Cao Quyỳnh Tuệ Lâm
[Tiểu Sử | Thi Hữu | Nhắn Tin]


Giữ phận Tín đồ

Ông Năm theo đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, từ năm 1963, tính đến 2011, đã 48 năm! Sở dĩ, ông Năm nhấn mạnh cụm từ “Tòa Thánh Tây Ninh”, vì đạo Cao Đài có nhiều chi phái. Mỗi Chi phái từ sinh hoạt, sơ sở, cho đến nghi thức … đều không giống nhau. Đây là vấn đề phức tạp cho người tu học. Nếu nói thẳng “Mỗi chi phái là một Tôn giáo cùng tên là Cao Đài”. Đây là một điều chưa từng có …

Ông Năm có bịnh mất ngủ … Đêm nào cũng vậy, hể ngủ một giấc, thức dậy, là không ngủ lại được ! Những lúc này ông Năm lên mây ! Lên mây cũng phải có đích. Là người đạo Cao Đài, ông Năm thường vào các Diển Đàn liện hệ. Lần này gặp chuyện CÔNG QUẢvà TU TỊNH. Mắt ông Năm yếu rồi, nênphải “đao-lốt” về máy, phóng đại cở chữ 16 mà còn in đậm mới đọc được. Môi khi thấy bài nghịch lý với mình, ông Năm nhảy vào làm thầy-giáo chấm luận văn là gạch dưới và ghi lời phê. Ông Năm làm việc với bạn Thanh Lâm.

---

Kính Quý Vị, Kính Quý Huynh Tỷ!
Theo suy nghĩ cá nhân của đệ thì:
- Điều gì đã quy định trong Tân Luật và Pháp Chánh Truyền đều không thừa, không thiếu và điều rất quan trọng với tín đồ Đại Đạo và chư chúng sanh!
- Công quả hay tịnh luyện[ chữ hay là giống nhau, còn Công Quả và Tinh Luyện là hai vấn đề. Ông Năm vốn rắc rối, chề một chữ cũng không đước] cái nào cũng quan trọng, quan trọng nữa là đúng thời điểm và tương thích với căn cơ mỗi vị. Trong Tân Luật phần Tịnh Thất để sau cùng và cũng đã được Thầy kiểm duyệt và chấp thuận thì cũng có lý riêng và cái ý ẩn tàng trong đó, nên suy ngẫm và tuân hành.
- Đạo Thầy lập Kỳ Bacũng thể lòng Từ Bi muốn tận độ vạn linh sanh chúng, mà hàng Nguyên Căn Thượng Trí thì ít, mà tầng lớp đạo hữu bình dân thì nhiều nên trước phải lấy giáo án dùng cho số đông mà phổ cập, cũng vì vậy mà Thầy muốn cho anh em mình có dốt nát lắm cũng có cơ hội lậpcông quả, từ việc nhỏ nhặt dể làm đến khó khăn tinh xảo. Nhập môn rồi thì tập tu học ăn hiền ở lành, gạn đục khơi trong cho tâm tánh hiền lương chất phát, nếu thật tâm tu hành thì thế nào cũng có cảm ứng, có các Đấng hộ trì thì trí não quang minh tinh thần mãn huệ cũng chẵng mấy hồi!
- Công quả cũng như tạo lập cái nền trong việc xây nhà (công trình), [Chi phái nói : công phu – công quả -công trình , Thanh Lâm viết thế này là chưa hiểu rõ. Không biết, ông Năm tim tra Cao Đài Từ Điển, xem sao. Từ Điển không ghi riêng Công quả mà ghi chung “tam công”.

.---

[Công phu - Công quả - Công trình:

Công: Nỗi vất vả làm nên công việc. Phu: làm việc vất vả. Quả:kết quả của việc làm có ảnh hưởng đến phẩm vị nơi cõi thiêng liêng. Trình: cách thức làm việc.

Công phu, Công quả, Công trình, nhập lại gọi chung là Tam Công. Tam Công nằm trong phần Lập Công của Tam Lập. Tam Lập gồm: Lập Ðức, Lập Công và Lập Ngôn.

1. Công phu: Phần Công phu gồm hai việc:

·Học tập kinh sách để thông hiểu Giáo lý và Luật pháp của Ðạo.

·Cúng Ðức Chí Tôn vào Tứ thời: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu.

a. Học tập kinh sách Ðạo:

·Kinh thì có Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo (Tân Kinh).

·Luật thì có Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Bát Ðạo Nghị Ðịnh, Ðạo Luật năm Mậu Dần, Luật Hội Thánh.

·Giáo lý thì có các sách: TNHT, Thánh Ngôn Sưu tập, Thuyết Ðạo của Ðức Phạm Hộ Pháp, Giáo lý của Tiếp Pháp Trương Văn Tràng, Thiên Ðạo của Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, Chánh Trị Ðạo của Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, vv . . . .

Việc học tập kinh sách có mục đích mở mang thể Trí của tín đồ.

b. Cúng Ðức Chí Tôn vào tứ thời:

Chúng ta cố gắng cúng Ðức Chí Tôn nơi Thiên bàn tại nhà chúng ta vào Tứ thời: thời Tý lúc 12 giờ khuya, thời Mẹo lúc 6 giờ sáng, thời Ngọ lúc 12 giờ trưa, thời Dậu lúc 6 giờ tối.

Việc Tứ thời Công phu nầy rất quan trọng, vì lúc đó chơn thần chúng ta hấp thụ thanh điển của Trời.

Ðức Quan Âm Bồ Tát giáng cơ nói rằng:

"Các em phải lo cúng kiếng thường:

- Một là tập cho chơn thần gần gũi các Ðấng thiêng liêng cho đặng sáng lạn.

- Hai là cầu khẩn với Ðức Ðại Từ Bi tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh.

- Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng là lẽ tự nhiên.

- Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng, mà nhứt là khiếu lương tri lương năng của các em nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ. Các em nhớ à!" (TNHT)

Thất Nương DTC cũng có viết:

"Lễ bái thường hành tâm Ðạo khởi."

Như vậy, việc công phu hằng ngày giúp cho người tín đồ mở được Trí huệ, tức là cái trí càng ngày càng thêm sáng suốt.

2. Công quả:

Tất cả những việc làm giúp người giúp đời, phụng sự Ðạo, phụng sự nhơn sanh, dù phạm vi nhỏ hay lớn, đều gọi là công quả, vì những công việc nầy tạo ra một kết quả tốt đẹp nơi cõi thiêng liêng.

Công quả muốn được chánh danh và đúng ý nghĩa của nó thì phải là công quả phát xuất từ lòng tự nguyện tự giác, thiết tha với nó, xem nó là mục đích của đời mình.

Muốn lập Công quả được mỹ mãn thì tự bản thân của người tín đồ phải rèn luyện hai điều sau đây:

- Thứ nhứt là phải lo học hỏi đạo lý cho thông suốt để có đủ khả năng dẫn dắt người chưa hiểu Ðạo vào đường đạo đức như mình. Ðó là tự giác nhi giác tha, tức là mình tự giác ngộ trước rồi sau mới giác ngộ người.

- Thứ nhì là phải giữ gìn sức khỏe cho cường tráng để làm điều thiện, phụng sự nhơn sanh. Nếu sức khỏe mình không tốt, đau ốm liên miên thì mong chi phụng sự người khác, mà trái lại người khác phụng sự lại mình, mình mất hết công quả mà lại còn mang nợ nữa là đàng khác.

Mỗi người tùy theo khả năng chuyên môn mà làm công quả. Trong Ðạo, biết bao nhiêu công việc, đủ mọi ngành nghề, từ việc làm bằng sức lao động đến việc làm bằng trí não.

Ðức Chí Tôn hằng dạy rằng: "Vậy Thầy khuyên các con, đứa nào có trí lực bao nhiêu, khá đem ra mà thi thố, chớ đừng sụt sè theo thói nữ nhi, vậy cũng uổng cái điểm linh quang của Thầy ban cho các con lắm." (TNHT)

Ðức Chí Tôn cũng đã hứa: "Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần. Ðức Chí Tôn đại khai ân xá, mở Ðạo kỳ ba nầy là lập một trường thi công quả cho nhơn sanh đắc đạo.

Thầy nói cho các con biết, nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong, Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao." (TNHT)

Làm công quả phụng sự nhơn sanh là thể hiện đức tánh Từ Bi Bác Ái. Càng làm công quả thì thể Bi trong mỗi người chúng ta càng phát triển, và phải tiếp tục làm cho nó phát triển mãi, để cuối cùng hòa nhập được vào khối thương yêu vô tận của Ðức Chí Tôn.

3. Công trình:

Công trình là việc lập hạnh tu hành, bao gồm việc gìn giữ giới luật như: Ngũ Giới Cấm, Tứ Ðại Ðiều Qui, Thế Luật, việc ăn chay kỳ hay ăn chay trường.

Việc lập hạnh đòi hỏi người tu phải có ý chí mạnh mẽ, hùng dũng mới thắng nỗi những sự yếu hèn và ham muốn của thể xác, do lục dục và thất tình xúi giục gây ra. Thể xác lúc nào cũng muốn tự tung tự tác, sung sướng thoải mái, chớ đâu chịu bó mình trong Giới luật.

Do đó, việc lập hạnh tu hành là thể hiện cái Dũng của con người. Cần phải dũng cảm chiến thắng sự đòi hỏi buông lung của thể xác. Không có chiến thắng nào vẻ vang hơn chiến thắng được dục vọng của mình.

Tóm lại:

·Công quả là thể hiện đức BI,

·Công phu là thể hiện đức TRÍ,

·Công trình là thể hiện đức DŨNG.

Tam Công: Công phu, Công quả, Công trình, liên hệ mật thiết nhau, quan trọng như nhau, giống như Bi, Trí, Dũng, không thể tách rời, không thể bỏ sót phần nào được, mà phải phát triển song song nhau thì sự tiến hóa tâm linh mới nhanh chóng và mau đắc quả].

---

[Cao Đài Từ Điển - Soạn giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng - bút hiệu ÐỨC NGUYÊN. Hiền Tài mà giải thích không theo Giáo lý Tòa Thánh Tây Ninh, lại giải thích Tam Công của Chi phái thay cho Tam Lập là điều KHÔNG CHẤP NHẬN].

Tam lập - Tam công: [Giải Tam Lập còn ghép Tam công làm gì ?]

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Lập: gây dựng nên. Công: nỗi vất vả làm nên công việc.

Tam lập là ba điều lập nên, còn gọi là Tam bất hủ, vì ba điều lập nên nầy không bao giờ hư hoại, mà lại truyền mãi về sau. Tam lập gồm: Lập đức, Lập công và lập ngôn.

Trong Lập công, có ba cách lập công, gọi là Tam công gồm: Công phu, Công quả, Công trình. (Phần Tam công, xem chi tiết nơi chữ: Công phu, Công quả, Công trình, vần C) [phần này Soạn giả bị ảnh hường Chi Phái, bởi Chi Phái thích lý luận, rồi mê ư ?]

Đạo Cao Đài mở ra ba cách tu, đắc đạo đoạt vị Thần, Thánh, Tiên, Phật:

- Cách thứ nhứt hay con đường tu thứ nhứt là hành đạo nơi Cửu Trùng Đài, đi theo Cửu phẩm Thần Tiên, đạt phẩm vị lần lượt từ Địa Thần, Nhơn Thần, Thiên Thần, rồi lên Địa Thánh, Nhơn Thánh, Thiên Thánh, rồi sau cùng lên phẩm Địa Tiên, Nhơn Tiên, Thiên Tiên. Con đường tu nầy chủ yếu về phần Lập Công và Lập Ngôn.

- Cách thứ nhì hay con đường tu thứ nhì là hành đạo nơi Cơ Quan Phước Thiện, đi theo Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, đạt phẩm vị lần lượt từ Minh Đức, Tân Dân, rồi Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện, Chí Thiện, lên Đạo Nhơn, Chơn Nhơn, Hiền Nhơn, Thánh Nhơn,.... sau cùng đến Tiên Tử, Phật Tử. Con đường tu nầy chủ yếu về phần Lập Đức.

- Cách thứ ba hay con đường tu thứ ba là vào Tịnh Thất luyện đạo, học và thực hành các bí pháp luyện đạo, luyện cho Tam bửu Tinh Khí Thần hiệp nhứt thì đắc đạo tại thế.

Nhưng trước khi được vào Tịnh Thất luyện đạo, hành giả phải trải qua thời kỳ hành đạo cho đủ Tam Lập. Nếu không đủ Tam Lập thì không thế nào luyện cho đắc đạo.

Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng giải như sau:

"Ai không xuất thân hành đạo, nghĩa là không có công phổ độ thì không vào tịnh được, vì không đủ Tam Lập.

Trước khi xin vào Tịnh Thất, phải nạp tất cả giấy tờ hành đạo, lai lịch từ thuở nhỏ đến trưởng thành, ở ngoài đời không có án tiết, trong cửa đạo cũng vậy, trọn tùng luật pháp đạo và trường chay mới được, rồi giao cho Chi Pháp minh tra về thể pháp đủ bằng chứng. Chi Pháp phải giữ hồ sơ của mỗi người, còn điều trọng yếu về vô vi, không thể gì Chi Pháp biết đặng, chiếu văn kiện thì đầy đủ lắm. Vậy Chi Pháp chỉ biết văn bằng hiện hữu về mặt hữu hình mà thôi.

Khi minh tra đủ lẽ rồi mới giao cho Hộ Pháp cân thần. Nếu vị nào đủ Tam Lập thì cho vào Tịnh Thất, bằng thiếu thì trở lại đi Đầu Họ, Đầu Quận hành đạo nữa. Nói rõ là có Hộ Pháp trục thần khai khiếu mới biết đặng đủ thiếu, bằng không thì ngồi tịnh lớn bụng vô ích."

Vậy Tam Lập là phép tu cốt yếu của Đạo Cao Đài.

Trong thời kỳ Đại Ân Xá của Đức Chí Tôn, Đức Chí Tôn miễn cho môn luyện đạo nơi Tịnh Thất, nên trong thời kỳ nầy, người tín đồ Cao Đài chỉ cần đủ Tam Lập là đắc đạo.

Sau khi hết thời kỳ Đại Ân Xá, những tín đồ có đủ Tam Lập còn phải vô Tịnh Thất luyện đạo nữa thì mới đắc đạo. [chưa có bằng chứng nào cả !]

Trong Tam Lập (Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn), ba Lập ấy tương quan mật thiết với nhau, khó tách rời ra được, vì nếu tách riêng ra thì không thể thi hành được.

1. Lập Đức: (Xem chữ Lập Đức, vần L) [sao không chép ra đây, khiến người tìm học, nhọc công lắm đó ! - Để người đọc liên tục, ông Năm tra tìm, rồi gắn vào đây]

Lập đức:

Lập: Tạo ra, dựng nên, đứng thẳng. Đức:kết quả của những việc làm từ thiện.

Lập đức là tạo lập công đức.

KTKCMQL:

Thong dong cõi thọ nương hồn,
Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa.

Câu kinh trên cho chúng ta biết rằng: một người dù nam hay nữ, nếu quyết chí tu hành, phế bỏ việc đời, hiến thân hành đạo, miệt mài lập đức bồi công thì nhứt định sẽ cứu được Cửu Huyền Thất Tổ và cứu được linh hồn của cha mẹ, thoát khỏi cảnh đọa đày và được siêu thăng lên cõi TLHS.

Có ba chứng minh sau đây của ba vị tiền bối: - Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu. - Đức Quyền Giáo Tông. - Ngài Bảo Pháp.

1. Bài Thánh ngôn Đức Chí Tôn dạy Bà Hương Hiếu đi hành đạo, ngày 7-Giêng-Bính Dần (1926):

"Đức Chí Tôn dạy Bà Hương Hiếu đi hành đạo, phổ độ nhơn sanh. Bà Cư (Hương Hiếu) bạch với Thầy rằng:

- Má con mắc ở xa, làm sao con đi độ được?

Thầy: - Hiếu! Con biết một lòng tu niệm đạo đức của con đủ cứu Cửu Huyền Thất Tổ rồi, huống là mẹ con, để Thầy định đoạt,con đừng lo buồn." (Trích ĐS. I. 36)

2. Trong một đàn cơ, Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung hỏi Bát Nương:

- Thân phụ và thân mẫu của Qua có được siêu thăng không? Giờ đây ở đâu?

Bát Nương đáp:

- Em chỉ nói bằng thơ, nếu anh giảng trúng thì nói nữa, còn trật thì lui.

Đức Quyền Giáo Tông năn nỉ:

- Nếu Qua nói trật thì Em thương tình mà chỉ dẫn để cho Qua học thêm với.

Bát Nương nói:

- Bạch Y Quan nay sanh Cực Lạc,
   Bá phụ cùng bá mẫu đặng an.

Đức Quyền Giáo Tông nói:

- Như vậy là thân phụ và thân mẫu của Qua trước ở cõi Bạch Y Quan, nay đã sang ở yên nơi Cực Lạc Thế Giới?

- Đúng đó, ấy là nhờ công tu luyện của anh nên bá phụ và bá mẫu siêu thăng nơi Cực Lạc.

3. Thân mẫu của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu xin phép Đức Chí Tôn giáng cơ để tỏ cho Ngài Hậu biết, nhờ công quả của Ngài Hậu mà Bà được siêu thăng lên Đông Đại Bộ Châu. Phò loan: Bảo Pháp - Hiến Pháp.

Ngày 19-2-1929 (âl 10-1-Kỷ Tỵ).

Mẹ mừng con, Mẹ cám ơn con đó.

Con đâu rõ đặng, ngày nay Mẹ nhờ công con mà đặng thăng cấp. Nay Mẹ đặng vào Đông Đại Bộ Châu. Ấy cũng nhờ ơn của Chí Tôn rất thương mà cho Mẹ vào phẩm ấy. Mẹ chẳng biết lấy chi mà thông công cho hai con và các cháu, nên mới dụng huyền diệu mà Mẹ đã cầu xin Chí Tôn ban cho Mẹ đặng cho con cùng cháu hay rằng, Đức Chí Tôn đã giữ lời hứa cùng con. Nay Mẹ đến khuyên hai con khá lo sao cho tròn phận sự, ngày thêm vun đắp nền Đạo đặng báo đáp Ơn Trên đã hết lòng vì cả nhà ta. Nếu con có lòng ấy thì Mẹ rất vui lòng đó, con hiểu...

Mẹ rất vui thấy lòng con nên Mẹ mới xin phép Chí Tôn đến đây tỏ ít lời cho con hiểu. Vậy con khá an lòng mà lo Đạo, chớ nên vì việc nhỏ mà nao chí nghe!

Tôi chào nhị vị Thánh (nói với Nghĩa và bác vật Lang). Tôi chẳng biết lấy chi cám cảnh cho bằng dùng vài lời nhắc đây: Xin nhị vị khá hết lòng lo hiệp tác mà nâng cao địa vị mình càng ngày cho tột phẩm.

Tôi đây chẳng chi xứng phận mà cũng nhờ ơn Chí Tôn thương tưởng thay! Ấy cũng nhờ sức con mới đặng vậy, không thì biết sao mà kể xiết.

Ấy đó, công của nhị vị càng dày thì Chí Tôn càng yêu dấu. Xin khá để hết tâm chí mà hành phận sự. Ấy là lời tôi xin nhị vị khá để ý.

{Hỏi về việc Ông thân tôi. (Ngài Bảo Pháp hỏi.) }

- Mẹ không dám nói. Thôi Mẹ lui. (Trích trong tập Thánh ngôn chép tay của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu).

"Có học mới biết phương lập đức. Có học thì tâm mới hướng về đức. Đức có Đại Đức và Tiểu Đức.

Đại Đức như nước biển cả, tẩm thấm khắp cả muôn vật.

Tiểu Đức ví như nước trong ao, tẩm thấm có giới hạn. Tiểu Đức chỉ cảm hóa ít người; Đại Đức bao trùm cả thiên hạ.

Lập đức lấy bố thí làm phương tiện.

Bố thí gồm: Thí tài, Thí công, Thí ngôn, Thí pháp.

Thí tài là đem tiền của ra giúp khó trợ nghèo.

Thí công là đem sức lực làm những côngviệc giúp người

Thí ngôn là đem lời nói mà giúp ý kiến hay cho người để giải quyết những khó khăn của người.

Thí pháp là đem lẽ Đạo để cảm hóa giáo dục người trở nên lành. Những cách bố thí trên, chỉ có Thí pháp là có nhiều công đức hơn cả.

Giúp người đói, giúp người hết khổ hay thoát khỏi tai nạn, cũng chỉ qua một thuở mà thôi, duy chỉ có đem Pháp ra hóa độ người dữ ra hiền, người mê muội ra giác ngộ, lo tu hành để thoát vòng sinh tử luân hồi thì côngđức ấy đời đời chẳng mất.

Lập đức phải đứng trên quan điểm VÔ NGÃ, tức là quên mình mà lo cho người, chẳng cầu người trả, chẳng nghĩ đó là công do ta làm.

Muốn lập đức trên phương diện Thí pháp, cần phải có quyết tâm lớn trên đường tu học. Phải học cho thông, phải hiểu cho rành, quán thông từ Nhơn đạo đến Thiên đạo. Phải cầu bậc cao minh mà thọ giáo. Chớ nên tự mãn, mới học nhom nhem nửa câu mà tự cho rằng mình biết hết, rồi đem cái biết thô thiển đó truyền thụ cho người thì tai hại vô cùng, không lập đức được mà lại còn tổn đức.

Ngày nào học thông chánh lý, lòng thông suốt, trí hiểu rành, nói rành, chẳng còn gì trái với chơn ý của Thánh nhân, ấy là thể theo Thánh nhân mà nói lại lời của Thánh nhân.

Nếu là kẻ mê tín thì ta lấy Chánh tín mà độ họ; nếu là kẻ tư dục thì ta đem công lý giải bày; nếu là kẻ tham lam thì ta đem việc Thí tài mà giảng giải; nếu là kẻ sân hận thì ta đem pháp nhẫn nhục mà độ; nếu gặp kẻ chẳng may lạc vào Tả đạo Bàng môn thì ta đem Chánh đạo mà khai hóa; nếu là người si mê thì ta đem Chánh lý mà mở mang trí tuệ cho họ.

Giáo dục có nhiều phương pháp, phải tùy duyên mà hóa độ, tùy bệnh mà lập phương trị liệu, bệnh nào thuốc nấy.

Chữa bệnh về thân xác thì có lương y; chữa bệnh về Tâm thì chỉ có Thánh nhân. Thánh nhân chữa cả Tâm lẫn thân, thân tâm hiệp trị. Nếu thân chưa trị thì Tâm khó trị. Vì vậy nên thân Tâm phải hiệp trị, ấy cũng là Tánh Mạng Song Tu. [từ Chi Phái]

Khi lập đức thì phải lập từ đức nhỏ đến đức lớn.

Đức nhỏ là hóa độ người trong nhà. Đức lớn là cảm hóa nhiều người trong thiên hạ. Đức lớn là đức của bậc Thánh nhân, Đức nhỏ là đức của bậc Sĩ, bậc Hiền.

Đức lớn sáng soi khắp Trời Đất, chói lọi như ánh Thái dương, nên gọi là Minh Minh Đức. Có Minh Minh Đức mới xây dựng được một thế hệ tươi đẹp, mới đào tạo được giống dân mới gọi là Tân Dân. Tân Dân còn gọi là Thân Dân, là thương mọi người như thương mình hay như thương người thân của mình. Vua Nghiêu hằng nói với quần thần: "Các Khanh hãy thương yêu dân như thương yêu Trẫm, dân đói là Trẫm đói, dân rét là Trẫm rét."

Như vậy, đời sao không thạnh trị? Quần thần khi nghe lời nói của Đấng Minh quân như thế thì ai mà chẳng xúc động. Toàn thể quốc dân nghe được lời nói của vua như thế thì ai mà chẳng động lòng. Động lòng vì Đức cả, Nhân lớn, nên cả thảy đều lo tích Đức tu Nhân, mọi người đều no cơm ấm áo. Chẳng còn nghèo, chẳng còn đói, thì đâu còn cảnh trộm cướp, mà chỉ đua nhau làm Nhân, làm Nghĩa, nên nhà nhà không đóng cửa, ngoài đường không ai lượm của rơi, người người thảnh thơi mà an hưởng cảnh thanh bình trời Nghiêu đất Thuấn.

Trên Đức là Đạo. Nhưng chỉ vì đời mất Đạo nên mới đem Đức ra mà nói mà dạy người, nhưng rồi Đức cũng chẳng còn nên mới đem Nhân đem Nghĩa ra mà nói.

Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín gọi là Ngũ Thường, người người đều phải giữ vẹn năm đức ấy thì mới trọn được Nhơn phẩm. Nếu thiếu một thì Nhơn phẩm không tròn.

Nên Mạnh Tử có nói: "Ngũ giả khuyết nhất bất thành vi nhân." (5 cái mà thiếu 1 thì không thành đạo làm người).

Giữ tròn năm Đức ấy là người có phẩm hạnh cao tột.

Nhưng còn Ngũ luân nữa cũng không thể thiếu.

Ngũ thường, Ngũ luân, ấy là Nhơn đạo.

Ở phần Nhơn đạo, việc lập đức đương nhiên dễ hơn ở phần Thiên đạo. Khó ở Thiên đạo là việc Thí pháp. Ở Nhơn đạo cũng có Thí pháp, nhưng chỉ nói pháp của Nhơn đạo mà thôi.

Thực tế trong phương lập đức ở Nhơn đạo, thì Ngũ thường gồm đủ Tánh Mạng Song Tu. [Ông Năm đọc từ Chi phái, nghe chói tai liền] Nói là gồm đủ Ngũ thường, chớ đức Nhân bao gồm cả năm đức, nên chỉ cần tu Nhân là bao gồm đủ năm đức.

Nhân là lòng thương yêu. Nhờ lòng thương yêu ấy mà Thần Khí được sung mãn, sáng suốt. Bởi lẽ, hễ làm được một điều lành thì tăng thêm được một phần Dương khí, vì Dương là thiện, mà thiện cũng là Dương.

Trái lại, nếu bỏ Nhân thì rơi vào Ác hành. Làm một việc bất nhân tức là làm ác, mà làm ác thì giảm đi một phần Dương, tức nhiên tăng thêm một phần Âm, Âm là ác đó vậy.

Chừng nào loại bỏ hết được phần Âm. Chỉ còn lại phần Dương, gọi là Thuần Dương, thì đắc đạo vậy." (Theo Chơn Truyền Đạo Học)

Trong Đạo Cao Đài, muốn lập đức cho được trọn vẹn thì phải theo con đường Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của Cơ Quan Phước Thiện.

Trong Con Đường thiêng liêng hằng sống, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng giải như sau:

"Lập vị mình theo Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, tức là theo Hội Thánh Phước Thiện. Nơi đây, ngoài việc ăn chay, giữ gìn luật đạo, tùng theo chơn pháp của Đức Chí Tôn, còn phải dùng đức để lập vị mình.

Muốn lập đức, phải đi từ Minh Đức, Tân Dân, Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện, Chí Thiện, v.v...

Lập đức là gì? là dùng sự thương yêu để cứu độ chúng sanh, mà Đức Chí Tôn đã có nó: "Sự thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh" là vậy đó.

Các đẳng chơn hồn tái kiếp đang chơi vơi trong Tứ Khổ. Muốn thoát khổ, họ phải thọ khổ, có thọ khổ mới thắng khổ.

Người tu đi theo Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng là dạy người ta thọ khổ để thắng khổ. Muốn dạy người ta thọ khổ, trước hết mình phải thọ khổ đã. Muốn thọ khổ thì không gì hay bằng dùng đức thương yêu. Cho nên bậc thứ nhứt của Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng là Minh Đức đó vậy.

Có thương yêu mới thọ khổ được. Ta thương cha mẹ ta, ta mới chịu khổ mà bảo dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, ta thương con ta, ta mới lo tảo lo tần nuôi nó khôn lớn, ta thương những người cô thế tật nguyền, ta mới tầm phương giúp đỡ họ, mà tầm phương giúp đỡ họ là ta thọ khổ đó vậy.

Thọ khổ rồi mới thắng khổ. Thọ khổ không phải một ngày một bữa, mà phải thọ đến nơi đến chốn, nghĩa là nuôi cha mẹ cho đến tuổi già, lo cho con từ bé cho tới lúc nó tự lo cho nó được. Hai điều đó còn dễ, đến lo cho thiên hạ hết khổ mới khó, vì khi lo cho người nầy thì lại đến người khác, và cứ như vậy, trọn kiếp sanh mới gọi là thắng khổ.

Có thắng khổ mới về được với Đức Chí Tôn bằng con đường Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng."

2. Lập Công:

Lập Công là đem sức lực và sự hiểu biết của mình ra làm việc phụng sự nhơn sanh.

Việc Lập Công chia làm 3 phần: Công quả, Công phu, Công trình. [Lập Công là Lập Công, như vấy là bị ảnh hưởng Chi Phái nữa rồi !!!]

Phần Công quả là quan trọng hơn cả, vì Đức Chí Tôn có nói nhiều lần rằng: Đức Chí Tôn mở ĐĐTKPĐ là lập một trường thi công quả cho nhơn sanh đắc đạo. Đắc đạo cùng chăng là do công quả. Muốn làm giàu thì phải tìm cách làm ra của cải cho nhiều, muốn làm Tiên Phật thì phải có công quả.[rất tiếc không ghi xuất xứ]

Công quả muốn được chánh danh và đúng nghĩa của nó thì phải là công quả xuất phát từ lòng tự giác tự nguyện, thiết tha với nó, xem nó là nguồn sống là mục đích của đời mình.

Mỗi người tùy theo khả năng chuyên môn mà làm công quả. Trong đạo có biết bao nhiêu công việc, đủ mọi ngành nghề, đủ mọi trình độ, từ lao động trí thức cho đến lao động chân tay, ai có sở trường trong công việc nào thì xin vào làm công việc đó cho đạt được mau chóng nhiều kết quả tốt đẹp.

Đức Chí Tôn có dạy rằng:

TNHT: "Vậy Thầy khuyên các con, đứa nào có trí lực bao nhiêu, khá đem ra mà thi thố, chớ đừng sụt sè theo thói nữ nhi, vậy cũng uổng cái điểm linh quang của Thầy ban cho các con lắm." [sao không ghi ngày, tháng, năm ???]

Và Đức Chí Tôn cũng có hứa rằng: "Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần."

Hành đạo nơi CTĐ chủ yếu là Lập Công để lập Thiên vị của mình nơi cõi thiêng liêng. Muốn Lập công cho được kết quả mỹ mãn, người tín đồ cần phải lưu ý các điều sau đây:

- Thứ nhứt, tự rèn luyện khả năng hiểu biết đạo lý của mình để dẫn dắt người chưa biết đạo hay chưa hiểu đạo đi vào con đường đạo đức như mình. Đó là tự giác nhi giác tha, tức là mình tự giác ngộ lấy mình rồi sau đó giác ngộ người khác.

- Thứ nhì, phải gìn giữ sức khỏe của mình cho được tráng kiện, dẽo dai, để làm điều thiện không biết mệt, phụng sự cho Đạo và cho nhơn sanh không ngừng nghỉ và đắc lực.

Nếu sức khỏe không tốt, đau ốm liên miên, chẳng những mình không lập công được mà lại để cho nhơn sanh giúp lại mình, tự nhiên mình phải mất đi phần công đức hay phải mang nợ nhơn sanh.

3. Lập Ngôn:

Lập Ngôn là nói những lời chơn thật, chánh đáng, có đạo đức để người nghe phát tâm hành thiện hay tu hành.

Lời nói thốt ra từ cửa miệng gây ra Khẩu nghiệp. Trong Tam nghiệp: Thân nghiệp, Ý nghiệp, Khẩu nghiệp, thì Khẩu nghiệp dễ mắc phải nhứt, vì lời nói không mất tiền mua, nên người ta cứ phát ngôn bừa bãi vô tội vạ. Nhưng người tu nên nghĩ rằng: lời nói không tốt sẽ gây ra khẩu nghiệp, cũng nặng nề như Thân nghiệp và Ý nghiệp vậy.

Cho nên khi nói ra lời nào, phải suy nghĩ cho cẩn thận, xem lời nói đó có chơn thật không, có gây thiệt hại hay phiền giận cho ai không.

Bên Tây phương có một câu cách ngôn làm lời khuyên rất quí báu: "Trước khi nói hãy uốn lưỡi bảy lần." (Il faut tourner sept fois sa langue dans sa bouche avant de parler.)

Nho giáo có dạy rằng: Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, nhứt ngôn khả dĩ táng bang. (Một lời nói có thể làm nước hưng thịnh, một lời nói có thể làm nước mất). Câu nói nầy để cảnh giác các vị vua khi nghe lời tâu cáo của quần thần, phải phân biệt lời nào trung quân ái quốc xây dựng đất nước, lời nói nào sàm nịnh của kẻ gian thần hại nước.

Đức Chí Tôn cũng thường dạy: "Thầy dạy các con phải cẩn ngôn cẩn hạnh, thà là các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con nói tội mà phải mang trọng hình đồng thể."

Người tín đồ Cao Đài muốn Lập Ngôn đúng đắn thì phải nghiêm chỉnh tuân theo giới cấm thứ 5 trong Ngũ Giới Cấm:

Ngũ bất vọng ngữ là cấm xảo trá láo xược, gạt gẫm người, khoe mình, bày lỗi người, chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, chê bai, nói hành kẻ khác, xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách, ăn nói lỗ mãng thô tục, chửi rủa người, hủy báng tôn giáo, nói ra không giữ lời hứa."

Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng giải về Tam Lập, trích ra như sau đây:

"- Mình học để biết Đạo là Lập Đức, nói Đạo cho thân tộc mình biết là Lập Công, độ toàn nhơn loại là Lập Ngôn. Có làm đủ ba điểm đó mới về được với Đức Chí Tôn bằng con đường Cửu Thiên Khai Hóa."

"- Lập Đức thì phải nhớ đạo lý. Lập Công thì phụng sự nhơn sanh. Lập Ngôn thì để hết trí óc tìm hiểu về triết học tinh thần, tìm tòi mọi lẽ cao sâu để thuyết minh Chánh giáo."

"- Phương pháp Tam Lập, nói rõ ra là chỉ đem mảnh thân nầy làm tế vật cho Đức Chí Tôn đặng phụng sự nhơn loại. Nếu giải rõ rất nhiều chi tiết, để có dịp Bần đạo sẽ thuyết minh hoặc viết sách in ra cho học hỏi."

"Còn mấy em đây là trung phẩm chi nhơn, giáo nhi hậu thiện, mấy em tạo thiện đức được là biết nghe lời Hội Thánh. Người ta có tài thì làm việc hay, còn mình dở thì làm việc thường.

Bần đạo tỉ dụ một việc thường để cho mấy em dễ hiểu. Phận mình dốt thì làm theo dốt. Muốn tạo thiện đức, thiện công, thiện ngôn, là như vầy:

Mình nghe đâu có cất chùa, thì mình tự tính đi đến đó xin làm công quả. Mình nghe đâu đó bị tai nạn khốn khổ, thì trong đêm ấy nằm tính và thương xót nghe chỗ đó bị tai nạn, mình định sáng ngày mai, rủ anh em hay tự mình đi, dầu sáng ngày tằm sắp chín hoặc có mối lợi gì đó cũng bỏ đi. Đến trợ giúp tai nạn. Đó là thiện đức, nghĩa là khi mình tính.

Khi đến, mình nói như vầy: Thưa anh, tôi nghe anh bị tai nạn, tôi đến để xin phép giúp anh một ngày, hoặc là vác một cái cây, hoặc giúp một đồng bạc, vậy thì anh vui lòng cho tôi giúp với một nghĩa mọn. Khi mình nói, đó là Thiện ngôn. Khi mình làm, đó là Thiện công. Chớ không phải ỷ có tiền rồi nói sổ sàng: Đây tôi cho anh một đồng mua gạo ăn đỡ đói. Như vậy là chưa Thiện ngôn."

Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài, trong buổi đầu là thời kỳ Đại Ân Xá, nên Đức Chí Tôn lập một trường thi công quả (hay trường thi công đức) cho nhơn sanh đắc đạo. Đức Chí Tôn miễn cho môn thi luyện đạo vì môn nầy rất khó, chỉ cần có đủ công quả là Đức Chí Tôn cho đắc đạo.

Việc lập công quả hay công đức là thuộc về Tam Lập, vì Lập Đức, Lập Công và Lập Ngôn gắn liền nhau, không thể tách rời ra từng phần được. Do đó, thi Lập công quả hay thi Lập công đức chính là thi Tam Lập.

Người tín đồ Cao Đài là những sĩ tử tham dự kỳ thi nầy, nên cần phải luyện tập ba môn thi nói trên cho hay cho giỏi.

Làm bài trúng, được điểm cao, được chấm đậu thì Đức Chí Tôn ban thưởng cho các phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật tương xứng. Nếu các sĩ tử không rèn luyện các môn thi chánh thức nầy, mà lại xem thường nó, rồi lại đi rèn luyện các môn khác không sử dụng trong kỳ thi như môn Luyện đạo chẳng hạn, thì rất uổng phí thời gian cho một kiếp sanh may duyên gặp Đạo.

Trong kiếp sanh nầy, muốn đắc đạo tức là thi đậu thì phải lo học tập và thực hành Tam Lập. Việc nầy cũng rất khó khăn, nhưng không phải không làm được, muốn thực hiện thì phải có một quyết tâm lớn, một ý chí kiên cường nhẫn nại và một tấm lòng hy sinh.

- Quyết tâm là để không lùi bước trước khó khăn, vượt qua các thử thách do bọn Tà quyền gây nên.

- Ý chí kiên cường nhẫn nại là để thắng dục vọng thấp kém, tình cảm yếu hèn của mình, kềm hãm lục dục thất tình, hướng chúng vào đường cao thượng.

- Lòng hy sinh là để thắng cái Ta hẹp hòi ích kỷ. Hy sinh là để hiến dâng tất cả những gì quí báu của đời mình cho Đạo pháp, cho nhơn sanh. Sự hy sinh đó sẽ làm cho dứt hết các phiền não, đem lại cho tâm hồn sự an lạc nhẹ nhàng.

TNHT: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chẳng khác chi một trường thi công quả. Nếu biết ăn năn trở bước lại con đường sáng sủa, giồi tâm, trau đức, đặng đến hội diện cùng Thầy thì mới đạt đặng địa vị thanh cao trong buổi chung qui đó. [sao không ghi thời gian]

Làm bao nhiêu việc cũng mất 3 tiếng đồng hố (từ 2:00 am đến 5:00 am), ông Năm vào phòng nằm nghỉ cho ngay xương sống. Trở lại bàn, tuy thấy tạm đủ, nhưng ông Năm cũng nhẫn nại đọc, xem Thanh Lam nói cái gì :

---

công quả thích hợp với mọi trình độ, sức lực của nhơn sanh, ai cũng có cơ hội lập công, vừa giúp mình trả nợ tiền khiên, nghiệp chướng, vừa giúp tạo hình hài thánh thể của Thầy mở rộng đến nhơn quần xã hội, một phần giúp Thầy đở nâng những kẻ cô thế, yếu hèn, tật bệnh là thể hiện lòng Từ, thương đời mến vật, sau đó tâm linh phát triển dần lên theo tiến hóa tự nhiên.
-
Trong lớp học phổ thông thì cũng giống như khi mình đi học trong sách toán thường có một vài bài toán khó để tìm ra những trò giỏi để bồi dưỡng, có thể học vượt cấp, trong Đạo cũng vậy, mình tham gia công quả, trước độ mình, sau dư sức nữa thì độ gia đình mình, hoặc chúng sanh có duyên với mình, không phải nhất thiết là hiểu thật cặn kẻ, sâu sắc mới phổ độ giảng đạo lý mà mình nên làm theo sức hiểu của mình, cái nào mình biết chắc thì nói, dốt dốt thì mình khuyên người ăn hiền ở lành, làm tròn nhơn đạo, hiếu thảo mẹ cha, tin theo nhơn quả, đừng làm chuyện ác hại người, quan trọng là phải có thái độ chơn thật, cái quá sự hiểu của mình thì giới thiệu cho quý chức sắc có tầm hiểu biết cao hơn giảng giải. Không nên nói bừa mà trật lất thì người ta gọi nói phét!
-
Cái bệnh mà người tu cũng hay gặp là bệnh chấp (theo trikiến nhỏ hẹp của mình) nên ai nói trái ý thì hay sanh cãi lý. Mình phải ý thức được khả năng của mình, giữ thái độ hiền từ, hòa ái, chớ ham cãi vả thì sẽ xứng phận người tu, mình có dốt nhưng biết phận thì cũng không ai dám khinh khi mình.
-
Công quả và công phu thiệt cũng có ẩn tàng xen kẻ với nhau, kẻ thông minh sáng dạ như một học trò gỏi trong lớp học sẽ nhận ra và giải được những bài toán khó, bài tập đó theo đệ nghĩ Thầy ẩn trong các bài kinh cúng tứ thời hàng ngày đó thôi, tại chư đạo hữu chưa lưu tâm chú ý thực hành hoặc cúng kiến cho lấy có, chứ chưa có chất lượng thực sự nên chưa thấy được sự mầu nhiệm và ấn chứng trong các thời cúng. Nếu nhứt tâm, thành tâm cầu nguyện, không để tạp niệm xen vào trong các thời cúng thì lâu ngày chầy tháng thế nào chắc cũng sẽ thấy ấn chứng hoặc là tâm tánh sáng suốt, tinh thông. Âm Dương tương hợp vận hành, khó tách rời làm một, bởi vậy Ơn Trên mới khuyên chúng ta nên cúng kiến thường để gom cái tâm tạp niệm ô nhiểm ngày một tinh khiết, thanh lọc dần những ô nhiễm lâu nay để ngày càng sáng suốt hơn.
-
Đệ nghĩ đó cũng là một hình thức công phu ở dạng phổ thông, ai cố gắng thì được, thích hợp với nhiều người, còn vào Tịnh Thất thì là một bài tập khó hơn, đòi hỏi nhiều điều kiện gắt gao hơn, có chọn lọc, không dạy đại trà phổ biến và phải có minh sư chỉ giáo, ai còn ham muốn đắc đạo thành Tiên cho mau mà nóng vội tịnh luyện mà chưa phải trình độ của mình thì coi chừng gây tai nạn, hậu quả là tẩu hỏa nhập ma hàng loạt ra đường khùng khùng điên điên, nói chuyện thiên cơ, thì mang tiếng cho Đạo lắm.
-
Cái cây muốn thành một cội lớn phải có thời gian bón phân tưới nước và có thời gian thì mới phát triển thành cái tàng bóng mát được, mình chưa có duyên hưởng vì sanh nhằm thời đang chăm cây thì Thầy hứa trả công cho kẻ có công chăm cây "Cái của cái công phải trả đồng" thôi thì cứ cố gắng hết sức thì Thầy cũng không bỏ quên.
-
Lớp học lớn nên có nhiều trình độ, và cũng nhiều phương tiện, đi bộ lâu cũng tới đích, lái máy bay thì đi rất nhanh mà không biết lái cũng nhảy vô láy thì coi chừng thảm họa “máy bay rơi" quan trọng là mình cố gắng đi với phương tiện mà mình có khả năng điều khiển!
-
Theo đệ nghĩ, thời điểm hiện tại chưa chuyển sang tịch Đạo Tâm nên công quả đắp nền, mở mang hình thể, mở mang mối đạo, trao dồi kiến thức đạo học để mối Đạo Trời được hoằng khai là đang rất cần thiết. Khi chuyển tịch Đạo thì là khó lắm cho anh em chứ chẳng chơi đâu vì tịnh luyện chẳng phải dễ à!
-
Còn ai có duyên đâu thì tu đó, ý Thầy muốn vậy thì cứ thuận hòa cùng nhau, chắc sẽ có lúc dung hòa hổ trợ, Thầy có nói trong TNHT đại ý là chổ các thầy tu bên Minh Lý về sau độ phần hồn, thì các Huynh Tỷ cũng nên lưu ý, tại thời điểm chưa tới chúng ta cứ làm theo khả năng, tới giờ thì Thầy sẽ khiến thôi! Nói nhiều mà trúng lý thì không sao chớ mơ hồ mà lấy ý riêng coi chừng kẻo mang nghiệp thì uổng công tu lắm!
-
Còn việc thống nhất cơ Đạo, quy nguyên Tam Giáo, Hiệp nhứt Ngũ Chi thì các bạn cứ tu hết mình và chờ Đức Di Lặc Thiên Tôn làm chủ và sẽ chấn hưng quy nhất lại.
-
Còn việc nhà nước cấm Cơ Bút[không có văn bản nào] thì mình bị gián đoạn thông công giữa phàm và Thiêng liêng, đệ nghĩ chắc cũng có Ý Thầy, chứ giả nếu nhà nước cho ai cũng được phép cầu cơ thì chổ nào cũng có cơ bút, thì không biết ai nghe ai nữa, cũng khó.
-
Phục quyền cơ bút thì cần thiết nhưng chỉ một nơi được cầu và người có sứ mạng thì mới được, giải quyết được vấn đề này thì hơi khó!
Kính chúc quý vị an lạc hòa ái!

Thanh Lâm

---

Qua lối trình bày, không biết Thanh Lâm, thuộc Hội Thánh nào. Thương cho đàn em, sau cuộc đổi đời 75, nếu thuộc Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh, thì không biết Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, vì Lễ Viện không còn, với nhiều lý do. Nếu Thanh Lâm thuộc Chi Phái vì không tôn trọng Thánh Ngôn, không phổ biến, làm sao mà biết lời Thầy Trời giáng dạy.

Ông Năm may duyên thuộc lớp người trải qua hai chế độ cũ (VNCH) mới (CHXHCNVN) nên am hiểu hơn các Tín đồ mà nay, khoảng trên dưới 60 tuổi. Với 77 tuổi đời, ông Năm khẳng định cho mình : Giữ phận Tín đồ “không tín vẽ”: giữ thập trai, thêm 3 nguơn (tháng Giêng, tháng Bảy, tháng Mười) và các ngày Lễ, Vía; cúng tại nhà vào ngày Sóc Vọng Lễ Vía. Ưu tiên cho việc Phụng Sư Đại Đạo, bằng mọi hình thức, trong khả năng. Khi dâng Tam Bửu, nguyện y theo Đức Hộ Pháp dạy : “Con xin dâng mảnh hình hài, trí thức tinh thần và linh hồn của con cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng. Cả linh hồn, trí nảo, hình hài con Thầy đào tạo, thì do quyền độc đoán của Thầy định”.Tuyệt đối không tịnh luyện, không tin Thánh giáo, do cơ bút bất cứ từ đâu đến. Ông Năm không tin, vì Thánh Ngôn có nói : Danh ta nó còn mượn, duy ngai Ta nó chẳng dám ngồi mà thôi … Khi chết, con cái hành lễ tang, theo nghi thức thọ truyền bửu pháp, [xem bài GIẢI THÍCH KINH CÚNG TUẦN CỬU] ông Năm tuyệt tin sẽ về cùng Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu vậy.

(viết từ 2:00 am – xong lúc 7:22 am – ngày 6-4-2011)


Cao Quỳnh Tuệ Lâm

---
 

GIẢI THÍCH KINH CÚNG TUẦN-CỬU

Bài Thuyết-Đạo của Ngài Bảo-Đạo Hồ-Tấn-Khoa

Theo cổ-tục Việt-Nam, tùng theo Phật-Giáo, khi trong gia-quyến có người qui-liễu,thì làm tuần bảy ngày, trong 7 kỳ gọi là thất thất, kế đó làm tuần 100 ngày, đến giáp năm và mãn khó, cộng chung là 10 tuần cúng, để cầu-nguyện cho linh-hồn được qua 10 cửa ngục cửa Thập-Điện Diêm-Cung một cách nhẹ nhàng.

Trong cửa Đạo Cao-Đài, do cuộc Đại Ân-Xá của Đức Chí-Tôn cho đóng Địa-Ngục mở Tầng Thiên, đưa các Chơn-hồn đi lên 9 Tầng Thiên, nên sau khi chết làm 9 tuần-cửu gọi là Cửu-cửu và một tuần Tiểu-Tường, một tuần Đại-Tường, cộng chung là 11 tuần cúng hết thảy.

Hỏi tại sao đưa Chơn-hồn lên 9 tầng Trời mà phải làm đến 11 lễ cúng? Muốn rõ thì cứ lấy mấy bài kinh cúng tuần-cửu mà đọc từ câu, từ khoản để tìm hiểu cho hết ý-nghĩa.

Một phần lớn, và có lẽ hầu hết các Tín-hữu và một phần không ít Chức-Sắc vẫn còn lầm tưởng là mỗi tuần-cửu đọc một bài kinh là đưa linh-hồn lên một từng Trời, và khi đọc một bài kinh Nhứt-cửu và Nhị-cửu là linh-hồn đã được đưa lên một hay hai tầng Trời rồi. Sự thật thì không phải vậy, vì linh-hồn khi mới xuất ra khỏi xác thì còn khờ-khạo chưa tịnh-tỉnh, nên chưa biết đường đi. Vì vậy hai bài kinh Nhứt-cửu và Nhị-cửu là để nhắc cho linh-hồn nhớ lại quê xưa, cảnh cũ và kêu gọi linh-hồn phải tỉnh để nhớ biết đường về, nhờ có Lục-Nương Diêu-Trì-Cung và Tiếp-Dẫn Đạo-Nhơn đưa đi.

Bởi cớ nên trong kinh Nhứt-cửu có câu như sau đây:

"Khá tỉnh thức tiền-duyên nhớ lại,
Đoạn cho rồi oan trái buổi sanh.
Đem mình nương bóng Chí-linh,
Định tâm chí Thánh mới gìn ngôi xưa".

và có câu:
"Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh,
Phách anh-linh ắt phải anh-linh".

Qua bài kinh Nhị-cửu thì cũng còn nhắc tiếp, khêu gợi lại cảnh cũ như "Hội Bàn-Đào", cho linh-hồn nhớ lại và ham nong-nả đi về, cũng như chỉ đường cho đi và từ đây mới bắt đầu lên cõi không trung, nên trong bài kinh Nhị-cửu có câu:

"Khí trong-trẽo dường như băng tuyết,
Thần êm-đềm dường nét Thiều-quang.
Xa chừng Thế-giái Địa-hoàn,
Cõi Thiên đẹp thấy nhẹ-nhàng cao thăng".

Qua đến bài kinh Tam-cửu, là linh-hồn mới bắt đầu đi tầng Trời thứ nhứt là cõi Thanh-Thiên, tức là miền Bồng-đảo. Do bài kinh nầy ta để ý đọc cho kỷ cho biết coi nơi tầng Thanh-Thiên linh-hồn sẽ gặp những cảnh gì ?

Trước hết là vào động Thiên-Thai, nơi cư ngụ của Bảy Lão là Thất-Hiền. Kế đó linh-hồn sẽ đến một ngã ba đường: Một ngã là Cung Đẩu-Tốt, tức là về với Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng-Đế, và một ngã đi về Cung Bích-Du, tức là về với Quỉ-Vương. Nếu linh-hồn không ai dìu-dẫn thì dễ bị lạc đường sa vào tay Chúa Quỉ, nên có câu :

"Tìm Cung Đẩu-Tốt lạc nhầm Bích-Du"

Các linh-hồn theo Đạo nhờ có bà Lục-Nương Diêu-trì-Cung và Đức Tiếp-Dẫn Đạo-Nhơn đưa Phướn-linh dẫn đường cho khỏi đi lạc, nên trong bài kinh Cầu Hồn khi Hấp-Hối có đoạn như sau :

"Diêu-trì-Cung sai nàng Tiên-Nữ,
Phép Lục-Nương gìn-giử chơn-hồn.
Tây-Phương Tiếp-Dẫn Đạo-Nhơn,
Phướn-linh khai mở nẻo đường Lôi-Âm ".

Qua khỏi ngã ba đường thì đến Cung Như-Ý kiến-diện Đức Lão-Quân và đến Hội Thánh-Minh để được giao sách Trường-Xuân mà coi.

Đến bài kinh Tứ-Cửu thì linh-hồn được đưa lên tầng Trời thứ nhì, tức là tầng Huỳnh-Thiên. Tầng nầy là tầng linh-hồn phải qua ải nặng nhọc nhứt. Những ai có thân-nhân qui-liễu khi đến tuần Tứ-Cửu, cần phải để hết tâm cầu-nguyện cho linh-hồn được qua dễ dàng. Do theo bài kinh Tứ-Cửu, khi linh-hồn được Thuyền Rồng đưa đế tầng Huỳnh-Thiên, thì phải vào Cung Tuyệt-Khổ để diện-kiến Đức Huyền-Thiên-Quân. Tưởng đâu được ban thưởng ân-huệ gì, nào dè khi gặp ông, thì ông rút cây roi Thần-Điển đánh cho mấy roi nhá lửa, thêm Bộ-Công cho sét đánh đốt thiêu hết quái-khí, trược quang để linh-hồn được trong sạch mới đi lên tầng trên nữa đặng. Linh-hồn những người ăn thịt, cá mang theo nhiều trược khí phải chịu nặng đòn mới cỡi mở bớt, rồi còn phải chịu lửa tam-muội đốt cho tiêu hết oan gia. Chừng ấy mới đến cửa Thiên-Môn qua lầu Bát-Quái. Theo lời Đức Hộ-Pháp dạy thì cánh cửa lầu này là một chữ Vạn to lớn quay tit như cánh quạt máy, chỉ thấy sáng -choang chớ không chỗ nào qua đặng. Có nhiều chơn-hồn đến đó qua không đặng phải ngồi chờ đến năm, bảy trăm năm, chừng có một vị Tiên hay Phật nào đi qua, cánh cửa lầu Bát-Quái ngưng quay, mới thừa dịp mà chạy đùa qua đặng. Trong Tam-Kỳ Phổ-Độ, nhờ các đấng lãnh lịnh Chí-Tôn thường lên xuống, nên các linh-hồn nhơn-dịp mà qua cửa lầu Bát-Quái thường hơn.

Đến đệ Ngũ-Cửu, linh-hồn qua được cửa Thiên-Môn lên cõi Xich-Thiên là tầng Trời thứ ba. Nơi đây tất cả Tông-Đường Thiêng-Liêng đón tiếp mừng rỡ vô cùng:

"Cả miền Thánh-Vức nhộn-nhàng tiếp nghinh"

Kể từ đây, linh-hồn tuần-tự đi tới nhẹ-nhàng không còn qua những cơ thử-thách nặng-nề như ở tầng Huỳnh-Thiên và được vào Đài Chiếu-Giám, nơi đây linh-hồn được xem qua cả kiếp sanh của mình như trong truyền hình và tự mình định tội lấy mình. Xong rồi thì vào Cung Ngọc-Diệt-Hình để khai kinh Vô-Tự đặng nhìn quả duyên. Đến đây có Tiên-xa gọi là xe như ý đưa lên tầng Trời thứ tư gọi là tầng Kim-Thiên.

Qua Đệ lục-Cửu, linh-hồn đến tầng Kim-Thiên là tầng Trời thứ tư. Đến đây xuống xe đặng vào Cung Vạn-Pháp được xem qua sự nghiệp cũ của mình đã tạo ra từ những kiếp trước và đến Cung Lập Khuyết tìm duyên đinh ngự. Xong rồi thì có Khổng-Tước là con Công chở linh-hồn đưa đến Đài Hụê-Hương để được xông hương, giải-trược cho cả Thánh-Thể được thơm-tho tiêu hết ô-uế buổi sanh, và từ đây có tiêu-thiều nhạc trỗi đưa linh-hồn đến tầng Trời thứ năm.

Đến đệ Thất-Cửu, linh-hồn đến tầng Hạo-Nhiên-Thiên là tầng Trời thứ năm. nơi đây cảnh vật xinh đẹp lạ thường, hào-quang chiếu-diệu, linh-hồn vào Cung Chưởng-Pháp kiến-diện Đức Chuẩn-Đề Bồ-Tát và Phổ-Hiền Bồ-Tát. Hai vị Phật này làm chủ tầng Hạo-Nhiên-Thiên với 11 vị Phật phụ chánh, và hằng-hà sa số Phật đều tùng lịnh Chuẩn-Đề Bồ-Tát và Phổ-Hiền Bồ-Tát để tận độ vạn linh. Nơi đây đã vọng thấy cõi Niết-Bàn và vẵng nghe tiếng trống Lôi-Âm thúc-giục làm cho linh-hồn nôn-nã lên tầng Trời thứ sáu.

Qua Đệ Bát-Cửu, thì linh-hồn lên đến tầng Phi-Tưởng-Thiên là tầng Trời thứ sáu. Nơi đây đã xa mùi Trần-Thế và đã nghe hơi Tiên-Tửu nực-nồng thơm ngọt. Tầng này có Cung Tận-Thức và Cung Diệt-Bửu. Linh-hồn vào đó nhìn thấy một lần nữa nghiệp hữu-hình tượng đủ vô-vi, rồi đến Phổ-Đà Sơn kiến-diện Đức Từ-Hàng Bồ-Tát nhờ rưới giọt nước Cam-Lồ rửa sạch ai bi kiếp người. Dưới quyền Đức Từ-Hàng Bồ-Tát có 10 vị Phật chánh và hằng-hà sa số chư Phật năng du ta bà Thế-giái thi pháp hộ-trì vạn-linh sanh chúng.

Đến Đệ Cửu-Cửu, linh-hồn đến tầng Trời thứ bảy là Tạo-Hoá Thiên. Nơi đây là Cung Diêu-Trì có hằng-hà sa số Phật với 4 vị Phật chánh, và Cửu-Vị Nữ-Phật đều tùng linh Kim-Bàn Phật-Mẫu, có nhiệm vụ dưỡng-dục quần sanh qui-nguyên Phật-Vị, linh-hồn làm xong phận-sự, về đến Tạo-Hóa Thiên vào triều-kiến Đức Phật-Mẫu sẽ được Đức Mẹ ân-thưởng dự Hội Bàn-Đào và được ban cho Tiên-Tửu. Xong rồi được đưa qua Cung Bắc-Đẩu để xem căn quả số, vào Linh-Tiêu-Điện đặng học triều-nghi chờ ngày ra trước Ngọc-Hư-Cung định phần đọa thăng. Những linh-hồn còn nặng nợ vay trả thì đưa qua Kim-Bồn đầu-kiếp trở lại đặng trả quả.

Mãn tuần Cửu-Cửu rồi, linh-hồn chờ 200 ngày là đến tuần Tiểu-Tường. Linh-hồn nào được trong sạch được đưa lên tầng Hư-Vô Thiên, tức là tầng Trời thứ tám, nơi đây có hằng-hà sa số Phật và 8 vị Phật chánh đều tùng lịnh Đức Nhiên-Đăng Cổ-Phật để dẫn-độ các chơn-linh đắc Pháp, đắc Phật, đắc duyên, đắc vị, đắc A-Nậu-đa-La-Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề được chứng-quả nhập Cực-Lạc Quốc.

Sau lễ Tiểu-Tường, đếm đủ 300 ngày, thì làm lễ Đại-Tường. Các chơn-linh trong sạch được Đại-Hội Ngọc-Hư-Cung chứng quả đắc-vị rồi thì có Đức Bồ-Đề-Dạ dẫn hồn lên tầng Hỗn-Ngươn-Thiên vào yết-kiến Đức Di-Lạc Vương-Phật nơi Lôi-Âm-Tự và được vào ao Thất-Bửu đặng gội mình sạch tục, hầu lên ngự tại Liên-Đài cửa mình. Tầng Hỗn-Ngươn Thiên có một tầng nhánh gọi là Hội-Ngươn-Thiên có thể kể vào tầng thứ 9 và tầng chánh Hỗn-Ngươn-Thiên thành tầng số 10 là nơi đắc-quả Phật-vị.

Nơi Hội-Ngươn-Thiên có 5 vị Phật chánh và nơi Hỗn-Ngươn-Thiên có 8 vị Phật chánh, cộng chung là 13 vị và nhất thiết chư Phật dều tùng lịnh Đức Di-Lạc Vương-Phật năng chiếu-diệu quang tiêu trừ nghiệp-chướng để chứng-quả Cực-Lạc Niết-Bàn.

Nên lưu-ý là danh-hiệu các vị Phật nêu trong kinh Di-Lạc ở các tầng Trời từ Hạo-Nhiên Pháp đến Hỗn-Ngươn Thiên không có đề Phật-danh của mỗi vị mà chỉ có đề nhiệm-vụ của mỗi vị mà thôi./.

CHUNG





Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả