân thích cô gái lanh lẹ khôn khéo, có tài buôn bán, làm ăn , tính toán, ứng xử giỏi dang với cuộc sống sô bồ đa đoan , phức tạp, trong xã hội nhiêu khê.
Cuối cùng , chị Ninh se duyên với một SQ ngành Quân Cụ, làm việc tại SG. Anh ta không đẹp trai. Nhưng chữ thọ cũng đáng giá ngàn vàng . Trong lúc Nguyên nằm viện, chàng gặp một công chức làm việc tại BTTM/SG dụ khị chạy chọt đút lót , khi ra trường sẽ chuyển sanh ngành ANQĐ. Chàng vui vẻ tin tưởng bịnh nhân , gốc Bắc , nằm cùng Phòng , nhà ở Phú Nhuận . Chàng nộp tiền tất cả hai lần , vì y nói:
-Anh em đông quá! Phải cho họ nhậu thì mới được việc. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn.
Chàng ngây thơ, nhẹ dạ, cả tin , nên bị lừa. Cuối cùng, tiền mất, tật mang . Ngày ra trường, vẫn là BB, tác chiến. Chàng đến nhà y ở Phú Nhuận . Y tỏ ra sợ hãi khi trông thấy chàng vì sợ chàng tố cáo tội lừa đảo, gạt gẫm của y . Thực ra, chàng đỗ ra trường hạng cao, nên chọn TKNT, tỉnh nhà. Chàng cũng hài lòng rồi. Vả lại, chàng hiền khô, không hề có ý làm khó dễ y. Y đon đã mời chàng đi ăn . Bà vợ cũng gốc Bắc, không hiểu việc chồng, cứ nghĩ chàng mời ông ta đi nhà hàng . Bà thật thà nhìn lang quân nói:
-Ông đi ăn chực đấy phải không?.
Y sượng sùng , không nói gì , ngượng nghịu bước nhanh ra cửa , đi theo chàng. Có lẽ y ít đãi ai, chỉ chuyên đi ăn chùa, nên bà vợ nói thế.
Trong lúc đang học GĐ1 ở Quân Trường, thì chàng thi đậu vào TĐ chuẩn bị đi học Fort Benning (một Trường BB danh tiếng ỡ Mỹ, chuyên đào tạo cán bộ chỉ huy các cấp , nhất là cán bộ QuânTrường). Lúc bấy giờ, TTá Brown và một số SQ HK phụ trách huấn luyện TĐ đặc biệt này. Một Tr Tá Mỹ, gốc West Point, Chỉ Huy Trưởng Phái Đoàn MACV tại Quân Trường. Ông ta xếp sòng đám Mỹ làm việc với CHT TBB/TĐ. Lúc đó Ch /Tướng TVTrung, Huế, CG, có cô vợ trẻ đẹp vô cùng, đổi về phụ trách TC/CTCT .Th/Tướng Bùi Hữu Nhơn thuyên chuyển đến thay thế . Ngày làm lễ ra trường, khóa 23 VBTD, TT/NVT, đáp phi cơ trực thăng , từ Dinh ĐL, lên gắn lon cho SVSQ Thủ Khoa. (Chọn một trong năm người đứng đầu bảng) . Trong thời gian chàng bị bịnh, Ông Hải có vào SG , lên thăm con. Cuối tuần, nghỉ phép, Ông đưa con lại nhà Ông NXT , cựu TTNT, bà con với TTNVT và là chú ruột của DSNKT . Lúc đó, Ông Tích làm CT/GSV . Ông Tich vắng nhà. Họ chỉ gặp một cụ, bà con bên vợ của Ông Tích. Ông ta có đôi tai lớn như tai Phật . Tướng ông này phúc hậu, hiền khô. Ông già rồi , bụng hơi lớn. Ông vui vẻ , hay cười như Đức Di Lặc Bồ Tát. Ông Hải muốn gặp mặt Ông Thầy cũ lúc trước, ông làm tùy phái tại tỉnh nhà, dưới quyền ông ta . Nhưng Ông không có may mắn diện kiến cố nhân. Hai người buồn bã ra về. Hôm sau, Ông Hải đáp xe về PR. Bây giờ, Nguyên cầm SVL vềTKNT, như ý gia đình chàng mong muốn. Chàng cũng vui lắm!
”May thay chọn được quê nhà,
Bản thân vui vẻ, mẹ cha hài lòng”.
2)VỀ TIỂU KHU NINH THUẬN
Nguyên về nhà nghỉ phép thoải mái, một tuần lễ, thì chàng trình diện TK. Ông Hải lo cho con được ở gần. Ông làm tại Tòa HCNT . Ông nhờ người quen nói giùm. Nhưng không ai chịu giúp đỡ cả. Ngay ThTá HC Duân, Phó TTNA, TKP , cũng từ chối. Ông ta nói rằng: ”Tôi không có quyền”. Ba cậu có xin trực tiếp Tr. Tá KVH TT kiêm TKT NT. Nhưng ông này không chịu giúp mặc dù Ông là Quan Đầu Tỉnh, coi về Quân Sự lẫn Hành Chánh. Có ThS L làm Phòng Ba, quê Tri Thủy, bà con với TTNVT, hứa nói giúp với ThTá NVTh, CG, gốc Bắc. Ông ta xuất thân từ Trường VBTD, nhưng đã chuyển sang hiện dịch, giữ chức vụ TMT/TKNT. Ông này nễ nang người bà con của TT, hứa sẽ giúp đỡ. Trong cuộc vận động bầu cử TT và QH sắp tới , TK tổ chức các buổi thuyết trình học tập chính trị tại Hội Trường TK . Thuyết trình viên bao gồm các SQ có trình độ văn hóa cao, từ các ĐĐ Tác Chiến (TC) được triệu về Hội Trường TK. Nguyên từ ĐĐ 116/ ĐPQ được gọi về TK dự thuyết trình (ĐĐ 116/ĐPQ do Th/Uý PĐH chỉ huy, lúc đó đóng tại Quận Lỵ Du Long), Chàng được làm việc tại P 5/TK một thời gian, sau cuộc thuyết trình học tập chính trị. Chàng phụ trách giảng dạy bầu cử các ĐĐ về tài liệu chính trị và thể thức bầu cử. Chàng tốt nghiệp khóa CTCT Căn Bản tại QĐ2, Khóa 9, khoảng giữa năm 1967. (Ra trường VBTĐ với cấp bậc Chuẩn úy tháng 4/1967. Học khóa CTCT gần tháng. Khóa sinh bao gồm SQ và HSQ thuộc Vùng 2 CT. Trong khóa có Hòa em chàng, Th/Uy ĐĐT Tác Chiến (TC) . Tại P5 còn có anh Thành ( Huynh Trưởng Phật Tử trước kia) và TS Nghĩa. Ba nói thù lao cho TS L. là mười ngàn, nhưng sau đó Tr Tá KVH bác, không cho chàng làm P 5. Tiền mất, tật mang. Th /Tá Th đi học Khóa TMCC. Đ/Uý ÂQChút. Quận Trưởng QTH về làm TMTTKNT thế ông ta. Trưởng phòng 5, lúc bấy giờ, là Tr/Uy Phạm C. Ông này làm hành tỏi với chú vợ anh NVTh và là bạn của Đ/U Ch. Hai người đều quê quán Nha Trang. Nguyễn Văn Th. là bạn học cùng lớp tại Trường THDT trong nhiều năm với Nguyên . Th. cũng là đồng nghiệp với chàng. Vì thế, anh ta từ đơn vị TC thuyên chuyển về TK, thay thế chàng. TMT , ĐU Ch có thớ và có quyền hạn lúc đó. Ông đã loại chàng ra khỏi TK cái ót, trời ạ! Lúc đó, Ba chàng đã chết vì bịnh cao máu. Chàng có Mẫu số 8 do BS Dư cấp vì bịnh phong thấp. Cũng do Ba chàng quen với thân phụ BS Dư , gốc Huế. Lúc đo, YS Tr/Uý NVDư , làm Tr ĐT Lựa Thương tại BVPR (BS Dư là DânY Sỹ, bị trưng tập). Đ/U Ch. nói với chàng, khi chàng thuyên chuyển ra làm SQCTCT ĐĐ 952, đóng tại Cầu Đao Long PR:
- Được làm chỗ tốt không tác chiến hay ngược lại, do quen hay không, chứ mười cái mẫu số 8, cũng bỏ không . Không ai xét cho đâu .
Ý ông muốn nói là phải bè phái, thân thế hay chạy chọt, đút lót mời được chỗ tốt. Còn cu ki, không quen biết, không tài chánh , thì phải chịu tác chiến, gian khổ thôi . “ Nhât thế , nhì thân, tam quyền, tứ lót” Câu nói thịnh hành lúc ấy. Chàng làm việc tại ĐĐ này. Lúc đầu, cử giữ chức ĐĐP kiêm SQAN và CTCT. Chàng không ưa chức quyền trong quân ngũ, lại thấy các SQ khác không thích , nên chàng từ chối, chỉ xin làm SQCTCT thôi. Chàng ngủ đêm tại Cầu ĐL hay Dinh Tỉnh . Tr/Uy ĐĐT/ Phạm S, gốc Mỹ An, bị tật ở tay , nói năng rất thô lỗ, tục tằng, hay chửi thề. Ôâng đi lính từ thời Pháp thuộcà. Một thời gian sau, Tr/Tá Ngô Hán Đ., SQ Thiết Giáp, về làm TT kiêm TKT TKNT, thay thế Tr Tá Kha Vạn H. Ông này đẹp trai, gốc Bắc có vợ Huế. Em vợ mới ra trường , cấp bậc Ch/Úy, chuyển về TK. Cậu ta được chuyển ra ĐĐ 952 là ĐĐ đóng tại Thị xã. Thế là ưu tiên nhất rồi. Bà vợ kiềng riềng, giận dữ, nói với chồng:
-Ông là Quan Đầu Tỉnh , mà để em tôi nằm ngoài Cầu ĐL ư ? Lỡ đêm nay, VC thụt B40 làm em tôi chết thì sao? .
Th Sỹ TĐT TĐDT, kể lại cho chàng nghe sau đó . Thế là TKT vội vã lấy xe Jeep, tự lái ra Cầu ĐL, rước cậu ấm về ngủ đêm đó tại Dinh Tỉnh. Lúc bấy giờ, ĐU TMT Ch đã gọi điện thoại cho ĐĐT S.
- Xin thông cảm nhé! Phải chấp hành lịnh Thượng Cấp. .
Ngày hôm sau, Th Tá TKP Hoàng Công D. dẫn công tử Thừa Thiên đi thăm hết các Phòng, Ban TKNT và ngọt ngào nói vởi Hiệp Sĩ vùng Sông Hương-Núi Ngự:
- Em thích làm việc Ban nào, Phòng nào, cứ nói đi?.
Hiệp sĩ lắc đầu, không chịu làm Phòng/ Ban nào cả . Thế mới chết chứ! Nghe nói, sau đó, anh ta đi học võ thuật tại Trường BBTĐ. Rồi về làm SQP1 lên tới Đ/U thì tan hàng . Tr Tá NHĐ , một hôm họp Ban TMTK , phán một câu xanh dờn :
- Tôi biết tại TK này, có nhiều lính Tàu, lính kiểng, lính ma lắm !
Tuy nhiên, sau đó, nghe nói , có hơn ba mươi trự sính sáng, sì thẩu , vào các Phòng Ban TKNT, đông gấp mấy lần ngày trước. Điều đó cũng dễ hiểu thôi:
”Có tiền mua chức mua tiên
Dân nghèo mới phải liên miên quân hành”.
+++ CHA NGUYÊN ĐỘT TỬ
“Người cha khả kính vô vàn
Não kia tai biến, máu tràn hôn mê.
Máu cao, bịnh đã nặng nề
Bó tay bệnh viện, cha về cõi âm.
Vợ con thương tiếc vô cùng
Sinh ly, tử biệt, não nùng tang gia”.
Nguyên còn nhớ, hôm đó, chàng đang trên đường về nhà, thì thằng Hiệp , em chàng , đạp xe đi làm , (CS đóng tại Trạm An Long ) cho chàng hay “ Ba chàng bị hôn mê tại nhà” . Sau đó, chàng mời BS Lai, trên đường NQ. BS khám xong, không biết bịnh gì. Ông nghi bịnh sốt rét ác tính (?) . Khuyên đưa vào BVPR gấp. Tại đây, lúc đó, có BS Mỹ, trẻ, khám, cho thuốc. Nhưng ông không tỉnh được. Sau đó, BS Việt, người Bắc, mới ra trường, cháu Th Tá Th. , TMT /TKNT, khám . Ông ta lấy kim lớn, đâm vào cột sống, thì thấy nước tủy có lợn cợn máu. Ông Hải bị tai biến mạch máu não. Đứt mạch máu não. Ông đã từ trần sau đó . Ông ra đi êm ả vào lúc 4 giờ chiều, ngày 27 tháng 5 năm Đinh Mùi (1967) . Tiểu khu có ThTá Th, Đ /U Â Q Ch,, Trưởng Phòng Ba, đến nhà Nguyên chia buồn . Ông Ch có chấp tay, xá trước di ảnh kẻ quá cố trên bàn thờ, cạnh linh quang và bàn Phật. Ông Th thì không vì ông là CG. ( Sau đó, TT Th đi học khóa TMCC, thì Đ/U Ch lên làm TMTTK/NT, thay thế. Ông Ch là bạn của Tr/U C. TP Năm TK. Họ đưa chàng ra khỏi TK khi C/U NVTh., bạn học và đồng nghiệp của chàng, về thay làm SQCTCT/TKNT. Ông Ch lên đến Tr Tá thì đổi đi Vùng I CT. Tr Tá Cẩn về thay. Lúc đó, ĐTá Tự làm TKT kiêm TTNT). TKNT vàTy CSQG cấp xe giúp đỡ gia đình kẻ xấu số, lo viêc an táng tại NTPGĐSPR. Vài hôm sau, Hòa từ Quãng Đức, đưọc về phép thăm cha đã đột tử. Lúc đó, hai anh em vào gặp Tr Tá KV Huy , TKT, kiêm TTNT, để cảm tạ đã gởi tiền phúng điếu và giúp đỡ tang gia. Chẳng bao lâu, Hòa được chuyển từ Quãng Đức về TKNT, vì gia cảnh neo đơn. Cha chết, mẹ già yếu .
”Nỗi buồn cha mất quá đau.
Người cha tận tụy, bạc đầu vì con.
Một đời vất vả , héo hon
Ơn cha trời biển, núi non ngút ngàn”.
+++ MỐI TÌNH NHATRANG
Chàng nằm QYV/ Nguyễn Huệ Nha Trang.Tình cờ, lại gặp cố nhân, má hồng . Nàng và chàng đã từng gặp nhau trước kia tại nhà nàng, khi chàng đến chơi.
“ Em người bạn học đồng môn.
Hai bên cùng liếc. Hai lòng OK.
Hộ Sinh Y Tá rành nghề
Thuyền quyên thương mến, đi về thăm nom.
Dáng gầy, da trắng, tóc bồng
“Ba Sinh Hương Lửa” quyết lòng với ai.
Dương xanh, bãi tắm tuyệt vời
Cô đơn hai kẻ tìm tòi đến nhau.
Tình yêu chan chứa một màu
Mùa xuân rực rỡ, nắng đào long lanh “
Lúc bấy giờ , ĐĐ 952 bao gồm nhiều đơn vị đóng rải rác xung quanh thị xã: Cầu ĐL, Dinh Tỉnh , BótTấn Lợi, MACV. Chàng khai bịnh, đi nằm QYV NH/NT, vì không hợp với đời sống nhà binh và cũng vì bịnh tật tùm lum . Chàng nằm viện nhiều lần. Một cuộc tình mới bắt đầu tại đây. Nguyên có quen cô G . Nàng là em gái anh bạn NC. Anh cùng học SPNT với chàng. Gia đình Công Giáo, gốcTuy An, PY. Nhà ở thành phố NT. Cha nàng là công chức Ty Công Chánh NT. Hồi trước, chàng có ghé thăm nhà nàng mấy lần . Cô bé trắng trẻo, cao ráo, dễ thương, không ngờ bây giờ là y tá hộ sinh cho BS Qu. Nguyên tình cờ gặp lại cố nhân . Thật là duyên nợ Ba Sinh cứ theo mãi. Nàng nhờ quen biết với BS Phùng Qưốc A. Y Sỹ Tr Tá,YS Trưởng QYVNH ( BS này cũng dân Bắc, bạn với BS Qu, nên được khám bệnh tại Phòng Mạch ông ta, vào cuối tuần, kiếm thêm tiền. Cho nên, BS A nói với BS Nguyễn Tam Th. YS ĐU khám bệnh bên Khoa Nội, Trung Tâm Hồi Lực, gần bãi biển NT. T Tá Đặng M., SQHCQY, CHT TT này. Tại đây, Nguyên gặp anh Thu, bạn đồng môn DT, quê ở Đắc Nhơn , hiện làm SQHL, tại Trường HSQĐĐNT. Anh bị bịnh dạ dày. Ngoài ra, chàng còn gặp Tr/Uy Nhung , người SG tại đây. Anh là bạn của một SQHCQY gốc Bắc, làm việc tại TTHL , giúp đỡ cho anh nằm dưỡng sức lâu dài. Anh bị ChTướng TQÂn, TLSĐ23BB, đì sát ván, cách chức ĐĐT/ TS TrĐ, xuống làm TrĐT . Vì vậy, anh khai bịnh, nghỉ ngơi, tỉnh tâm một thời gian.
Thời gian nằm viện thật thoải mái, vui vẻ. Theo yêu cầu của gia đình nàng, Má Nguyên từ PR ra thăm, đã tổ chức lê hợp thức hóa phu the cho hai người. Suôi gia đôi đàng êm ả, vui vày. Lúc này, G đã có con với Nguyên, một bé trai giống chàng như đúc, nhưng nước da trắng giống mẹ. Đáng lẽ Nguyên phải thương vợ con hơn. Tuy nhiên, khi biệt phái về Bộ GD ở SG, chàng đã lơ là người tình ở xa . Chàng đã phiêu lưu tình cảm với cô gái khác. Đó là tội lỗi không nên làm . Sau này, chàng rất hối hận. G đã yêu chàng tha thiết. Nàng chìu chuộng chàng hết mực . Chỉ vì khác đức tin mà đâm ra phụ rẩy cô gái đáng thương.
PHẦN V: BIỆT PHÁI BỘ GIÁO DỤC
Chàng nhận SVL “ Biệt Phái Bộ GD”, vì là gốc GV, ngày 26/3/1969. Chàng vô SG trình diện, sau khi ghé nhà ở PR vài hôm . Chàng ngụ tại CLBSQAĐ (Anh Ch., anh của G, nhường giường ngủ tại đây cho chàng. Anh về NT với vợ con). Đa số SQ độc thân hay nhà ở xa, cư ngự tại đây. Chàng đến Trường ĐHVKSG xem tình hình . Còn hai tháng nữa là thi các chứng chỉ khóa 1. Nguyên lại VP xin ghi danh. Lúc đầu, NV phụ trách không cho, vì đã quá trể. Cũng may là chàng còn giữ các thẻ SV cũ. Đã ghi danh và đóng tiền nhiều niên khóa trước đây, nhưng vì ở xa trường và là lính chiến, không có đủ bài vở, nên bỏ thi. Chàng cứ ghi danh DBAV (Khi thì nhờ anh TĐVăn , người Hoa, bạn học DT trước kia và đã học cùng lớp Nhất do cô TNĐ phụ trách. Anh ở SG . Tuy nhiên, anh ta gởi không đủ bài . Chàng ghi danh mãi mà không có bài học đầy đủ đễ dự thi. Vả lại, học Ban AV mà ở xa trường, khó lòng thi đậu. Người phụ trách thuộc Phòng HV, xem qua các thẻ SV. Ông thương tình , cho chàng ghi danh và bảo đi khám sức khỏe gấp, để dự thi Khóa 1, n/k 1968/1969, sẽ tổ chức trong tháng 5
1) HỌC ĐHVK/SG
“Bây giờ đi học Văn Khoa
Môn Anh ưa chuộng, ước mơ những ngày.
Rồng kia gặp hội lên mây
Văn chương, chữ nghĩa, hương bay ngát trường”.
Chàng mừng quýnh. Cầm thẻ SV trên tay, chàng rảo bước đến Giảng Đưòng rộng thênh thang, tầng trệt. SV đang túa ra , vì là giờ tan học . Thấp thoáng xa xa có Bà GS người My, nhỏ con, người tầm thước, từ lớp học bưóc ra. Về sau, mới biết Bà tên Southerland. Bà dạy các CCAV và DBAV . Bà dạy môn luận văn . Chàng gặp SVĐD/CCDBAV. Anh này, người Nam, nhỏ con, trẻ, khoảng chừng 19, 20 tuổi là cùng. Chàng trình thẻ SV để mua cua. Chàng lúc bấy giờ, lòng như mở cờ, giống trống tưng bừng, rộn ra, vì chàng rất hiếu học, yêu thích văn chương, chữ nghĩa . Như ”Cá gặp nước, rồng gặp mây”.
“ Tâm hồn phơi phới ngát hương
Thong dong đi học văn chương làm thầy.
Tiếng Anh ưa thích lâu nay
Cá mà gặp nước, rồng bay lên trời”.
Dạy lớp DBAV, lúc đó, gồm nhiều GS, vì số SV quá đông. GS ĐKHoan , GSNLThiện, GS NHTrí , dạy VHS Anh, Mỹ. GS Thọ, Tham Vụ Ngoại Giao, Huế , đẹp trai, dạy Môn Văn Phạm AV. GS Southerland dạy TLV. Sách mua đủ. Nhưng bài ghi chép thì không có in ra cua. Chàng đứng tại cầu thang. Các cô SVBAV túa ra. Các nàng tha thướt trong tà áo dài đủ màu sắc. Đa phần trẻ trung, xinh đẹp. Thấy anh chàng mặc quân phục ham học, họ vui vẻ cho mượn vở chép bài . Cô Sương, người SG, cho mượn vở ghi chép linh tinh về VHSA. Cô Nhung, người Nam, mụ mẫm, dễ thương, cho mượn vở ghi VP, bài giảng của GS Thọ. Cuốn vở dày khoảng 200 trang. Khiếp thật! Còn môn Listening do GS Mỹ Beiler dạy, chưá mượn được. Ngoài ra, có nhiều cua các môn khác nữa. CCDBAV bao gồm bốn môn học:
-Anh Văn (HS 2), Triết Đông+ Triết Tây (GSND Cần và GSNV Trung) (HS1) Việt Đại Cương (GS Trung+ GS LM Thanh Lãng , HS1) Pháp ĐC (Bà Duplessy+ GS LT Nhiên) (HS1). Bài vở cao như núi. Trông thấy mà ngán ngẫm làm sao! Nguyên khệ nệ ôm một chồng , cuốc bộ từ Trường ĐHVKSG, đi dọc các đại lộ, ngang qua Tòa ĐS Anh’, Chợ Bến Thành đến Bến Xe Buýt, để đáp xe về CLB/SQAĐ/CL, số 100 đường Hồng Bàng, Quận 5 CL. Chàng gặp thầy NT Văn, mang lon Th/Uy/ QC, đứng gác gần Chợ BT và Bến Xe Buýt. Chàng chào thầy cũ ở DT trước đây. Thấy chàng đi học VK, thày tươi cười khuyến khích;
- Đi học thêm, tốt lắm em à!.
Chàng cám ơn thầy. Thầy vẫn trẻ và đẹp trai.như xưa.
Thế là chàng , ban ngày, vừa đi làm , vừa đi học. Ban đêm , ngồi chép bài đến khuya. ”Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Khi mới vào SG và trình diện Bộ GD, chàng làm tại Nha Huấn Luyện Quân Sự Học Đường ( QSHD). GĐốc lúc ấy là GS Tăng Kim Tây. Sau Nha này đổi tên là Nha Sinh Họat HĐ. Trụ sở của Nha nằm gần Sân VĐ Hoa Lư và cũng gần Trường VK và ĐH NLS . Phục vụ một thời gian tại đây, chàng chuyển qua Nha Học Bổng Và Du Học ( HBVDH), cũng thuộc Bộ GD. Cơ sở nàm bên lề đường Lê Thánh Tôn, sát Bộ GD . Ban ngày, Chàng làm việc tuy mệt nhọc, vất vả, nhưng tối lại , vùi đầu học và chép bài. Chàng chép bài ròng rã một tháng mới hết các tài liệu mượn được của các bạn học cùng lớp mới quen, vì ban ngày phải đi làm và đi học. Chỉ chép ban đêm thôi. Chàng còn có một tháng để học bài thi. Chương trình cả năm dài thoòng, mà chàng chỉ có vỏn vẹn khoảng 30 ngày để học thi cho kịp khóa 1, vào tháng 5/1969. Tuy nhiên, nhờ tài ăn nói lưu loát và có vốn kiến thức qua nhiều năm đọc sách báo đủ loại, nên các môn Việt và Triết, chàng theo học thong thả. Kỷ niệm vui nhất chàng nhớ mãi. Đó là hôm ấy, GS NVTrung giảng về”Hiện Tượng Học”, “Hiện tượng bao hàm “môn ĐC Triết Tây. Chàng ghi chép cẩn thận bài giảng và chàng thuộc bài luôn sau hai giờ phụ trách của GS Trung. Nhờ đã xem qua bốn cuốn “Nhận Định” và “Ca Tụng Thân Xac” của ông, nên chàng lãnh hội đưọc bài giảng của GS Triết Tây. Chàng đang ghi chép, thì một cô gái xinh đẹp, khoảng 22, 23 tuổi , đi vào ngồi gần chàng. Cô ta ghi chép không đầy đủ, nên ngõ ý nhờ chàng giảng lại cho cô ta hiểu ý chính của bài học hôm đó. Vì thế, sau giờ học, theo yêu cầu của người đẹp, Nguyên đi vào một giảng đường trống, nhỏ, ngồi nói lại bài dạy của GS Triết. Chàng giảng thao thao, bất tuyệt, thêm ý cho bài học phong phú , màu sắc dễ hiểu. Cô ta tỏ ra mến phục chàng ra mặt. Giai nhân mắt long lanh, chiếc mũi dọc dừa, thanh tú, làn mi cong vút. Nàng ngước nhìn chàng như bị thu hút. Khi chàng giảng hết bài học, nàng tươi cười, vui vẻ nói:
-Anh giảng bài rõ ràng, dễ hiểu ghê! Cám ơn anh! .
Bỗng một thục nữ cũng ngưởi Nam , khoảng 19, 20 xuân xanh, nghe hai người nói chuyện, từ bên ngoài bước vô lóp. Đó là Trâm, bạn học của Ngọc, người vừa nhờ chàng giảng lại bài Triết. Cô Trâm cũng xinh đẹp, không thua kémụ Ngọc .
” Mỗi ngưòi mỗi vẻ, mươi phân vẹn mười” .
“Xuân lan, thu cúc mặn mà cả hai” (Kiều)
“ Kẻ non tám lạng, ngưòi già nửa cân”.
Tuy nhiên, cô Trâm trẻ hơn. Cả hai là SV lớp DBAV. Hai người dắt tay nhau ra khỏi lớp. Chừng vài phút sau, Trâm lại quay vào phòng gặp chàng. Nàng tươi cười nói đùa:
-Cô Ngọc đẹp ghê quá! Phải không anh? Đừng có mếch, nghe chưa? Hoa đã có chủ rồi đấy! Gái một con trông mòn con mắt.
Nói xong, giai nhân thích chí cười khúc khích , rồi đi xuống bậc tam cấp, ra sân. Cô ta thật tinh nghịch, ranh mãnh. Chàng ngâm khẻ:
“Văn Khoa, người đẹp nhởn nhơ
Hai nàng thục nữ lượn lờ hành lang.
Môi xinh, mắt biếc, má hường
Hắt hiu vàng nắng cũng vương vấn tình”.
Từ đó , Nguyên đã có vài bạn theo học chung với chàng. Họ cùng ôn bài thi các môn. Họ thường ngồi trên hành lang VK hay về học tại CLB/SQAĐ. Họ thường ngồi trong ghế bành, trước hành lang CLB. Thu , cô bạn học mới, quê Vũng Tàu, thường đến học chung với chàng. Nàng trắng trẻo, dễ thương. Tuy nhiên, mới nhìn qua thì đẹp, song ngắm lâu, thì nét duyên dáng giảm bớt. Vẻ diễm lệ không giữ được lâu dài, như các giai nhân khác. Nàng là thiếu nữ có nhan sắc ,nhưng nói chuyện, lại không có duyên lắm. Có những cô da ngăm hay đôi mắt không đẹp lắm. Gương mặt cũng bình thường, Nhưng khi nói chuyện, rất có duyên. Giọng trở nên ấm áp, thỏ the, dịu dàng, lôi cuốn người nghe vô cùng:
“Thoạt nhìn, gương mặt dễ thương.
Nhưng khi nói chuyện, lại thường kém duyên.
Có cô da dẫu hơi đen
Nói, cười, thì lại tăng thêm mặn mà.”
“Giai nhân trò chuyện chẳng duyên
Người không đẹp, gây cảm tình nói năng”.
Khi người đẹp ra về , anh Bảy , ngưòi bạn cùng phòng Nguyên, nói đùa:
-Sao ông bạn có nhiều cô học chung thế? Đào hoa quá hé! Cô này dễ thương ghê. Nhưng nhìn lâu, thì không có duyên.lắm. Tuy nhiên, hôn được đấy!
Nói xong, anh ta cười ha hả, tỏ ra thích chí và tiến lại bàn bi da, nơi có người bạn đang đợi nhập cuộc, phía trước hiên CLB. Trong khi đó, thì Nguyên tranh thủ đặt ra đầu đề “văn nghị luận luân lý” để tự làm bài , luyện tập cách hành văn, viết câu cho đúng văn phạm , ngữ pháp . Mỗi tuần, chàng nhờ Bà Southerland chấm hộ bốn bài luận Anh Văn, thuộc thể loại này.
”Rảnh rang , tập viết tiếng Anh.
Loại văn nghị luận, cho rành, cho chuyên.
Câu văn người đọc hiểu liền.
Lại đúng văn phạm, tiến thêm môn này”.
Bà GS Mỹ thấy quân nhân hiếu học, nên thương tình , gíúp đỡ. Bà chấm bài luận văn cho chàng rất kỹ lưỡng, sửa chữa những từ dùng sai, cách hành văn non-English của chàng. Cuối cùng, không cho điểm nhưng đề V+ hay V- hay V với lời phê rõ ràng. Chữ Bà viết in rất đẹp. Nhờ thế, hai tháng sau, Nguyên đã tiến bộ khi viết tiếng Anh. Chàng có thể viết thẳng, không cân làm nháp như trước đây.
Chẳng bao lâu, đã đến kỳ thi Khóa 1 , vào giữa tháng 5/1969. Chàng dự thi DBAV các môn như sau:
1) Một bài nghị luận luân lý Anh Văn
2) Một bài luận về VHS Anh (Shakespeare)
3) Một bài thi Listening,A,B,C.D.,E khoanh , do GS Beiler đọc
4).Một bài Văn Phạm AV
5) Một bài luận Triết Đông
6) Một bài luận văn VHVN thế kỷ 15 (Thế Hệ Dấng Thân Yê Đời ) cuả GS TLãng. Bốn môn AV thi trong bốn giờ. Thi xong, chàng thấy nhẹ nhàng vô cùng. Hai tháng trời mài kinh, nấu sử. Hai tháng, gạo ngày, đêm, vưà đi làm , vừa đi học. Trời gian trôi qua thật nhanh. Như “Bóng câu qua cử sổ”. “Bóng ngựa trắng lướt nhanh qua song cửa” . Khoảng gần năm trăm thí sinh Ban DBAV thi ky1. Nhưng trúng tuyền chừng một trăm SV, Số hỏng thi quá nhiều. Kết quả, điểm của chàng thật quá khiêm nhường: AV:23.75 (HS2) , Pháp văn 11.50/20 . Triết Đông: 10/20. Việt văn 05/20 ( Điểm loại mỗi môn ấn định là dưới 4, vào thời điểm đó). Tổng cộng số điểm là 50.25 ( Chỉ dư có 1/4 điểm). Bài luận VV , điểm quá yếu. Nghe nói , GS Phụ khảo của Cha Lãng, Ông R, chấm cho điểm quá gắt. Hồi còn HSTH, chàng thường đứng nhất môn luận văn với điểm 14 hay 15/20. Bài luận được GS cho đọc mẫu để cả lớp nghe. Không ngờ kỳ này đạt điểm quá tệ.
”Ngày xưa đứng nhất luận văn.
Bây giờ điểm thấp bốn môn, năm đầu.
May mà qua ải gian lao.
Chiếc cầu “Dự Bị”xiết bao bập dầm.”
Xem thấy tên mình trên Bảng Vàng, Nguyên mừng quýnh. Anh Thủy, người Bắc, gốc GS khoa học, SQBP, ngụ cùng phòng , khen chàng:
-Anh cừ thật. Học có hai tháng mà đậu được.
Chàng lấy đà học tiếp các chứng chỉ. Chàng ghi danh VMVN và một chứng chỉ AV. Lúc đó, chàng chưa về Nha HBVDH. Chàng từ Nha HLSQHĐ chuyển qua công tác tại Phòng HLQS , thuộc Trường ĐH Luật Kkoa /SG, dưới quyền Th Tá Kế. Một thời gian sau, ông ta đổi đi nơi khác, nghe nói BTTM. Một ThTá khác, người Nam , đến thay ông. Các SVĐH nghỉ hè, được đưa đi học QS tại Trung Tâm Huấn Luyện QT. Lúc này , chàng còn ở CLB/SQAĐ/CL. Chàng đến nhà PTLHằng, em ruột PTLHồng, bạn học DT ngày xưa, mượn cua VMVN. Chàng nghe nói Hồng đã lấy chồng ngưòi Nam và đi xa (Về sau, mới biết anh ta tên Nghiệp, SQ Phòng Nhi). Chàng gặp chị Hương tại nhà. Lúc đó, Hằng vừa đậu VMVN và NHA. (Sau này, Hằng có chồng người Bắc, cũng học ban AV. Tuy nhiên, sau khi qua Mỹ, Hổng bảo chồng nàng là QGHC. Chàng không rõ, có phải anh đó không). Lúc ở Quân Trường, coi SV học QS, chàng bị bịnh thấp khớp . Chàng nằm bệnh xá. BS cho đi chụp hình xương sống tại TYVCH. Tại TTHLQT chàng gặp ĐH Dũng . con Thầy ĐMinh, tốt nghiệp ĐHSP Ban LH, đang thụ huấn 9 tuần QS tại đây. Lúc đo, Hiệp , em chàng, đã gởi xe đò chuyển vào chàng chiếc Bridgestone, màu đen, chàng đã mua từ năm 1967. Khi biệt phái, chàng để tại nhà cho em dùng. Nay có phương tiện đi làm và đi học thêm, thật tiện lợi cho chàng. Khi mãn khóa QS dành cho SVĐH/SG trở về Trường Luật, ThTá Trưởng phòng QS trả chàng về Nha HLQSHĐ. Tại đây, chàng làm việc với Tr/Uy Tiết , gốc Bắc. Ông này quá khó khăn, theo dõi từng ly, từng tí. Do đó, chàng xin chuyển qua Nha HBVDH . Nha này cạnh Bộ GD, nằm trên đường Lê Thánh Tôn. Lúc đó, BS Nguyễn Lưu Viên làm PTT kiêm TTGD, BS Nguyễn Danh Đàn làm Thứ Trưởng BGD, coi Nha HBVDH, Về sau, DS Ngô KhắcTỉnh về làm TTBGD, GS Nguyễn Thanh Liêm, PTĐBTT. Lúc này, ông Hoàng Giao, Huế , ĐSHC, làm GĐ Nha HBVDH. Sau đó, GS Trần Công Thiện, dạy ĐHSP/SG , về thay, thời TTNKT. Ông ta người Nam. Nha HBVDH là hủ vàng của các ngài Thủ Trưởng Bộ GD. Chàng vừa đi làm , vừa đi học. Lúc đầu , chàng làm dưới quyền chủ sự Lộc, đẹp trai như Tây lai, nói tiếng Nam. Anh ta là GSĐIC, nhưng được dạy Đ2C môn AV (Giống như TTV dạy tại DT sau này, chàng về dạy tại tỉnh nhà). Sau chàng chuyển qua làm dưới quyền một chủ sự phòng khác, ngưòi Bắc. Anh ta cùng khóa 23 TBBTĐ và cùng học TĐ để chuẩn bị đi học Fort Benning, như chàng trước đây. Trong phòng , hầu hết là giáo chức, như Vĩnh , Thông, Trang,.. Đa phần ngưòi Nam.
. ”Thong dong đên sở, văn phòng
Rãnh rang đi học, những mong lên dần”.