HỌC ĐẠO VỚI THẦY TRỜI
[Học Đạo với Đức Phật Quan Âm]
Ngày 19 tháng Hai Tân Mão, VíaĐức Phật Quan Âm. Mình mạn phép, ngưng phần Thầy dạy, xin học Đạo với Đức Phật Quan Âm vậy.
http://www.youtube.com/watch?v=EQbp3dxyjEs&feature=player_embedded
Sớ Văn Vía Quan Âm
Ngày 16 tháng 7 Giáp-Tuất (1934)
5-3-1927
Thường-Cư Nam-Hải Quan-Âm Như-Lai 
Hỉ chư đạo-hữu, chư đạo-muội, chư chúng-sanh.
Thiên-phong bình-thân.
Chư Ðạo-muội nghe.
Thiếp lấy làm hân-hạnh được trông thấy lòng thành kỉnh của chư đạo-muội. Từ đây khá chung hiệp nhau mà lo dìu-dắt đàn sau bước tới; nhiều đạo-muội chẳng để trọn lòng về nền Ðạo, phải rán công thêm nữa, đặng làm cho đáng nét yêu-dấu của đấng Chí-Tôn cho nở mày khách quần-thoa cõi Việt. Ðiều thăng-thưởng chẳng mất phần, ngày giờ nhặt-thúc, nếu diên-trì thì bước đường sau khó theo dấu. Thiếp để lời mừng chư đạo-muội khá chịu nhọc mà làm cho trách-nhậm hoàn-toàn, ấy là điều Thiếp trông-mong nơi các Ðạo-muội vậy.
Làu soi gương hạnh rạng Nam-hoa,
Sau trước rồi đây cũng một nhà.
Liễu yếu đem đường dìu liễu yếu,
Tranh xưa thêm rỡ cảnh liên-tòa.
Chư Ðạo-hữu, chư Ðạo-muội, khá lưu tâm.
Thăng
Ngày 17 tháng 3 Quí-Dậu (1933)
Thường Cư Nam-Hải Quan-Âm Như-Lai
Thiếp mừng mấy em, mấy em nghe à.
Ðạo quí là tại hòa. Các em nghĩ thử mà coi, tạo Thiên lập Ðịa cũng bởi âm-dương hòa-hiệp sanh-hóa muôn loài, cũng bởi một chữ hòa, đến đổi như thân của người có tạng có phủ. Tạng-phủ ấy, nếu chẳng hòa, thì con người chẳng hề sống bao giờ. Kịp đến tâm-hồn bất hòa thì thất-tình lục-dục đều phát khởi tranh ngôi với thần lương tâm, nếu kém lực, thì con người ấy duy có sanh-hoạt trong vòng vật-dục chớ chẳng hề biết Thiên-lý là gì?
Các em thử nghĩ cái phẩm-giá của kẻ ấy cao hèn là thế nào, người chẳng có hòa là thế đó.
Còn gia-đình chẳng hòa, thì cha con mích nhau, chồng vợ lìa tan, anh em ly tán.
Còn trong luân-lý chẳng hòa, thì dân-cư bất-mục, nước chẳng hòa thì sanh ly-loạn.
Còn cả thế-giới bất hòa, thì nhơn-loại đấu-tranh.
Vì vậy thiếp khuyên các em dĩ hòa vi tiên.
Thăng
Ngày 21 tháng 4 năm 1933 (Quí-Dậu)
ThườngCư Nam-Hải Quan-Âm Như-Lai
Thiếp chào các em. Các em có hiểu vì sao mà phải khai rộng lòng thương cho đến bác-ái chăng?...
Vì vạn-vật do Ðức Từ-Bi mà sanh-hóa trong cả thế-gian, vậy vạn-vật đồng nhứt thể. Tánh háo sanh của Ðức Ðại-Từ-Bi cũng nhân đó mà vô-biên, vô-giới. Còn chúng ta lại là một loài trong vạn-vật, thì chúng ta cũng ở trong luật hóa-sanh ấy. Vì vậy hễ mà giết một mạng sống thì đau lòng Ðức Ðại-Từ-Bi, mà hễ đau lòng Ðức Ðại-Từ-Bi, thì Thiên sầu Ðịa thảm. Các em thử nghĩ, người tục có dám phạm đến oai Trời chăng?
Cứ do đó, thì ta đủ rõ rằng: Ta phải mở lòng bác-ái, thương xuống đến các vật yếu-hèn, một là tránh khỏi sa vào luật quả-báo, vì luật Thiên-điều chẳng hề vị ai. Tuy mắt thịt không bao giờ thấy được, chớ kỳ thiệt một mảy lành dữ không qua được. Các em có lẽ hiểu câu: "Thiên võng khôi-khôi, sơ nhi bất lậụ"Ấy là một lẽ, còn một lẽ nữa là người sanh trong cõi trần, Ðức Ðại-Từ-Bi ban cho một tánh tối-linh hơn vạn-vật, là có ý để thay-thế cho Ngườimà dìu-dắt loài yếu-hèn hơn.
Các em thử xét, ở đời nếu cha phàm mà rủi có một đứa con bất hiếu, thì có phiền chăng? Còn Ðức Ðại-Từ-Bi mà có con không lòng bác-ái thì thế nào? Mà người có nên trái lòng Trời là Ðức Ðại-Từ-Phụ chăng?
Thăng
Ngày 8 tháng 5 năm 1933 (Quí-Dậu)
Quang minh chánh-đại lập tâm-thành,
Âm chất khả tu Ðạo khả minh.
Bồ liễu nhứt thân sanh biến hóa,
Tác thành kim thể đắc trường sanh.
GIẢI NGHĨA:
- Sự quang minh chánh đại lập được cái tâm thành thật,
- Khá tu âm chất, khá học đạo cho tỏ tường.
- Người phụ nữ nầy một thân chuyển sanh biến hóa trong nhiều kiếp,
- Tạo thành Chơn thần huyền diệu được trường sanh (tức là đắc đạo).
Kim thể: Mình vàng, là Chơn thần của Phật, ý nói Chơn thần huyền diệu của người đắc đạo.
Sáng lạn: Sáng rực, chữ Hán là Xán lạn: Rực rỡ.
Khiếu lương tri lương năng:Sự hiểu biết và sự tài giỏi vốn có của mỗi người do Trời phú cho, không cần học tập mà có, để nhận biết và làm điều tốt lành. Sách Nho có câu: "Nhân chi sở bất học nhi năng giả, kỳ lương năng giả, sở bất lự nhi tri giả, kỳ lương tri giả." Nghĩa là: Người không học mà giỏi là Lương năng; không suy nghĩ mà biết là Lương tri.
Mẫn huệ: Sáng suốt, thông hiểu sự lý.
Chào các em. Các em phải lo cúng kiến thường.
1.- Một là lập cho chơn-thần được gần-gủi các Ðấng Thiêng-Liêng cho đặng xán-lạn.
2.- Hai là cầu khẩn với Ðức Ðại-Từ-Bi tha thứ tội-tình cho các em và cả chúng-sanh.
3.- Ba là có tế-lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẽ tự-nhiên.
4.- Bốn là tâm có cảm thì lòng bác-ái mới mở rộng, mà nhứt là khiếu lương-tri lương-năng của các em cũng nhờ đó mà lần-hồi thành ra mẫn-huệ. Các em nhớ à.
Còn việc phổ-độ, các em chớ nên vội quá, mà cũng chớ biếng-nhác quá.
Các em mỗi đứa phải để lòng vào đó thì mới có cảm động đến Ðức Ðại-Từ-Bi và có để lòng lo thì mới thành. Dầu một việc nhỏ-mọn ở thế-gian nầy cũng phải vậy. Huống chi Ðại-Ðạo là việc cứu-vớt cả chúng-sanh đương chìm-đắm trong biển trầm-luân kia.
Các em rán noi theo lời Thiếp thì có ngày được vinh-diệu. Cái vinh-hoa ấy, ở thế-gian chẳng hề có đặng.
Thăng
.
Trong Đạo Cao Đài,
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Nữ Phật, đại diện Đức Phật Thích Ca, lãnh lịnh Đức Chí Tôn làm Đệ Nhị Trấn Oai Nghiêm, cầm quyền Phật giáo thời ĐĐTKPĐ.
Trên tấm diềm phía trước Bát Quái Đài Tòa Thánh, tượng của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen, gần bìa phía tay mặt của Đức Lão Tử, thuộc bên Nữ phái.
Nơi Thánh Tượng Thiên Nhãn thờ tại tư gia, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen, hình Ngài ở phía mặt của Thiên Nhãn, dưới hình Đức Thái Thượng Lão Quân.
Trong LUẬT TAM THỂ, Bát Nương có giáng cơ dạy rằng: "Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về Cơ Giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về Cơ Phổ độ mà Quan Thế Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu. Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại Cung Nam Hải, ở An Nhàn Động, còn Cung Diêu Trì thì ở tại Tạo Hóa Thiên."
Sự tích Quan Âm Thị Kính
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đã đầu thai xuống trần tu hành được 9 kiếp rồi, đến kiếp thứ 10, Ngài giáng sanh vào nhà họ Mãng ở nước Cao Ly (Triều Tiên). Hai ông bà họ Mãng đã lớn tuổi rồi, nhà lại giàu có, nhưng chưa có con. Ngày kia, hai vợ chồng lên chùa cầu tự, sau đó có thai và sanh được một gái, dung nghi đẹp đẽ, tướng mạo đoan trang, đặt tên là Thị Kính.
Khi nàng Thị Kính đến tuổi cặp kê, gần đó có chàng Thiện Sĩ, con nhà họ Sùng, cậy mai mối đến hỏi cưới Thị Kính. Vợ chồng Mãng Ông thấy phải đôi vừa lứa nên bằng lòng gả Thị Kính cho Thiện Sĩ.
Nàng Thị Kính rất buồn bã vì phải về ở nơi nhà chồng, không ai săn sóc cha mẹ. Cha mẹ nàng an ủi: “Cha mẹ sanh con gái đến tuổi khôn lớn gả chồng, làm đẹp mày đẹp mặt cho cha mẹ là đủ rồi. Vả lại, nhà bên chồng của con cũng ở gần đây thì sự thăm viếng cũng thuận tiện”.
Từ khi về nhà chồng, Thị Kính giữ một mực tôn kính, phụng sự nhà chồng, trong ấm ngoài êm, ai nấy đều khen ngợi.
Một ngày kia, nàng đang ngồi may vá, chàng Thiện Sĩ đọc sách mỏi mệt, đến gần chỗ nàng ngồi may nằm nghỉ và ngủ quên. Nàng thấy nơi càm chồng có mọc sợi râu bất lợi, nên sẵn cầm dao nhíp nơi tay, nàng đưa dao cắt đứt. Bỗng chàng Thiện Sĩ giựt mình thức dậy, thấy vợ đang cầm dao đưa ngay vào cổ mình, vụt la hoảng: “Vợ tôi muốn giết tôi”.
Trong nhà vỡ lỡ, cha mẹ chồng chạy ra gạn hỏi, nàng cứ tình thiệt trình bày. Không ngờ cha mẹ chồng quá nghiêm khắc, bắt tội nàng mưu giết chồng, buộc Thiện Sĩ phải làm tờ thôi vợ, rồi cho mời Mãng Ông tới để lãnh con gái về.
Nàng Thị Kính phải mang mối hàm oan, đành lạy từ cha mẹ chồng, theo Mãng Ông trở về nhà. Nàng buồn bã muôn phần, một là buồn cho số phận xui xẻo, hai là buồn cho cha mẹ phải mang điều phiền não. Nàng than rằng: “Nếu nàng có anh em đông thì nàng đành quyên sinh để khỏi mang tiếng nhơ như thế. Nhưng vì nàng là con một, nên nàng không dám hủy mình, sợ mang tội bất hiếu, mà ở như thế nầy thì cũng rất khổ tâm, cho nên nàng quyết định xuất gia, lo tu hành cho đắc đạo, rồi sẽ trở về độ cha mẹ”.
Nàng lén cải trang thành một nam tử, rồi bỏ nhà trốn đi, đến một ngôi chùa nọ thì gặp Sư cụ đang thuyết pháp. Nàng thấy Sư cụ là bực chơn tu, nên xin Sư cụ cho thọ pháp qui y.
Sư cụ gạn hỏi nhiều lần, vì Sư cụ thấy trang thiếu niên nầy còn trẻ quá mà sao lòng chán đời, đến nương nhờ cửa Phật, gột rửa lòng phàm. Sư cụ thấy lòng thành và chí quả quyết của người thiếu niên, nên cho thọ pháp qui y, đặt Pháp danh là Kỉnh Tâm, và nhận Kỉnh Tâm làm đệ tử.
Sãi Kỉnh Tâm là gái giả trai, nên dung mạo đẹp đẽ, làm cho hàng tín nữ trầm trồ, nhứt là nàng Thị Mầu, con của một vị trưởng giả giàu có ở vùng ấy. Thị Mầu nhiều lần trêu ghẹo Sãi Kỉnh Tâm, đưa lời ong bướm, nhưng Kỉnh Tâm vẫn trơ trơ như không hay biết. Thị Mầu quá si mê Kỉnh Tâm, trong một lúc quá bồng bột, không kềm giữ được lòng dục, nàng tư thông với đứa tớ trai của nàng, khiến nàng có thai.
Làng xã thấy nàng Thị Mầu không chồng mà có chửa, nên gọi nàng và cha mẹ nàng đến tra hỏi. Nàng khai rằng, nàng có tư tình với Sãi Kỉnh Tâm nên mới ra cớ sự, và xin làng rộng tình cho Kỉnh Tâm hoàn tục kết duyên với nàng.
Trống mõ inh ỏi, cửa Thiền xưa nay êm lặng, phút chốc trở nên huyên náo, người làng đến đòi Sư Ông và Sãi Kỉnh Tâm ra làng dạy việc. Thầy trò không biết việc gì, cùng dắt nhau đi, đến nơi mới hay tự sự.
Tá hỏa tâm thần, thầy hỏi trò có sao cứ khai thiệt. Kỉnh Tâm một mực kêu oan, chớ không dám nói điều chi khác nữa.
Kỉnh Tâm bị làng đem ra tra tấn, đòn bộng, máu đổ thịt rơi, mấy lần bất tỉnh, nhưng Kỉnh Tâm vẫn một mực kêu oan. Sư Cụ động mối từ tâm, đứng ra xin bảo lãnh cho trò để đem về khuyên nhủ dạy răn.
Thấy thế, Hương chức làng cũng niệm tình ưng thuận.
Sau đó Sư Cụ bảo Kỉnh Tâm phải ra ngoài cổng Tam quan của chùa mà ở để tránh tiếng không tốt cho chùa.
Thời gian trôi qua, Thị Mầu sanh được một đứa con trai, nàng liền bồng đứa hài nhi đến cổng chùa giao cho Sãi Kỉnh Tâm, nói rằng: “Con của ngươi thì đem trả cho ngươi”.
Sãi KỉnhTâm đang tụng kinh, đứa hài nhi bị bỏ dưới đất, giãy giụa khóc la. KỉnhTâm nghe tiếng trẻ khóc, động mối từ tâm, chẳng cần dư luận, bèn ra ẵm đứa bé đem vào nuôi dưỡng.
Sư Cụ trách Kỉnh Tâm:
- Trước kia, con nói con bị hàm oan, mà nay con lại nuôi đứa bé nầy, chính thầy đây cũng phải nghi ngờ nữa, huống chi là ai.
Kỉnh Tâm bạch rằng:
- Bạch Sư phụ, khi xưa Sư phụ có dạy đệ tử rằng, cứu đặng một người thì phước đức hà sa. Đệ tử vâng theo lời thầy nên mới cứu mạng đứa bé nầy, chớ kỳ thật con không có ý chi hết.
Đứa trẻ càng lớn càng giống Kỉnh Tâm như hệt, lại có vẻ thông minh. Khi đứa bé được 3 tuổi thì Kỉnh Tâm lâm trọng bịnh, biết mình sắp lìa trần theo Phật, nên Kỉnh Tâm ráng ngồi dậy viết hai bức thơ: một, gởi cho Sư Cụ, hai, gởi cha mẹ ruột, ông bà họ Mãng, rồi dặn kỹ hài nhi làm đúng theo lời dặn.
Khi Sãi Kỉnh Tâm tắt hơi, đứa bé kêu cha khóc lóc một hồi, rồi nhớ lời cha dặn, liền đem thư vào đưa cho Sư Cụ .
Sư Cụ mở thư ra, xem xong trong lòng rất bùi ngùi thương tiếc, sai vài vị Ni cô ra khám xét thi thể của Kỉnh Tâm, thì rõ ràng Kỉnh Tâm là gái giả trai.
Tin Sãi Kỉnh Tâm là gái giả trai được truyền đi mau lẹ trong làng, làm mọi người hết sức ngạc nhiên.
Hương Chức trong làng đòi Thị Mầu tới, buộc tội cáo gian, phạt phải chịu tổn phí về các cuộc tống táng và làm ma chay cho Kỉnh Tâm.
Thị Mầu quá xấu hổ, bèn liều mình quyên sinh.
Đến ngày an táng Sãi Kỉnh Tâm, tức là nàng Thị Kính, mọi người đều nhìn thấy Đức Phật ngự tòa sen hiện ra ở trên mây, rước hồn của nàng Thị Kính về cõi Tây phương.
Chàng Thiện Sĩ rất ăn năn hối lỗi, nên phát nguyện tu hành. Tục truyền rằng, Đức Quan Âm Bồ Tát nhận thấy chàng Thiện Sĩ thật tâm hối lỗi và quyết chí tu hành, nên hiện đến cứu độ, đem về Nam Hải, hóa thành một con chim đậu một bên Đức Quan Âm Bồ Tát, mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề.
Quan Âm Bồ Tát cũng cứu độ đứa con nuôi, con ruột của Thị Mầu, đem về Nam Hải, đứng hầu bên Ngài.
Do đó, người đời họa hình Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đội mũ ni xanh, mặc áo tràng trắng, ngự trên tòa sen, bên tay mặt có con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, bên dưới có đứa trẻ bận khôi giáp chấp tay đứng hầu. (theo KhachTran – DĐCĐTTTN.net)
Cao Quỳnh Tuệ Lâm
