+++ ANH D. TỰ SÁT
                  
           Trước hết,  là anh D. gốc PR,  đồng môn với Nguyên, học trên chàng hai lớp (Bà con với Tổng Ch, nguyên Tỉnh Trưởng NT trưóc đây). Anh ta để lại một bức thư tuyệt mạng,  gởi cho trại và  cho gia đình vợ con anh: “ Anh học tập quá lâu! Em còn trẻ. Hãy tìm cho mình một tương lai. Hãy lấy chồng khác, đừng bỏ phí tuổi xuân. Em cố gắng săn  sóc con cái thật tốt. Người chồng bất hạnh , xin vĩnh biệt em và các con.” Anh ta  lợi dụng buổi sáng mọi người lu bu chuẩn bị , sửa soạn cơm nước đi lao động, anh dùng dao lam,  cắt đứt động mạch hai cánh tay. Máu  ra lênh láng. Anh ta thật dũng cảm,  chịu đựng và bình tĩnh vô cùng. Anh đã chọn cách tự sát thật đặc biệt, kín đáo. Anh vẫn thản nhiên nói chuyện với Tổ Trưởng NX B,  cũng quê PR,  khi anh ta nhắc nhớ anh chuẩn bị đi làm. Lúc đó,  anh đã cứa tay mình ,  nhưng che lại. Trước đây, hai người thân nhau. Hồi họ còn ở Khối do anh PMT  làm khối Trưởng. B  làm thủ kho. D, cứ lân la đến phụ việc với bạn .  Bây giờ,  D. giã từ tất cả, đi về cõi bên kia thế giới. Nơi đó không còn thù hận,  khổ đau,  hệ lụy của kiếp nhân sinh  nữa.  Có  lẽ anh suy nghĩ và tin chắc như thế.  Hay anh quá thất vọng cuộc sống tù đày,  khổ  sai,  kéo  dài lê thê,  nên anh chọn cái chết thê thảm,  bi đát này.  Anh  B. không  thể ngờ bạn mình lai làm thế.  Anh dã tắt thở sau đó,  vì Trại Tù không có phương tiện cứu chữa kịp thì. Anh bị  mât máu nhiều quá. Anh đã lã người và đi luôn.
                              “Buồn tình cải tạo quá lâu
                               Ngày về mù mịt,  khổ đau chất chồng
                               Mỏi mòn chờ đợi vợ con
                               Tuổi xuân nàng phải sắc son đợi chờ
                               Thôi thì tự sát là vừa
                               Cho nàng tái gíá, se tơ  kịp thì
                               Trước sau , sau trước khác chi
                               Cõi trần,  Địa Ngục chia lìa tử thê”.
                       Sau cái chết nghẹn ngào, uất hận, bi thương, tức tưởi này,  Thủ Trưởng Trại Tù B , Thg /Uý Thái,   cho tập hợp tất cả tù nhân toàn Trại tại  Hội Trường lớn. Anh ta nhấn mạnh từng từ ,  rõ ràng,  minh bạch,  trước hàng trăm SQ Ngụy,  đang rầu rĩ,  ủ dột,  ngơ ngác , buồn so,  vì các chết đau thương của bạn  tù;
    - Hôm nay chúng tôi tuyên bố thẳng thừng,  không còn úp mở,  giấu giếm nữa.  Các anh cấp úy Th/Úy,Tr/Úy phải cải tạo,  ít nhất từ 3 đến 5 năm. Đừng có hy vọng hão huyền là ngày lễ lớn được CM tha về.  Các anh phải xác định vị trí của mình. Phải biết ăn năn  tội lỗi đã gây ra cho nhân  dân và CM trước đây.  Phải học tập, lao động, chấp hành nội quy thật tốt, mới hy vọng được  CM xét.  Đừng có dại mà làm liều, tự tử nữa.  Không ai thương các anh đâu!
          Chính y đã nói với Nguyên hôm mới nhập trại là
         - Các giáo chức biệt phái nay mai trở về,  được dạy lại hay không,  tùy từng người.
          Nguyên còn nhớ lúc đó. Tr/Úy,   CBQG Khối 1, người Bắc, anh Liệu, đã nói với NTPh: ( Bấy giờ làm y sĩ  Khối . Ph. là.bạn đồng môn và  đồng nghiệp với Nguyên tại DT) .
       -Anh  Ph về nay mai  được dạy  học lại hay làm y sỹ BV.
     .  Lời nói này làm  Ph  vui mừng vô cùng. Anh ta càng tin tưởng vào CM,  nên  hăng say làm việc cho Trại. (Trong thực tế,  SQBP Bộ GD, bị loại luôn , bị tù đày mút chỉ cà tha, bởi vì,  CM tình nghi họ hoạt động cho CIA. Mỹ sai họ về,  coi ngó trường học.( ?) Đã là  Quân Đội , sao lại biệt phái dạy học. CM không tin. CM quên rằng  gôc SQ là nhà giáo đã từng cằm phấn đứng bảng kia mà!  Thật là oan ức  Ông Địa.”Oan này chỉ  biết kêu trời nhưng xa” (Kiều).)
                “Các anh Câp Úy ở tù
                 Năm,  ba tấm lịch nhiềú đâu mà buồn
                Làm liều, tự sát,  chẳng khôn
                Thân còn, hy vọng sống còn lo chi
                Đời người đau khổ mọi bề
                Trần gian Địa Ngục não nề đã quen”.
           Cả trại tù nghe lời tuyên bố,  nhấn mạnh , dõng dạc,  dứt  khoát của Thủ Trưởng.  Thời gian cải tạo,  ít nhất tam niên đến ngũ niên,  đều gây buồn bã,  thất vọng, chán nản. Tuy không ai dám nói ra,  nhưng  khuôn mặt mọi người trầm tư,  ảm đạm,  lo âu thấy rõ. Thật là ngao ngán! Thật là phiền muộn,  ủ  ê. Mây xám như  ngập tràn  cõi lòng  khắc khoải, buồn bã,  thê lương của tù nhân. Kẻ  chiến thắng,  muốn nói thế nào cũng được.  Lý  của kẻ  mạnh là lý đúng nhất. ”La raison du plus fort est toujours la meilleuse”, như La Fontaine đã từng nói.
                                       ”Nói ngược,  rồi lại nói xuôi,
                                         Nói sao cũng được,  vì người thắng ta.
                                         Kẻ  thua chịu khổ trăm bề
                                          Phải cam nhục nhã,  ê chề trong lao”.
                   Trong trại có một  anh tù gia đình CM,  đã hiểu rõ chánh sách cải tạo khổ sai,  trả đủa của chuyên chính vô sản.  Anh ta đã được Ban CH Trại gọi lên  năm  lần, bảy lượt.  Trại đề nghị anh vẽ  sơ đổ Tổ Chức  Phượng Hoàng,  cơ quan  anh đã phục vụ.  Họ hứa hẹn cho anh về sớm. Anh ta biết quá mà! Vì vậy,  anh không chịu vẽ ngay. Anh ta cứ lần  lữa,  hẹn tới,  hẹn lui mãi. cho rằng lâu quá mình không còn nhớ gì hết. Anh em xì xào
          -CM nói dzậy mà không phải dzậy.  Chớ làm tên khờ dại,  bị lợi dụng.                   
                    ”Dễ tin nên bị gạt hoài ,Thật thà khai báo nay mai sẽ về”.
                   Có hai tù nhân Trại B,  gia đình CM,  thuộc Khối 4,  đã  mưu trí , dũng cảm lẻn trốn khỏi bàn tay sắt của  kẻ giam cầm mình.  Họ ngụy trang rất khéo léo. Hôm đó, nhằm ngày chủ nhật,  nghỉ lao động.  Giường mùng họ vẫn  phủ kín .  Cả tổ, khối cứ tưởng họ còn ngon giấc , chưa trở dậy.  Đến xế chiều,  vẫn không thấy họ ra khỏi mùng dùng cơm nước. Khi các Tổ Trưởng,  Khối Trưởng phát hiện,  thì họ đã cao chạy,  xa bay từ bao giờ. Từ đó,  Trại tổ chức canh  phòng nghiêm ngặt,  cho  ăng ten theo dõi,  báo cáo lên trên,  những anh em nào có âm mưu trốn trại hay tìm cách vượt ngục. Lại có kẻ viết bậy trên vách tường nhà xí: ”Đả đảo CS” Vi thế , Trại  càng tức giận đám tù,  cho điều tra đủ cách,  nhưng không thể phát hiện tác giả mấy chữ vô cùng chống đối ,  phản động đó.
 
       +++ HUỆ, TÂN  TRỐN TRẠI
                 
           Hôm đó,  Nguyên và anh em cùng phòng đang ngủ say,  thì  có tiếng súng nổ dữ dội phía trước hàng rào kẽm gai,  sát con lộ  mặt tiền Trại B và Trại C. Đạn reo chéo chéo,  rít vang,  phá tan bầu không  khí yên tĩnh của  đêm khuya . Anh em tù trong phòng đối diện với  khoảng sân gần  vòng rào và  tường làm bằng vĩ sắt PSP, ngăn  hai Trại B và C,  choàng tĩnh dậy.  Họ thật hãi hùng,  hốt hoảng và bối rối hết cở.  Họ nghĩ là  có lực lượng nào đó đang tấn công vào trại tù binh. Tiếng đạn AK vẫn nổ ròn tan, như xe nát màn  đêm, bay chéo  chéo,  chạm vào tường thép  và vách gạch phòng giam. Ai nấy vội vã  nhào  xuống nền nhà. Họ vừa kinh hoàng,  sợ hãi,  vừa mệt mỏi, rã  rời cơ thể,  sau  một ngày lao động  nặng nhọc,  vất vả,  lại đói khát, thiếu thốn đủ thứ,  bây giờ  không ngủ  yên giấc. Tù nhân thuộc căn phòng đầu, sát bức tường ngăn hai Trại B và C,  trong đó có Nguyên, Thanh, Khanh, Sáu, Giàu,  trụt xuống giường, nằm sát mặt đất,  thở hồng hộc, hỗn hễn,  run cầm cập.  Súng vẫn nổ bên ngoài. Đạn vẫn  bay vèo vèo,  rào rào, chạm vào thép kêu chéo chéo, đinh tai, nhức óc.  Ghê thật! Có đánh nhau ư? Tù nhân trong phòng dưới ánh điện nhờ nhờ ( từ cột đèn,  sát hàng rào,  cạnh  các chỗ tiểu tiện dã chiến,   hắt vào,  qua cửa chính và cửa sổ không cánh của Trại Gia Binh cũ)  nhìn ra,  không thấy rõ  ràng hình ảnh
 bên ngoài .  Súng vẫn nổ chát chúa,  rền vang dữ dội, kéo dài  chừng năm mười phút, rồi ngừng hẳn. Không khí ngoài trại bỗng trở nên  căng thẳng,  im ắng lạ thường. Bỗng nghe có tiếng bước chân lào xào,  khua động trên  sỏi ,  phía ngoài sân. Tiếng cán bộ  Trại nói chuyện  sầm sì. Rồi chợt có tiếng tu huýt vang lên phắp nơi.  Một số  hiếu kỳ bạo dạn đi ra cầu tiểu sơ sài,  che  vải bao cát  ba mặt , sát rào kẽm gai,  đứng tè,   vừa nhìn về gốc tường thép và  vòng  rào biên giới hai Trại B, C.  Bỗng có tiếng  quát to:
             -Hãy đi vô  trong  hết đi! Nhanh lên!
       Thì  ra,  ba bốn cán bộ Trại đang phục kích tại đó,  lăm le khẩu súng AK trên tay,  chỉ chực nhã đạn vào những tên vượt ra vòng rào.  Chính họ bắn tù trốn trại ,  chỉ mấy phút trước đây .  Tiếng còi vang rền ,  phá tan  đêm trường thanh vắng.  Tất cả các Khối của Trại B,  được lịnh tập họp,  điểm danh trước sân lớn.  Cán bộ và vệ binh,  súng ống lên đạn rào rào, Mặt mày ai nấy hầm hầm dữ dằn, đằng đằng sát khí.  Sau khi các Tổ, Khối kiểm tra điểm danh  những người có mặt trong hàng ,  họ báo cáo cán bộ trại đều đủ cả. Chỉ  có Khối 3 vắng mặt một người. Đó là anh Huệ. Khối Trưởng báo cáo cho anh Thái Trại Trưởng và anh Ca  Chính Trị Viên Trại B biết. Anh Ca,  người Nam,  mang súng lục, mặt lầm lì,  tư lự.  Anh Hùng mang súng AK, nét mặt lồ lộ hung ác,  thù hằn,  chỉ muốn  nổ súng vào đầu bọn vượt ngục mới hả giận. Anh Thái cao to dềnh dàng,  mắt long lên,  ẩn dưới đội lông mày rậm,  nhìn Khối Trưởng Khối 3 ,  nghiêm nghị nói :
    - Hãy ra bờ rào,  nhận xem có phải kẻ vắng mặt đang nằm  ngoài đó không?.
     Thì ra,  có hai tên tù đã vượt Trại.   Một anh bị bắn  phơi xác tại chỗ. Mọi người nhìn  thấy rõ anh Huệ bị sát hại một cách dã man. Thi thể anh bị bắn ngã bật ngữa. Máu me be bét,  đầu tóc,  mặt mày ,  ánh mắt còn hốt hoảng,  khủng khiếp,  nhìn trừng trừng. Bộ đồ đen nhầu nát. Gạo đổ trên bụng , bên hong,  lan ra đám cỏ  vàng úa và đât cát gần hố tiểu.  Anh chưa  chui ra khỏi lỗ rào tại mé  ranh , giữa  hai trại ,  thì đã bị phục kích,  bắn chết tại chỗ. Kẻ vượt ngục mới  bước tới gần hàng rào,  đã bị thảm sát một cách đau khổ,  tức tưởi,  đây uất hận,  oan khiên.
                                 “Chưa đến được lỗ chui ra
                                  Quân thù phục sẵn,  thật là oan  khiên
                                 AK hằn hộc khạt liền
                                  Chẳng thèm bắt sống, buộc đền mạng thôi.
                                  Con người tàn sát con người
                                  Từ bi, tha thứ cõi đời hư vô
                                  Chỉ là đày đọa lao tù
                                  Chỉ là bóc lột, hại nhau, lơi  quyền”.
 Thấy Huệ bị bắn ngã, anh Tân, bạn đường vượi trại ,vội vã nhanh nhẹn chạy thoát. Anh co giò,  ba chân, bốn cẳng vượt theo mé tường rào thép PSP  tẩu thoát. Họ bắn theo dữ dội,  cố tình  giết luôn anh. Đạn AK nổ liên tục , vang rền đinh tai,  nhức óc, rit mạnh ,  bay vèo vèo trong không gian, chạm vào tường sắt,  rơi rào rào xuống đất. Tiếng súng nỗ ròn rã,  phá tan bầu không khí yên  tĩnh của đêm trường âm u, thanh vắng,  đã đánh thức đám tù nhân toàn trại tù .
                                 ”Giết một tù, còn môt tên
                                  Cố tình chạy thoát, bắn liền sát luôn.
                                  Tên kia may mắn lạ thường
                                  Dẫu nhiều họng súng , đạn nhường,  đạn tha”.
            Sáng hôm sau, T Tá Trịnh Cát,  CHT/ TT 8,  dẫn một đoàn Tham Mưu sang Trại B,  điều tra,  lập BBản. Kẻ xấu số vẫn còn nằm đó. Ruồi bu,  kiến đậu đầy ngực,  đầy đầu nơi máu khô  còn đọng lại ,  thâm  sì,  loang lỗ.  Con người bị  giết chết như một con vật. Một tờ giấy ghi lý do chết làm bằng là đủ cho một kiếp tù đày,  khổ ải, bi thảm tang thương. Thật là bi đát cho một tên vượt trại! Thật là thê lương,  sầu thảm,   chua xót,  hiu quạnh,  đen  tối cho  một kẻ bạc số,  hẩm hiu. bị tử thần chiếu cố. Viên  Thủ Trưởng Tổng Trại Tù nhìn  bao quát bọn tù đang  bàng hoàng,  ủ sầu trong sân,  rồi thở dài như tiếc rẻ ,  như  trách móc vu vơ:
      - Thật là tội lỗi! Thật là tội lỗi!  Bị trừng trị đích đáng!
         Nói xong,  y quay mặt bước đi.  Ánh nắng hè vẫn gay gắt ,  chói  chang. Khu Trại  hâm hấp nóng như thiêu,  như đốt. Nước dùng  nấu ăn, uống,  tắm giặt thiếu thốn mọi bề.  Huệ được  một vài bạn tù cuốn chiếu chôn sau đó. Trại không cho  hòm gì cả. Chết chôn như một con chó , con mèo. Thế thôi! Trại trừng  phạt tên tội phạm, ác ôn, dám  chống lại CM,  không chịu cải tạo,  lại bày trò vược ngục. Trại đã hạ sát tại chỗ,  dù chưa  bước ra khói vòng rào . Trại bán chết cho bỏ  ghét,  để làm gương cho những tên tội phạm khác, đang nuôi  dưỡng âm mưu trốn trại,  vượt ngục sau này. Sau đó,  anh Tân bị cùm ,  bị  phạt ,  cho ăn cơm ít  lại với muối hột trong Khu D ,  nơi giam giữ những  kẻ có liên quan đến vụ trốn trại vừa qua. Đó là Khu Cách Ly nằm  gần Bộ CH /TB. Ngoài ra , Trại còn nêu đích danh các anh Dương, anh Đôn và môt số anh khác bị tra xét cật vấn nhiều lần vì tình nghi họ có liên quan về vụ âm mưu vượt trại này.
                                “Khu D cùm kẹp tội nhân
                                 Biệt giam những kẻ liên quan trốn tù
                                 Héo gầy ,đói khát liên ù,
                                 Khảo tra,  hành ha,ỉ mịt mù ngày ra”.
               Nói về nước dùng hằng ngày là cả một vấn đề nan giảỉi tại Tổng Trại TB 8. Nước ở đây trở nên khan hiếm như vàng. Khí hậu  hầu như khô hạn quanh năm, suốt tháng. Vùng NThuận và SM được coi là  nơi ít mưa nhất tại Miền Trung cằn cỗải, nghèo nàn này. Tù nhân đã  chịu nhiều thiếu thốn,  đói khổ hằng ngày,  giờ lại thêm cái nạn nước uống và   nước dùng như nấu nướng, tắm giặt, không đủ xài thường nhật nữa.
                                ”Nắng chang chang, nóng nung người,
                                 Giếng khô, nưóc hiếmũ, khổ đời tù nhân.
                                 Tranh nhau thức trắng đêm trưòng,
                                  Chắt chiu từng giọt nưóc vàng ở đây.
                                  Nhờ nhờ nưóc đục,  bầy nhầy,
                                  Nước ới!  Sao nỡ đọa đày nhân sinh” .
                Các tù nhân tranh nhau sắp hàng,  đứng trước giếng nước để chờ tới phiên múc về dùng.ù  Giếng lại khô  cạn,  nước đục ngầu .  Mạch giếng lại chảy ri rỉ,  ra ra,ũ chậm chạp từng giọt ngắn dài. Tuy nhiên,  vì nhu cầu cho sự sống còn,  họ phải xài nước không  đủ tiêu chuẩn vệ sinh này.  Có lần,  không đủ nước,  Tổ của Nguyên phải dùng nước đục ngầu nấu ăn và  không  vo gạo,  vì nước đã khô hết rồi. Chảo gạo to tổ bố,  cuối cùng cũng thành cơm cho cả Khối 1 dùng bữa  chiều hôm ấy.  Đói quá thì ăn cũng ngon thôi. Thỉnh thoảng,  Trại cho Cảnh Vệ dẫn đám tù đi tắm suối. Đoàn tù đi thất thểu,  lê the,â lếch thếch dưới ánh nắng gay gắt đến con suối cạn sớt , nằm bên bìa rừng  chồi xơ xác,  đìu hiu,  gần dãy núi khá xa trại tù. Con  suối cũng bắt đầu khô cạn dần.
                                       “Núi rừng xơ xác đìu hiu
                                        Suối khô,  nước cạn, nắng thiêu bọn tù”.
               Vì thiếu nước tắm rửa như thế,  nên  nạn ghẻ  chóc,  lở lói xảy ra rất nhiều trong trại tù. Có anh tay  chân ghẻ ngứa ,  ghẻ  lở sưng húp nhiều nơi. Mủ ươm, chảy rỉ  , trông thật thê thảm,  khốn khổ, dễ sợ. Thuốc men thì thiếu thốn. Vì vậy,  bịnh ghẻ dễ lây lan và khó lành ,  lâu chấm dứt vô cùng. Những người tay chân  bị ghẻ lõ đượcá trại cho nghỉ lao động .
   
+++ NGƯỜI  TÙ ĐIÊN
               
           Tại Khối 4,  có một tù nhân,  quê PT,  đột nhiên nởi điên. Anh ta gày , da hơi ngăm, dong dỏng cao. Anh ta thường nổi cơn khùng khình, mát mát,  tàng tàng, man man. Thường nói lảm nhảm. Mắt thất thần,  khóc lóc,  kể lể thảm thiết. Anh ta thường đi lang thang khắp nơi trong trại . Có khi xé rách quần áo trần truồng. Có khi leo lên  nóc nhà,  múa men,  la hét om sòm. Trông thật nguy hiểm. Mặt mũi anh bơ phờ, hốc hác,  không  còn thần sắc,  tỉnh táo chút nào.  Đúng là một bệnh nhân thần kinh trầm trọng. Trộng anh ta thật tội nghiệp. thật đáng thương. Anh đáng được xét khoan hồng  phóng thích .  Những khi  trèo lên cao như thế,  dễ bị rơi ngã toi mạng như chơi. áMay mà  anh em tù  phát hiện kịp thời, đưa anh xuống an toàn .  Anh bị ốm nhanh vì ăn uống thất thường. Khối Trưỏng báo cáo trại. CB Trại không tin anh bị  bịnh thần kinh trở thành khùng điên thật. Họ tuyên bố:
  - Tên Ngụy giả  điên, giả khùng. Đánh lừa ai được..
  Họ không xét cho anh về trị bịnh. Sau đó,  anh bị té  gảy chân khi leo lên mái nhà múa đã rồi nhảy xuống,  trong lúc mọi người đi lao động.  Họ đưa anh đi BVPT. Không rõ số phận anh  ra sao về sau này.
                                    “Ai mà tin được điên khùng
                                     Ấy là giả bộ, để mong cho về.
                                     Đến khi ngã gẫy chân kia
                                     Đưa đi bệnh viện,  chiếc xe chở tù”.

+++ BIÊN CHẾ ĐI LAO ĐỘNG.
           
           Khoảng giữa năm 1976,  Trại có  đợt Biên Chế Đi LĐ/XHCN. Chỉ một số có may mắn ra ngoài lao động. Trước khi đi,  họ  được chụp hình, lăn tay, khai lý lịch cẩn thận. Còn đa số thì vẫn bị giam giữ tại trại. Cũng lao động,  nhưng quanh quẩn gần thôi. Họ không đi xa như những đội được biên chế hẳn hoi. Những tù nhân nằm trong diện BC, thường thường  thuộc loại nhẹ , hay gia đình CM. Các cải tạo viên rỉ tai nhau
     - Được xét đi  LĐ/XHCN là  dạng Lý lịch rõ ràng  và nhẹ. Sắp cho về rồi đấy!.
 Vì vậy, những bạn tù  trong diện này,  nghe nói thế, mừng húm. Họ càng tin tưởng vào sự khoan hồng của CM . Họ càng năng nỗ ra  sức phấn đấu, lao động và chấp hành NQ của Trại thật tốt. Họ  gắng hết sức làm việc để được biểu dương trước Trại , trước Đoàn (Tức Tổng Trại TB 8). Họ hồ hỡi,  phấn  khởi vô cùng!”.  Những tù nhân chưa được BCLĐ  thừờng thường nằm trong các trường hợp ác ôn,  có  nợ máu với ND và CM như P2, ANQĐ, CTCT.ĐĐT, Tình Báo,Phượng Hoàng... Thôi thì
                                 “Mút  mùa lệ thủy anh ơi!
                                  Ác ôn học tập dài dài chưa tha”.
             Chính sách , kế hoạch, chủ trương ,  chuyển từ từ, chuyển dần dần tù binh để dời TT8 đến địa  điểm khác thật tinh vi,  khéo léo , đánh  lừa được nhiều người nhẹ da, dễ tin lời đường mật, tuyên truyền,  nhồi  sọ của họ. ”Mai anh về”, như anh Phùng , Thủ Trưởng Trại B, thay thế anh Thái chuyển đi nơi khác.
                                 “Mai về,  “rồi lại” Nay mai”,
                                  Ngày vể biền biệt,  nằm hoài trong lao.
                                  Nói đi,  nói lại khó đâu
                                 Ai mà nhẹ dạ tin vào, cứ tin”.
              Trong Tổ Nguyên,  có anh Tùng, gốc Huế, là  em rể  của anh PBCh. ở PR, TrĐT/PB,  được biên chế đợt đầu,  mừng quýnh. Anh ta vốn ăn mạnh.  Đói lắm!  Rách  lắm , vì ít được thăm nuôi !  Anh thèm ăn,  nên  hay  cải thiện thêm khi lao động ngoài rừng , ngoài rẫy. Thường khi người hùng gặp trái cây rừng chín thì hái ăn ngon lành cho  đỡ dạ xót xa,  bào bọt. Hồi còn ở Tổ Nguyên tại Trại B SM, không phải phiên trực, nhưng  Tùng hay xuống bếp, lãnh thâu cơm sớm, hay  thau bánh bột mì , trước giờ phát, để  về phòng chia cho anh em ăn. Anh ta đói lắm ! Suốt ngày, chỉ mong tới bữa cơm thôi. Thật là tội nghiệp! Thật là thê thảm, đói rách,  lầm than!
                               ”Suốt ngày mong  đến bữa ăn
                                 Đời tù đói khổ,  chỉ cần mì, khoai.
                                 Đi làm,  cải thiện lai rai
                                 Cọng rau , củ, trái, cứ nhai đỡ lòng”.
               Sáng nào,  Tùng cũng cầm loong guigoz đi quanh  sân trại,  hái rau dền, sam, rau trai... để luộc  ăn thêm  cho ấm bụng ,  vì đói quá!  Anh ăn uống cẩu thả  như thế,  nên khi đi LĐXHCN,  anh ăn đại quả rừng không biết tên. Anh bị bịnh đường ruột, vì quả  có  chất độc thấm vào cơ thể tiêu hóa. Tại Lương Sơn,  nơi anh đang canh tác cây bông gòn, Trại thiếu thốn thuốc men,  phương tiện cứu chữa kịp thời, vì vậy bịnh trở nặng. Khi anh NTPh,  y sĩ  Đội anh,  chuyển anh về tới  Bệnh Xá TTTB8,  thì  anh chỉ còn  cái xác không hồn,  chỉ mấy ngày sau đó. Chết thế mà khỏe.  Không còn đói khổ, tù  đày khổ sai. Không còn bị hành hạ,  lao lực quá mức. Không còn địa ngục trần gian nữa!  Chỉ khổ là vợ  trẻ và con dại tại PR,  không người lo lắng , săn sóc giúp đỡ.   Những khi gặp khó khăn,  đói rách,  bệnh đau trăm bề vất vả, gian nan,  nghèo đói, khốn cùng như hiện nay, ai sẽ quan tâm đùm bọc họ đây?  Thật là bi thảm, thương tâm. Thật là oan ức!
              Sau đó,  các tù nhân còn lại trong Trại cũng lần lượt  làm mọi thủ tục, như lăn tay,  lý lịch, trước khi biên chế đi LĐ/XHCN. Nguyên được cắt vào Khối  Làm Đường Lương  Sơn. do anh PGPh. làm Khối Trưởng. Khối này gồm 66 người. Nguyên  làm TT  tổ 2, LVTr, TT Tổ 1. Khối bao gồm 3 Tổ. Anh Đồng làm Khối Phó LĐ. Ph  là gia đình CM gộc,  luôn luôn làm KT,  hay chức sắc, cai quản tù , dù cải tạo tại SMỹ, SM hay LS, hay Cà Lon sau này. Anh ta luôn luôn làm việc năng nỗ, tích cực cho Trại.Vì vậy, anh em tù rất mệt mỏi, vất vả và than phiền oán trách anh. Dĩ nhiên,  anh có một số tay chân bộ hạ hay bạn bè ủng hộ anh. Anh ta không cho kể chuyện Tam Quốc Chí , Thủy Hử  hay Kiếm Hiệp của KD những lúc rỗi rãnh  để giải trí. Anh nói:”Trại không yêu cầu” . Thế là Nguyên mất hứng, tịt ngòi, không dám  kể chuyện khi anh em đề nghị nữa . Bạn tù cùng  Tổ rất khoái nghe chàng kể chuyện để giải trí.

3)TRẠI TÙ LƯƠNG SƠN
            
               Nguyên còn nhớ, trong thờì  gian  ở Trại tù LS,  thì Anh Nghiệp, Tr/Uý CM , chồng của Chị Trà ( Hai người ưng nhau sau 30/4/1975. Chị  là cháu Ông Trần Minh. Ngô thị Trà,  bây giờ  đổi thành Trần thị Trà. Anh chị đã có hai con trai. Anh Nghiệp, người Phú Yên,  ngụ tại  Đắc Nhơn. Hai người vẫn ở Đông Giang. Chị Trà  lả chị bà con bên Nội của Nguyên) cầm giấy của vợ chàng ,  yêu cầu chàng ký cho  phép bán chiếc xe Bridgestone do chàng chủ quyền,  để nàng mua nhà cho cả gia đình có chỗ trú ngụ. Chàng vui vẻ ký ngay  và cám ơn anh ta. Nhờ anh đưa về cho Bà xã . Chiếc  xe lúc đó  bán được sáu chục ngàn tiền XHCN. Lúc đầu CBQG là Th/Uý Long, người Hòa Đa hay Phan Rí gì đó. Tuy nhiên,  anh nàỳ nói tiếng  hay chêm giọng Bắc. Anh  ta cao to lớn tuổi, tóc  đã lớm đớm  bạc. Anh ta trước đây cử anh NVTh , bạn ĐM cùng lớp nhiều năm với Nguyên,   ở DT,  đang làm TT thuộc Khối 1 tại Trại B,  lên làm KT Khối này. Anh Th  tập hát những bài nhạc CM cho Khối. Anh thường dùng chữ ”Syllable hay Sauter”. Từ đó,  anh ta có biệt danh  “Th.Syllable” hay “ Th.Sauter”. Anh Long  rất nghiêm khắc,  tỏ ra rất ác cảm với đám tù Ngựy.  Sau đó,  anh Tùng cũng Th/Uy, gốc QN, được Trại cử thay thế anh này. Rồi anh Xây, Ch/Uý người Ninh Thuận (Tân Mỹ, nghe nói,  anh trước kia là lính VNCH  theo CM), chưa được kết nạp Đảng .  Đêm đêm,  anh  ta thường đi đến  chỗ  võng Nguyên  móc nằm ngoài trời, gần lều vải của Tổ chàng. Anh CBQG yêu cầu tù nhân giảng cho nghe Truyện Kiều của Nguyễn Du. Anh ta tỏ ra ham thích văn chương , chữ nghĩa,  dù anh  được  học hành ít oi trước đây. Nguyên phải cố  gắng giảng cho anh  hiểu  nội dung tóm gọn của ĐTTT bằng giọng văn giản dị,  bình dân hết  mực dễ hiểu, dễ nhớ.
.         Tổ 2  chàng chịu trách nhiệm trong thời gian cải tạo làm đường như công nhân phu lục lộ  gồm các tù nhân như sau:  HCTr, LPQu., GiápvS. TrBS. , D.(Huê). NMĐ (Em anh NVL,  dân PK, NT), Đ.(Bắc), NV S.(Nhà ở Đạo Long PR, gia đình giàu có ,vợ có tiệmỉ buôn bán). Ngày ngày,  anh em tù cuốc, xúc, khiêng đất  từ trong một bờ cao cạnh khu rừng bên đường QL 1, gần  làng LS. Một toán phụ trách khâu cuốc đất từ mô cao nghều nghệu trong rừng. Họ dùng cuốc chim, cuốc bàn, xẻng xúc. Khâu  vận chuyển đất , một cặp hai ngưòi khiêng  ky đất to kềnh,  đi bộ trên con đường khá xa. Tù  đấp thành con lộ mới nối dài từ QL 1 đến khu vực nông trại LS,  do tù nhân khai khẩn thành  nương rẫy trồng bông vải. Một vùng canh tác bao la, bát ngát. Những rẫy bông nở trắng xóa, trải dài mênh mông trong nắng  vàng rực rỡ, chói chang của mùa hè đỏ lửa. QL 1 nằm phơi  mình phía trước các căn lều của trại tù dã chiến, kéo dài từ khu vực Sông Lũy, LS vô PT, SG. Ban đầu,  tù làm theo lời chỉ dẫn của cán bộ QG và CBKTạo.  Họ vào rừng chặt cây làm lều, dựng trại ngoài trời tạm trú. Viên Thượng Úy CBKT, gốc Quảng Ngãi, nói với đám tù:
         -Các anh nhớ rằng:” Đây khộng phải chủ trương của Đảng. Cứ làm thinh lện rừng, chặt cây và cắt dây về cât dựng trại ở nhé!.
  Trại tù bao gồm nhiều lều đơn sơ, trống  trải,  chỉ có mái che tạm mưa nắng , cho đám tù chui ra, chui vô, lao đông cải tạo, đoạn ngày, đoạn tháng. Trại mọc rải rác, nằm dọc theo bờ rẫy, rừng cây, thưa thớt , hiu quạnh,  hoang vu, cách xa làng xóm. Nằm ở đầu rừng là Lều của CBQG. Nhà bếp và khu vực cán bộ bảo vệ ở phía xa, tận bên kia nương rẫy. Gần đó là con Sông LS , nước chảy lờ đờ,  tưới phù sa  hai  bên ruộng rẫy. Con sông nhỏ này bắt nguồn từ núi thẳm xa tít trong  rừng âm u, diệu vợi, ngút ngàn, mây bay trắng xóa, lãng đãng quanh năm , suốt tháng . Chiều chiều,  đám tù ra đây tắm giặt rửa ráy. Anh cấp dưỡng ra gánh nước sông  đem vô bếp nấu nướng. Toán anh nuôi gồm ba người do KT cắt. Theo nguyên tắc,  toán nhà bếp,  phải là những người ốm yếu, thiếu  sức khoẻ, không thể  làm việc nặng nhọc ngoài trời được.  Tuy nhiên,  anh Ph, cắt bạn mình là HNĐ , Huế, CTCT/TC, cùng ngành với  anh ta. Anh  bạn to béo, khỏe mạnh như voi.  Anh T, quê PT, bịnh xuyển, y sĩ  Khối. Anh C, Huế cẳng  đi cà nhắc, phụ bếp, gánh thức ăn phân phối cho các tổ LĐ xa. Anh Đ chuyên nấu nướng cho Khối. Xung quanh Trại Tù, lưa  thưa cây cối. Chim chóc ca vang cả một góc trời vào những  bình minh nắng ấm. Thỉnh thoảng,  những  con  chim cuốc hay đa đa kêu rền rĩ,  não nuột trong các lùm cây rậm rạp. Âm thanh héo hắt,  nghe rầu thúi ruột,  nát cả tâm, can,  tỳ,  phế,  thận của đám tù nhân xa nhà,  bị đày ải khổ đau bất tận.
                                   “ Não nùng  tiếng cuốc thê lương
                                     Nghe mà  héo hắt can tràng tù nhân
                                     Phải chăng Thục Đế than thân
                                    Hay hồn sầu thảm của nàng Đỗ Quyên?”
         Đám tù nhận phu lục lộ, nhờ có con sông tắm mát và gần Quốc Lộ 1,  nên cuộc đời cũng đỡ bơ vơ,  hiu quạnh, bẩn thỉu,  hôi hám vì mồ hôi lao động khổ sai nặng nhọc hằng ngày .
                                   ” Con sông tắm mát chiều chiều,
                                     Đời tù cũng đỡ quạnh hiu não nùng”.
            Xe cộ thường qua lại trên đường thiên lý quan san. Những chuyến xe tải chở đồ  đạc ngỗn ngang,  nào xe gắn máy,  xe dạp xuôi về Miền Bắc xa  xôi ngàn dặm.  Của cải cứ tuôn về Kinh Đô Hà Nội , các tỉnh  anh hùng , miền quê hương Bắc Trị. Tuy nhiên,  anh  em tù ngắm xe qua lại,  cũng đỡ buồn,  đỡ cô liêu, sầu thảm của kiếp tù đầy , của  kẻ chiến bại,  bị đày ải,  lao dịch , liên tu bất tận.
                                    “Con đưòng  Quốc Lộ thênh thang
                                     Xe qua đủ loại rộn ràng xôn xao
                                     Tù nhân nhìn cảnh nao nao
                                     Tình quê gặm nhắm  càng  bào lòng son”. 
            Phong cảnh  vùng  gần  làng LS thật quạnh hiu, vắng  vẻ, ít người qua lại. Cây cối quanh  trại lơ thơ ,  lác đác vài lùm um tùm,  rậm rạp. Phía trước Trại,  gần đường cái quan là sân cỏ. Tù nhân có thể chơi  đá  banh hay bóng chuyền vào các  ngày nghỉ lễ hoặc chủ nhật.  Một vài  bạn tù  dùng câu , cấm bắt cá  trầu, cá trê dưới sông. Cũng có  anh câu cá đủ loại,  dọc  theo bờ,   vào  lúc rãnh rỗi. Họ cũng thường hái lá bình bát haỳ lá dan gần đó  để  nấu canh ngọt  hay canh chua đủ loại với cá bắt được từ  sông LS.  Có lần,  Th/Uý Tùng ,  CBQG ,  bắt  Khối tham gia tát cá tại chiếc ao  rộng lớn, gần Trại Tù. Cả bọn liên  tục tát nước suốt cả ngày.  Họ hì hục căng  lưng,  gồng mình, uốn người,  đứng tát nước, dưới ánh nắng gắt gao,  chói chang,  rực rỡ cùa vầng thái dương vùng nhiệt đới.  Cả Khối mệt mỏi,  rã rời, đờ đẫn tát  cho hồ  thật cạn. Tuy nhiên, cá thu hoạch cũng chẳng được  bao nhiêu,  so với sức lực, mồ hôi và nước mắt đổ ra . Thật đúng là “Nước sông công tù”.
                                   “Vũng ao bẩn thỉu, bùn sình
                                     Đĩa đeo,  muỗi  bám, lềnh bềnh hôi tanh.
                                     Cá thu chút dỉnh đã đành
                                     Rã rời,  mệt mỏi theo mình chẳng ngưng.”
          Bọn tù cứ hy vọng để mà sống. Họ cứ mong ngày về. Họ vẫn lao động khổ sai. Vẫn đói rách,  chịu đựng. Đúng là;” Khi còn ngõ thì CM khoan hồng, Khi vào trồng thì mút mùa cải tạo” như lời một nhà văn đã nói. Thờì gian làm đường cũng trôi qua nhanh như giấc mộng hãi hùng tù ngục không ngưng. Khi  con  lộ mới nối liền QL 1 với Nông Trường Bông Vải LS hoàn tất, những toán  đội BCLĐ từng  đợt trước đây,  giờ lại gặp  nhau tại Trại Tù LS. Vùng Nông Trường Bông là  Trại  Giam mới của đám tù SM. Họ lại đi lao động ,  chặt cây,  gánh củi,  trồng, thu hoạch bông vải . Họ lại khổ sai lao dịch như thường lệ. Chỉ có số ít tù nhân là được phóng thích. cho về  sum hop vối gia đình.
                                   “Tha tàu nhỏ giọt.ai ơi!
                                     Nhà giam làm bạn lâu dài Ngụy Quân”.
         Trong thời  gian Nguyên  cải tạo tại Mỹ Đức, Thanh có gởi đồ thăm nuôi một lần cho chàng. Thịt xư0ờn heo ram mặn. Lúc đó,  chàng chia đều cho anh em tù  trong tổ hết. .Giai đoạn bị nhốt tại SM,  Má chàng và Thanh  vào thăm chàng,  theo  ngày giờ ấn định của Tổng Trại 8,  cứ  ba tháng một lần, thăm nuôi tù.  Ngoài ra, Thanh  dẫn con đến thăm chàng  một lần tại Trại Tù,  lúc Khối chàng làm phu lục lộ. Trại Tù LS chuyên làm nông. Hết mùa bông vải , lại trồng đậu  xanh, khoai, sắn,  ngô,  đủ loại. Tù cứ lao động XHCN. Cứ cải tạo mút mùa.
       -Chừng nào tốt là về” . Chừng nào chúng tôi thấy  các anh  lao động tự túc được là  chúng tôi phóng thích ngay .
            CB  Trại Tù  thường nói với thân nhân cải tạo viên,  mỗi dịp họ thăm nuôi kẻ đang bị giam cầm tù ải. Họ thường an ủi,  động viên người thân của tù binh như thế.
                                     “ Khi nào tự túc làm ăn
                                       Cần cù lao động, tù nhân về nhà.
                                       Khi nào ảnh tốt được tha’
                                       Bây giờ  học tập, các bà đừng lo.
                                       Muôn điều trọng đại, cam go
                                       Dân giàu nước  mạnh , chính nhờ Đảng Ta”.
            Một hôm,  toàn thể trại tù di chuyển lên rừng sâu. Tất cả đi bộ. Ngoại trừ  những tù nhân đau yếu,  bước chân không nổi và thực phẩm,  dụng cụ nhà bếp mới được xe nhà binh chở về  phía núi cao,  rừng thẳm, âm u, diệu vợi . Nghe nói  tù nhân  đi làm Đập Nước để  dẫn thủy nhập điền, tưới tiêu vườn ruộng vùng  Sông Lũy và lân cận thuộc tỉnh BT.
                               
    4)TRẠI TÙ CÀ  LON:
                 
      Con đường lên vùng Cà Lon, nơi đang xây dựng  Đập Tràn Sông Lũy, xa vời vợi. Nắng như thiêu, như đốt. Nắng như nung người. Rừng trải  dài, bát ngát,  bao la  hai bên con lộ quạnh hiu. Cây cỏ xác xơ , héo úa,  tàn tạ. Khung cảnh sơn lâm chướng khí thật hoang vu,  thê lương,  ảm đạm hết nói. Đoàn tù dài dằng dặc, lê bước trên đường mòn. ” Đường Lên Sơn Cước” hiểm trở,  gập ghềnh, chông chênh,  trải dài ngút ngàn,  thăm thẳm,  mù sương.
                                        “Núi xa rừng thẳm bao la
                                          Đoạn trường ai có qua bờ chông gai
                                          Tù nhân đã khép cuộc đời
                                          Tự do cái gíá ngậm ngùi đắng cay”    
             Đám cải tạo viên  cắm trại trong rừng thưa. Họ bắt đầu đốt  cây, dẵn gỗ, dọn  cỏ, bụi rậm, làm nhà tạm trú, trong thời gian lao động khổ sai làm Đập. Họ cũng dùng cây,  kềt thành  giường , bàn ngồi ăn cơm. Cất khu nhà bếp nấu nướng cấp dưỡng  cho tù nhân cải tạo lao động . Những dãy nhà dài lợp tranh, không vách. Giường là tre nứa ghép lại làm vạt. Thác đổ rì rào, bọt tung trắng  xóa  phía xa. Tù nhân  khiêng gánh đá đổ  làm đập. Mĩn  nỗ phá đá xong,  bọn tù dùng  xà  beng,  cuốc chim, xẻng,  chuyển đá  ra khỏi hố mương. Con mương dài thăm thẳm, ngoằn ngoèo, bò lang thang, ngút ngàn từ núi sâu,  rừng cây bát ngát, về đồng bằng phía dưới xa. Con mưong sẽ dẫn nước từ Cà Lon, từ Đập Tràn SL,  về tưới ruộng, vườn ở miền xuôi. Công trình  làm  mương và đập hầu như bằng tay chân của tù,  ngoại trừ  mìn phá đá. Nhũng kỳ quan TG như Kim Tự Tháp Ai Cập, Đền Đài Cung Điện,  lăng tẩm vua chúa, Hoàng Đế, Vạn Lý Trường Thành... hầu như do  tù nhân  xây dựng  bằng sức lao động, bằng mồ hôi, nưóc mắt , máu  xương cùa  họ. Tại đây cũng thế,  đường sá, công ,  nông trường, trại, nhà cửa , hội trường, ao, hồ nuôi cá, đập nước. mương , kênh  dẫn thủy nhập điền,  cũng do tù làm  bằng tay chân của họ.
                                          “Đập Tràn, kênh nước tù làm’
                                            Khổ sai lao động, đói ăn xác gầy."
                 Vì trại tù  cất tạm bằng tre nứa, che sơ sài bằng tranh,  lá, trống trải mọi bề, nên hễ nắng,   thĩ nóng hừng hực,  như  nằm trong lò  lửa. Còn những khi trời mưa tầm tã,  thì nhà dột nát mọi chỗ, tù nhân  bị ướt như chuột lột.
                                          “Trại làm dã chiến trong rừng
                                            Nắng xuyên mái lá, mưa tuôn xuống giường.
                                            Bốn bề lộng gió chiều buông
                                            Ngàn cây trút  lá, suối nguồn reo vui.
                                            Tù nhân  dở khóc, dở cười
                                            Thi nhau lao động, ngày mai được về
                                            Ngày mai tiếp  nối ngày tê       
                                            Thân tàn,  ma dại, đói phè tóc râu”.
                Phải  nói thật lòng  rằng,  thờì gian lao động làm ĐTSL tại CL là  giai đoạn khốn khổ,  lầm than  nhất của  tù nhân. Đói,  khát,  thiếu thốn đủ thứ,  vì  ở trên núi cao rừng sâu,  làm bạn với chim kêu, vượn hú và  cây rừng mênh mông,  bát ngát, vô tận. Lại lâu lắm mới đưọc phép Trại cho thăm nuôi. Đường sá xa xôi, diệuu vợi. Thân nhân tù  cũng  khốn đốn,  vất vả,  gian nan ,  mỗi lần thăm chồng ,  thăm con. Hôm đó, Má chàng và Thanh rơi lệ,  khi thấy chàng gày gò,  tiều tụy trong bộ đồ tơi tả, bạt phết nắng sương lao động. Mẹ  chàng mắt đỏ hoe,  nói trong màn lệ:
      - Má chỉ nhận ra con  đôi mắt sáng lờ đờ thôi. Trông con như bộ  xương di động vậy.
                 Bà không dám khóc lộ liễu. Bà vội chậm nước mắt nhanh,  khi thấy CB từ xa  tiến lại . Đi thăm nuôi  thật vất vả, gian nan. Ngườì thân phải vượt rừng, băng suối, sau  khi đi xe đò, rồi  di chuyển tiếp bằng xe lam. Cuối cùng phải mướn người khiêng, vác, xách đồ thăm nuôi, đi bộ lên tận Trại xa lắc,  xa lơ,  nơi chốn khỉ ho,  cò gáy, đèo heo hút gió.
                                        “Quản bao đường sá xa xôi
                                          Mấy rừng cũng vượt, mấy đồi cũng qua.
                                          Suối reo róc rách xa xa
                                          Thương anh,  em phải lo đồ thăm nuôi.
                                          Dắt con thơ, bước dặm dài
                                          Thắt lưng buộc bụng cho người gian truân.
                                          Mẹ già tóc trắng như sương
                                          Bước đi một bước,  nỗi buồn dâng cao”.
             Ngày ngày,  đám tù đi lao động dưới nắng chói chang, với hơi nóng như thiêu  , như đốt,  mà bụng đói cào,  chỉ ăn khoai  sắn,  bột mì,  không đủ  ấm dạ  dày. Họ thi công  năng nổ,  chăm chỉ trong con kênh vừa đánh xong mìn. Tù nhân nhặt sỏi đá bể đã vỡ,  văng tung tóe  khắp  kênh,  bỏ vào gỉỏ nhỏ. Họ chuyển rỗ đá bằng tay, chuyền nhau theo hàng  dài,  từ dưới kênh lên  tới bờ. Cuối cùng,  đá vụn  đổ xa mương. Sau đó, họ dùng búa tạ , xà beng đục đá tảng thành lỗ  to,  sâu hun hút,  để chuyên viên bộ đội đặt mìn phá  đá ngày hôm sau. Các Tổ Đội hồ hỡi,  phấn khởi,  phát huy  phong trào thi đua lao động , xây dựng XHCN. Họ đề cử những anh hùng  LĐ thi đua đục đá vào ngày nghỉ. Tù nhân  bình bầu hàng đêm,  hàng  tuần , hàng tháng.  Một cách bóc  lột sức LĐ của con người rất tinh vi, rất khéo léo. Cứ “Thi đua LĐ mừng thành công ĐH Đảng , mừng các ngày Lễ lớn”. Cứ thi đua LĐ mãi. Cứ khắc  phục khó  khăn mãi. Tiến nhanh , tiến mạnh , tiến vững chắc lên XHCN” như một điệp khúc dài lê thê, vang vọng trong lòng  người dân Miền Nam đau khổ,  điêu đứng trăm bề. Nhất là mút mùa cải tạo. Ngày về thì mịt mù tăm hơi. Cải tạo viên đói meo, đói mèo, đói trơ xương. Đói lõm mắt, má hóp, tai ù,  tóc bạc. da chì. Thân hình gầy rạc như con mắm.”Tuyết sương nhuộm nửa mái đâu hoa râm”(Kiều).
                                           “Đục xuyên đường núi làm kênh,
                                             Mồ hôi trút đá, nghe rêm cả người.
                                             Nắng nung thiêu đốt  lửa trời
                                             Khổ sai cho thật đáng đời tù nhân.”.
                Đói khổ quá! Tù nhân không đủ gạo ăn. Họ phải ăn độn khoai, sắn,  mì, bo bo, bắp. Nhưng vẫn không ấm bao tử chút nào vì khẩu phần phát cho mỗi người lao động nặng,  càng ngày,  càng ít đi. Đó là những năm quá thiếu thốn,  đói khổ của cả nước. Mọi người đều ăn độn. Trại tù được lịnh cải thiện củ rừng. Củ mài và củ nần có thể tìm thấy trong rừng sâu,  núi cao. Một số tù  nhân trong  Ban Cấp Dưỡng,  được  CB Trại chỉ dẫn cách nhận diện  loại cây có  củ này,  để họ có thể  đi lùng chúng và  đào về nấu cho  tù ăn thay cơm , vì gạo quá thiếu. Trại bảo,  loại củ  này ăn được, không  có hại cho sức khỏe. Tuy nhiên,  trong thực tế,  củ nầng rất độc hại ,  có thể  làm say người ăn nó . Trường hợp trúng độc nặng có thể gây nguy hiểm cho tánh mạng và đưa đến tử vong kẻ lỡ ăn nhiều. Thật vậy, một hôm ,  đám anh  nuôi đào được nhiều củ nầng (Loại này có nhiều hơn củ mài trong khu vực  rừng núi Cà Lon lúc bấy giờ). Họ đã xắt lát mỏng,  bỏ vô bao tải,  ngâm dưới suối,  suốt ba ngày đêm. Sau đó,  nhà bếp nấu cho tù  ăn  sáng trước khi đi lao động.         
             Cả đám tù ra hiện trường thi công, chừng vài giờ,  thì than ôi! Từng người trở  nên say sóng, cảm thấy choáng váng mặt mày, bủn rủn tay chân, chuyển đá không nổi nữa. Có người bị xỉu,  ngã dài trên bờ kênh. Anh hùng LĐ cũng  xụi lơ bà  lờ. Tất cả Đội Nguyền bi trúng độc nầng. Chất độc của củ  rừng này đã lan nhanh , thấm dần vào  lục phủ,  ngũ tạng của người đã nhai nó, nuốt nó. xơi nó, tống nó vào bao tử trống trơn. Họ đói khát,  thèm ăn vô cùng. Cho nên,  đám tù mừng húm gặp bữa diểm tâm cao cấp, sang quá cở thợ mộc này. Bữa ăn sáng sang trọng, hiếm hoi , bao gồm  chất tinh bột nầng chiên dầu thơm phúc,  thoang thoảng trong không khí lao xao, rộn ràng, vội vã chuẩn bị lên đường thi công,  hấp tấp, vội vã, lu bu của đám tù khổ sai. Bây giờ . họ bị chóng mặt , ói mửa, ngã dài trên  lá rừng , trộn cỏ vàng  úa ,  bên con kênh dài lê thê đang đào dở dang. Tính mạng của họ đang bị chất độc  thấm  vào , đe dọa trầm trọng . CBQG chỉ  huy tù tại hiện trường,  ra lệnh đội bạn,  giúp  dìu những người bị ói mửa,ũ say nầán về Trại để tìm cách chữa trị và giải chất độc của củ nần gấp. Trại quyết định cho Khối Tù có sự cố bất ngờ, đột suất,ụ bị ách tắc công việc vì ăn phải củ rừng độc hạụi, nghỉ một ngày lao động,  để dưỡng bịnh. Anh chàng Tổ Trưởng Tổ 1, kiêm nhiệm Khối Phó Khối 1 . anh hùng LĐ lâu nay, từng được biểu dương trước Trại, Tổng Trại, nhiều lần , tuyên bố một câu nghe ớn nhờn. lạõnh xương sống:
        “ Hôm nay là ngày ô nhục của cả Khối 1” .  (Ô nhục vì không  được thi công làm đập XHCN). Tuy nhiên,  Trại không có thuốc men gì cho tù bị trúng độc nần. Họ  phải tự  lo lấy. Tù nhân phảiụ tìm cách giải độc lấy. Anh Tùng , CBQG Khối Nguyên, mách cách diều trị cổ điển,  có công hiệu, do kinh nghiệm lúc họ  ở mật khu, khi bị trúng độc củ  rừng là” Phân người đã khô, nướng cháy, nghiền nát, tán nho,ũ trộn nước rồi lọc uống. Nước cốt, tuy hôi thối, nhưng giải được bá độc. Đó là phương pháp “Lấy độc  khử trục độc”. Anh ta  nói tỉnh bơ,  không có chút đùa cợt, khôi hài,  hay có tính cách pha trò nào cả. Thẫt là cách giải độc vô cùng đôc đáo,  hiếm có,  trên cõi đời ô trọc này. Ngay cả bậc thầy  chuyên viết  truyện kiếm hiệp như Kim Dung, Cổ Long... cũng kinh ngạc khi nghe phương pháp giải độc thật đặc biệt, bí truyền này. Không  biết có hiệp sĩ nào áp dụng không,  Nhiều tù giã  đậu xanh,  pha nước uống giải độc nần.  Nguyên cũng  làm theo họ.ụâ      
                                  “Củ nầng làm món đỡ lòng
                                    Thức ăn có độc, lan trong thân người.
                                    Mặt mày choáng  váng rụng rời
                                    Ngã nghiêng, ngã ngữa giữa trời  chang chang’
                                    Rừng cây thoi thóp lá vàng
                                    Đói run lảo đảo, thân tàn tù nhận”.
              Anh em cải tạọ lao động vất vả, đói khổ, lầm than,  cứ trông móng ngày về. Giống như  em bé đói lòng, cứ tựa cửa,  đứng ngóng ngườì mẹ đi chợ về. Tuy nhiên, cứ hết đợt LĐ/XHCN này,  đến đợt biên chế đi LĐ khác , chỉ một ít tù nhân được tha thôi. Phóng thích nhỏ giọt.  Môt hôm, anh Quang Th/Uý CB Trại 1, hứng chí nói thẳng trước đám tù tập họp,  sau khi  đi lao động về:
        -Tôi xác nhận lại là “Các anh đừng mơ tưởng ngày về. Cấp Úy theo chính sách, chủ trường của Đảng  và Nhà Nước  là cải tạo tập trung từ  3 đến 5 năm. Đừng có hy vọng hảo huyền, viễn vong nữa! Hãy xác định vị trí, chỗ đứng của  mình trong xã  hội mới. Hãy quyết định lập trường cải tạo”Cải tà  quy chánh” của  mỗi cá nhân. Cải tạo là con đường duy nhất, ngắn nhất để được CM khoan hồng , xét  tha cho về sum họp, đoàn tụ với gia đình. Anh em Khối Trưởng của Trại  phản ánh ý này lên Ban CH Trại,  khi Trại tuyên bố:”Nay mai các anh sẽ về! Học tập tốt, lao động tốt là được CM xét tha  về!”. Anh Phùng, Thượng Úy, Trại Trưởng , lúc bấy giờ hơi  khựng lại, rồi tười cười  nói nhanh:
             “Đó la lời nói của một cá nhân. Lời tuyên bố vô  căn cứ. Chính sách của Đảng và Nhà Nước  XHCNụ/ VN, trước sau như một. Hễ khi nào nhận thấy các anh tốt. Các anh có thể tự lao động,  nuôi sống bản thân và gia đình mình,  là chúng tôi cho về. Các anh phải hết lòng tin tưởng vào Đảng và  Chính Phủ. cũng như các cấp Lãnh Đạo Chính Quyền trong nước.”   Vài hôm sau, có đợt tù đi làm cỏ bắp ở Hàm Trí. Thật ra, theo sự tiết lộ của  vài CB Trại với các chức sắc trong  các Khối tù  binh nằm trongà đám người  ít ỏi  này, sẽ được tha nay mai,  sau khi đưa  họ về vùng đồng bằng nói trên. Vì vậy, tuy Trại giấu giếm , không tiết lộ rõ ràng họ được tha tàu, họ vẫn  mừng rỡ vô cùng, Thế là họ cho bạn bè đồ đạc, thực phẩm vừa mới thăm nuôi, chưa kịp xài hết.  Đoàn tù nhân  còn lại (Không có tên  trong đám  nói trên) rất đông. Họ được biên chế thành các Tổ Đội mới.  S Tây Lai  được anh Tùng cử làm Khối Trưởng . Đám tù lại tiếp tục lao động khổ sai như thường lệ trong núi rừng sâu thẳm,  vùng Cà Lon, thuộc tỉnh BT. Rồi tù nhân chuẩn bị chuyển trại , sau khi hoàn thành Đập Tràn SL. Anh em rỉ tai “ Đám  cải tạo  sẽ  về Hàm Trí (HT),  làm nông, sống tự túc” .  Đó là  lời tiết lộ của CBQG.                    



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả