Nhơn hư Đạo bất hư
[Hô hào tu Tịnh]
Không biết ông Năm có cuồng tín hay không, vì ông Năm thường tuyên bố với đồng môn, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển là Kinh, bất khả nghị. Đọc Thánh Ngôn để biết và tuân hành.
Xung quanh ông Năm, người ta rủ nhau vào Cao Đài Chiếu Minh tu tịnh. Ông Năm nhứt định Không và Không, vì ông tuyệt tin vào đoạn Thánh Ngôn: Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng hễ vào Ðạo thì phải phế hết nhơn sự; nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng một đều rất thấp thỏi là vào một chỗ u-nhàn mà ẩn-thân luyện Ðạo. Thầy nói cho các con biết: nếu công quả chưa đủ, nhơn sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ-độ chúng-sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy, thì tìm cách khác mà làm âm-chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao. Các con phải hiểu Thánh-Ý Thầy mà trau dồi chí lớn. Dầu đi lối nào cũng phải cần cái đèn thiêng-liêng chiếu rõ mới đặng vững bước. Làm vua, làm thầy, làm công nghệ, làm đạo-sĩ cũng cần phải có chí lớn mới mong thành tựu đặng. Các nghề dưới thế không có nghề nào là vô dụng mà vô dụng là tại người không chuyên vậy. [TNHT – 5-3-1927]Vì vậy Ông Năm chiến thắng về những khuyến dụ lẫn thách thức trên Diễn Đàn : Ông Năm luôn suy nghĩ về những lý luận này:
·Đạt Tường Thành Viên Ưu Tú
Thử tìm hiểu việc CÔNG PHU TU TỊNH với TÍN HỮU CAO ĐÀI TÂY NINH
1. Nhiều đạo hữu Cao Đài Tây Ninh khi nghe đề cập đến vấn đề công phu tu tịnh đã tỏ ra hết sức e dè, thận trọng không dám bàn đến nếu như chưa rơi vào thái độ cực đoan phản ứng gay gắt.
Trong những chuyến công quả Phước Thiện ở Dưỡng Lão Đường Quy Thiện tại Tòa Thánh Tây Ninh, chúng tôi có duyên may tiếp xúc với bốn vị chức sắc nay đang hưu dưỡng tại đây. Chuyện trò cùng quý vị, tình cờ được biết thêm chư vị đang tu luyện theo pháp môn của Đức Hộ Pháp lưu lại.
Điều này khuyến khích chúng tôi thử tìm hiểu lại vấn đề “tịnh thất”, đọc những lời Thánh Ngôn vào thuỡ ban sơ Ơn Trên đã dạy cho chư Tiền Bối Khai Đạo cũng như những sách vở được viết bởi các Chức Sắc trung thành sự đạo với Hội Thánh Tây Ninh đã ghi nhận những sự kiện liên quan đến việc tu tịnh này như thế nào ?
2. Qua các Thánh Ngôn còn lưu lại của một số vị Tiền Khai Đại Đạo như quý ông Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Trung Hậu, … quý bà Lâm Hương Thanh, Hương Hiếu … đã giúp cho các thế hệ sau có thể tiếp cận với nguồn tài liệu ban sơ để nghiên cứu học hỏi.
Ngày nay, một số thuật ngữ trong việc luyện khí công của Tiên gia như: tu tánh, tu luyện, tịnh luyện, luyện đạo, đơn tâm, Thần Khí, v.v… hay những thuật ngữ của Tâm Pháp Đại Thừa nhà Phật như: thiền, tham thiền, thọ Pháp, tịnh thất, v.v… là những từ đã dần trở nên thông dụng với những ai có quan tâm đến lĩnh vực này.
2.1. Trong “Tờ Phổ Cáo Chúng Sanh”, tài liệu đầu tiên giới thiệu về Đạo Cao Đài được phổ biến rộng rải đến với nhơn sanh khi đi thực hiện chiến dịch phổ độ lần thứ nhứt theo lệnh của Đức Chí Tôn, chư vị Tiền Khai có cho đăng bài thi bát cú sau:

“Có bài thi giáng cơ rằng:
Tu như cỏ úa gặp mù sương,
Đạo vốn cây che mát mẻ đường;
Một kiếp muối dưa muôn kiếp hưởng,
Đôi năm mệt nhọc vạn năm bường.
Có Thần nuôi nấng Thần càng mạnh,
Luyện Khí thông thương Khí mới tường;
Nhập thể lòng trong gìn tịnh mẫn,
Nguồn Tiên ngọn Phật mới nhằm phương.”
Bài thơ với bốn câu đầu khuyến khích chư vị hãy tu hành vì lợi ích rỏ ràng như hình ảnh: Cỏ úa vì thiếu nước lại được gặp sương mù hay trên đường đi trời nắng nóng mà lại được bóng cây che mát.
Qua 4 câu sau, chúng ta thấy 2 yếu tố âm dương là Thần Khí trong việc luyện đạo của Tiên gia được nhắc đến.
Nhưng điều kiện căn bản để công phu thành công là “tâm thanh tịnh”. Ý nghĩa của câu thứ 7 làm chúng ta nhớ đến câu cuối của bài Khai Kinh “Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh kinh”: Để có được “lòng trong sạch” thì phải lắng lòng, phải gìn giữ sao cho lòng được tịnh mẫn nghĩa là an định sáng suốt.(mẫn tuệ)
2.2. Lần đầu tiên khi Đức Lý Thái Bạch đến độ dẫn Ngài Lê Văn Trung vào đêm 27 tháng một năm 1926 có dùng đến những từ ngữ nói đến việc tu luyện:
“Có công phải biết gắng nên công,
Tu tánh đã xong mới luyện lòng;
Kinh sách đầy đầu chưa thoát tục,
Đơn tâmkhó định lấy chi mong.”
Nội dung bài thơ cho thấy Đức Lý ban cho một bài thi tứ tuyệt với ẩn ý thâm sâu. Bước đầu chúng ta có thể hiểu theo sát nghĩa đen của từ như “tu tánh” là tu sửa tánh hạnh, còn “luyện lòng” là rèn luyện tấm lòng thiện lương tức là chánh niệm. Nhưng ẩn tàng thấp thoáng phía sau, hiện lên bóng dáng con đường tu luyện:
“Có công phải biết gắng nên công”: đã có công tu hành thời phải biết cần cố gắng sao cho nên công nghĩa là được trọn vẹn thành công.
“Tu tánh đã xong mới luyện lòng”: muốn được vậy phải ráng tu lấy Tánh tự nhiên của Trời ban cho rồi tiến đến luyện Tâm vô niệm. “Tu luyện” một thuật ngữ của Tiên gia đã là trọng tâm của câu thơ thứ 2.
“Kinh sách đầy đầu chưa thoát tục”: dù cho lãu thông kinh sách cũng chưa có thể thoát khỏi chốn trần la.
“Đơn tâm khó định lấy chi mong”: nếu chưa ý thức quan tâm đến việc “luyện kim đơn”, chưa định được “đơn tâm” tức là tâm chưa trụ được vào chỗ nhứt nguyên chủ tể thì đừng mong chi nói đến đắc được Đạo thoát khỏi trần gian thế tục này.
Như thế ngay lần đầu tiên mới tiếp xúc, Đức Lý Thái Bạch đã ban cho Ngài Lê Văn Trung một định hướng căn bản để luyện tu.
2.3. Ngày hôm sau, cũng tại nhà của ông Trung, một bài thơ tứ tuyệt khác được tiếp tục ban cho:
“Một ngày thỏn mỏn một ngày qua,
Tiên Phật nơi mình phải ở xa;
Luyện đặng tinh thông muôn tuổi thọ,
Cửa Thiên xuất nhập cũng như nhà.”
Nội dung lời thơ chỉ dẫn cho chư vị tiền bối hiểu rằng:
. Cứ mỗi ngày qua đi, quỹ thời gian cứ hao mòn dần.
. Việc có thành Tiên Phật hay không là do bản thân mình quyết định. Hiểu theo nghĩa rộng hơn một chút liên quan với ý của câu thứ ba là phải biết sử dụng bộ máy “tiểu thiên địa” trong châu thân của mỗi người mà tu luyện.
. Nếu luyện thành kết quả thì sẽ đạt được thọ muôn tuổi. (linh hồn đắc đạo thoát vòng luân hồi sinh tử)
. Khi đó việc vào ra cổng nhà Trời cũng đều dễ như bước ra vô cửa nhà của mình.
Trọng tâm khuyên dạy của bài thơ này nằm ở câu thứ 3, “Luyện đặng tinh thông”. Lại thêm một lần nữa phương tu luyện của Tiên gia được Thiêng Liêng dùng đến để gây ý thức trên đường tu học cho chư vị tiền bối.
2.4. Còn với ngôn ngữ của Thiền Tông, ngày 14 tháng một năm 1926, Đức Cao Đài đã ban cho quý vị một bài Pháp:
Thành tâm niệm Phật,
Tịnh, tịnh, tịnh, tịnh, tịnh;
Tịnh là vô nhứt vật,
Thành tâm hành Đạo.
Bài kệ như là công án của nhà thiền.
2.5. Sau khi Thiên phong lần đầu, Đức Chí Tôn đã lưu ý chư vị Tiền Khai phải ôn, luyện và phổ biến phần “tịnh”.
* “8 Avril 1926.
Lịch con (…) Muốn trọn hai chữ Phổ Độ phải làm thế nào ? Thầy hỏi? Phải bày bửu pháp chớ không đặng dấu nữa. Con phải luyện cho thành, nội trong tháng năm này về theo Trung đặng đi truyền Đạo. Nghe và phải tuân theo. ”

Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương
(…) Ngã phái Ngọc Đầu Sư chỉ giáo thọ Bửu pháp.
Tam thập tứ vị chúng sơn bất tri chơn lý luyện thành. Ngã vi Chủ Khảo giáo hoá. Khả tuân Ngã mạng.
Nhữ đẳng tu thọ pháp, tu thọ pháp. Khâm tai.”
Hôm đó, Thầy ra lệnh cho Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt phải chỉ dạy pháp cho chư vị Tiền Khai (…) Ba mươi bốn vị đều phải học và luyện Đạo. Thầy sẽ làm Chủ Khảo. Tất cả đều phải tu thọ pháp.
* “Ngọc Đàn Cần Giuộc 08.6 Bính Dần (17 Juillet 1926)
Ngọc Đầu Sư khả tu truyền pháp,... Kẻ nào trai giới đặng mười ngày đổ lên, thọ bửu pháp đặng. Chư môn đệ phải trai giới (…)
Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng ? Như rủi bị huờn, thì đến khi đắc đạo cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển [bon conducteur d'électricité] thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế làm một bậc "Nhân Tiên" thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn. Vì vậy Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện Đạo.”
Vấn đề ăn chay liên quan chặt chẻ với việc tu luyện cho nên Đức Chí Tôn đã sớm hướng dẫn tại Ngọc Đàn – Vĩnh Nguyên Tự ở Cần Giuộc, nơi quý vị Tiền Khai được lệnh về thọ pháp với Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt.
2.6. Thông công qua cơ bút với Thiêng Liêng đòi hỏi người đồng tử phải giữ tâm thanh tịnh tuyệt đối, có như thế mới tiếp trọn điển Thiên. Vì thế Thầy hằng khuyên các đồng tử phải học và hành Đạo Pháp. Chúng ta có thí dụ của Thầy dạy cho Ngài Ngọc Lịch Nguyệt hướng dẫn Đạo Pháp cho Ngài Thái Thơ Thanh khi ông được phép tập chấp bút:
“Thơ … Con khá nghe lời Thầy, việc bút cơ là việc lớn trong Đạo nên khi nào phò cơ chấp bút phải diệt tận phàm tâm, đừng lo lượng điều chi trong trí của con. Phải biết dùng cái chí Thánh chí Phật của con mà làm cho xứng đáng cái vai tuồng mà Thầy đã định
… Lịch, con truyền Đạo cho Thơ rõ. ”
3. Lần đầu tiên, danh từ Tịnh Thất được Đức Chí Tôn nhắc đến khi Thầy dạy Ngài Thái Thơ Thanh sau khi trở về từ Đế Thiên Đế Thích ở Campuchia:
“Ngày 27 tháng 6 năm Bính Dần (04-8-1926)
Thầy khuyên con để dạ lo cho nhơn sanh mà thôi; phần hồn về Thầy. Con có biết sự chơn thật nơi nào mà phải khổ thân lo lắng. Con có phận sự rất lớn, Thánh danh con cũng lớn, Thầy dặn con nhứt nhứt phải do mạng lịnh Thầy mà thôi.
Con phải lập cho thành một nền tư bổn, chung lo cùng môn đệ Thầy, ngày ngày hằng góp nhóp, tùy sức mỗi đứa lo lập:
- Một sở trường học,
- Một sở dưỡng lão, ấu,
- Và một nơi Tịnh Thất.”
Ba điều dạy trên, nói theo ngôn ngữ trong đời sống là tượng trưng cho “dân trí, dân sanh và dân đức” còn nói theo ngôn ngữ Cao Đài thì là “Công Trình, Công Quả và Công Phu”. Như thế, “… để dạ lo cho nhơn sanh…” trên đường phổ độ chúng sanh thì mục tiêu đời sống nhân sinh được đáp ứng qua trường học và sở dưỡng lão ấu còn mục tiêu tâm linh được đáp ứng bởi nơi Tịnh Thất.
Nói cách khác, đó là 3 điểm căn bản trên đường phổ độ nhơn sanh.
Về việc soạn thảo Tân Luật, Đức Chí Tôn dạy:
“Nghe Thầy dạy:
* Khởi đầu lập Luật tu gọi là: Tịnh Thất Luật,
* kế nữa là lập Luật trị, gọi là Đạo Pháp Luật,
* ba là lập Luật đời gọi là Thế Luật.
Các con hiểu à ! . . . . . .”
Khi ban Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài, một lần nữa từ “Tịnh Thất” được Thầy sử dụng để dạy về nhiệm vụ của Chi Đạo:
“Thượng Phẩm … Lo về phần Đạo nơi Tịnh Thất;…”
Để triển khai cụ thể vấn đề nhà tịnh, tháng 5-1928 Thầy dạy:
“Tắc, làm Tịnh Thất cho rồi đặng mấy anh con vào tịnh. Cái đài luyện khí trật hướng, phải xoay mặt qua chánh đông.”
Đặc biệt, lời Thánh giáo của Đức Lý Giáo Tông dạy về “Các hình phạt hữu vi” vào đầu năm 1931 có hai lần nhắc đến Tịnh Thất như sau:
“Tội thứ năm: Ngưng quyền từ một năm cho tới ba năm và phạt vào Tịnh Thất.
Tội thứ sáu: Vào Tịnh Thất từ một tháng tới một năm mà còn hành chánh như thường.
… vậy ngày mai chiếu theo trọng khinh mà định án nghe !”
Nội dung lời Thánh giáo cho thấy Tịnh Thất được dùng như là nơi để người phạm lỗi có điều kiện thuận lợi cho sự an tịnh để sám hối ăn năn.
Qua các chứng cứ vừa nêu trên, chúng ta thấy vấn đề “tu luyện” và “Tịnh Thất” từ lý thuyết cho đến hành đạo là một phần đạo sự của Tòa Thánh Tây Ninh đã được Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo Tông dạy bảo rất sớm. Nhưng hiện nay lại khó kiếm thông tin nhứt về mảng đề tài này.
4. Tháng 10 ngày 20 năm 1927, Hội Thánh Tây Ninh phê duyệt quyển “Châu Thân Giải” của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, một quyển sách nói về việc Tịnh Luyện. Lướt qua mục lục, chúng ta có thể kể ra vài mục đậm tinh thần tu luyện như: “Tinh Khí Thần, Phải Hiệp Tinh Khí Thần làm một; Nhị Xác Thân; Âm Dương Luận; Phàm Thai; Thánh Thai; v.v…”
Tài liệu Đại Đạo Sử Cương của Hiền Tài Trần Văn Rạng thuộc Tòa Thánh Tây Ninhcung cấp thêm cho chúng ta những thông tin thú vị:
“Năm 1927, Thảo Xá Hiền Cung được lập thành, Đức Cao Thượng Phẩm đã về đây tịnh dưỡng vào những ngày sau cùng trước khi được ơn kêu gọi phục lệnh của Đức Chí Tôn.
Năm 1929, Đức Hộ Pháp lập Khổ Hiền Trang mở Phạm Môn cho những ai đủ cơ duyên vào tu luyện (để lại chức sắc áo mão ở ngoài). Những ai muốn vào nhập tịnh phải qua khâu xét chọn “cân Thần” của Đức Hộ Pháp. Chỉ có những người đạt tiêu chuẩn mới được thâu nhận.
Năm 1948, Trí Giác Cung được lập, Khai Pháp Trần Duy Nghĩa nhập tịnh nơi đây đã được Đức Hộ Pháp chỉ cho pháp đại tịnh.
Trí Huệ Cung là nơi Đức Hộ Pháp tịnh luyện cầu nguyện cho cơ Đạo và cho sanh chúng.
Chí Thiện Võ Văn Đợi cũng được Đức Hộ Pháp hướng dẫn đại tịnh và cho lập Vạn Pháp Cung.”
Ngày nay, các huynh tỷ tu ở Vạn Pháp Cung (núi Bà Đen) về hình tướng trông như tu sĩ Phật Giáo, tức là đầu xuống tóc và mặc áo tràng màu vàng hay màu nâu, nhưng khi chấp tay lại bắt Ấn Tý !
Thỉnh thoảng vào một vài Thánh thất của Hội Thánh Tây Ninh ở một số tỉnh chúng ta thấy bảng chỉ dẫn “12 Bài Luyện Tập Thân Thể - Khí Công – Thể Dục – Đạo Dẫn” của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Hay chúng ta cũng nghe nhắc đến những bài Thánh giáo dạy về giáo pháp hành công của Đức Bát Nương, Đức Cao Thượng Phẩm, v.v…
Lâu nay vẫn tồn tại cơ sở Phạm Môn tu theo pháp môn của Đức Hộ Pháp truyền dạy.
Hiện nay, trong Trí Giác Cung nơi Trường Qui Thiện (nhà Dưỡng Lão) vẫn có 4 đạo hữu lớn tuổi gồm 2 nam và 2 nữ tu tịnh trong Nhà Tịnh Hộ Pháp ở nơi đây.
Kết Luận:
Cao Đài hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một nền Tân Giáo do Đức Chí Tôn lâm phàm lập nên qua huyền linh diệu bút. Thầy là Đấng Tạo Hóa Thái Cực Thánh Hoàng là Đạo phân thành lưỡng nghi âm dương rồi phóng phát nên Càn Khôn thế giới vạn linh sanh chúng. Tôn giáo là phương tiện thể hiện pháp môn hầu đưa nhơn sanh trở về nguồn cội. Bởi thế cho dù là tôn giáo nào đi nữa pháp môn vẫn hàm chứa 2 lĩnh vực phương pháp thực hành căn bản là “tiệm và đốn” thích ứng với trình độ nhơn sanh. Tân Pháp Cao Đài đã nêu trong Tân Luật bất cứ người tín đồ nào ăn chay từ 10 ngày sắp lên trong mỗi tháng nếu có tâm thành với đạo pháp cũng đều được bước vào Tịnh Thất thọ nhận bửu pháp. Riêng với hàng ngủ hướng đạo trở lên, con đường Đạo Pháp là phần không thể thiếu trên đường tiến hóa tâm linh của bản thân và trách nhiệm cầm pháp Thầy mà gieo rải đến nhơn sanh.
Khảo sát tĩ mĩ các nguồn Thánh Ngôn, ngày nay chúng ta mới có điều kiện thấy rõ được sự dẫn độ của Thầy với chư vị Tiền Khai vẫn luôn song hành cả hai mặt phổ độ và tịnh luyện. Cùng với những khảo cứu của Giáo Sư Sử học Trần Văn Rạng đã chỉ cho chúng ta thấy rõ hơn vấn đề “Tịnh Thất” của Tòa Thánh Tây Ninh đã thật sự tiến hành đúng theo tinh thần của cơ tuyển độ nghĩa là không phô trương hình thức. Người tu Tâm pháp của Hội Thánh Tây Ninh buộc phải để lại sau lưng tất cả những “danh, quyền” qua phẩm tước, áo mão cân đai để bước vào trường tịnh chỉ với bộ bạch y đơn sơ thuần khiết cùng tâm thanh tịnh an vui!
Cho nên dầu cho nhơn sanh không biết, hoặc biết mà cứ xem như không biết thì con đường Tâm Pháp của Cao Đài Tây Ninh vẫn êm đềm vận chuyển với những bậc hữu duyên đã tròn công quả hữu vi nay lặng lẽ tu luyện công quả vô vi.
Trải dài theo năm tháng của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, qua bao thăng trầm lịch sử, tuy âm thầm lặng lẽ nhưng sức sống của “Thần Khí giao hội” vẫn luân lưu bất tận nơi những người con trung kiên, đại hữu duyên, đại hùng đại lực trọn lòng tin vào Đức Chí Tôn nơi miền đất Thánh Tây Ninh.
Mừng thay gặp gỡ Đạo Cao Đài,
Bởi đức ngày xưa có bữa nay;
Rộng mở cửa răn năng cứu chuộc,
Gìn lòng tu tánh chớ đơn sai.
Tháng 4 Kỷ Sửu - 2009
Đạt Tường
(còn nữa)
Cao Quỳnh Tuệ Lâm
Pháp môn Tu Tịnh
Nếu bảo rằng Hôi Thánh Tòa Thánh Tây Ninh không có Tu Tịnh là sai. Vì không áp dụng đại chúng nên ít người biết. Nhưng Hội Thánh không xem pháp môn này quan trọng như Đạo Trưởng viết :
Giáo-lý căn-bản của Ðạo Cao-Ðài gồm có hai giai-đoạn :
· MỘT là phần Ngoại-giáo Công-truyền,thường gọi là Cao Ðài Tôn-giáo (hay Cao-Ðài Phổ-Ðộ).
· HAI là phần Nội-giáo Tâm Truyền, thường gọi là Cao-Ðài Ðại-Ðạo (hay Cao-Ðài Vô Vi).
Nếu Đạo Trưởng Chí Tín đúng thì tiêu đề ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ không còn ý nghĩa.
Pháp môn Tu Tịnh chỉ là một trong ba cách trở về cùng Đức Chí Tôn.
* Cách thứ ba:Cách thứ ba Là cách Tu-Chơn hay là cách Tịnh-Luyện cũng thế.
Những người đi trong Cữu-Phẩm Thần-Tiên hay đi trong Thập-Nhị Đẳng-Cấp Thiêng-Liêng, khi mình nhận thấy là đã Lập-Đức, Lập-Công, Lập-Ngôn rồi. Hay là đã thọ khổ và thắng khổ rồi mà còn sức nữa, thì vào nhà Tịnh để được Tu-Chơn. Nơi đây các vị đó sẽ được học phương-pháp luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, tức là Tinh-Khí Thần hiệp nhứt là Hườn-Hư đó vậy. (trích CĐTLHS).
Pháp môn Tu Tịnh Đức Hộ Pháp truyền cho các vị chánh thức của Phạm Môn :

CÁCH CÂN THẦN
Đức Hộ Pháp nói : Cân Thần có 12 điều kiện:
1.Là Hạnh
2.Là Đức
3.Là Trí
4.Là Lực
5.Là Tính
6.Là Thần
7.Là Thân
8.Là Tình
9.Là Mạng
10.Là Căn
11.Là Kiếp
12.Là Số
Ngài chỉ xài 4 điều đầu là :Hạnh, Đức, Trí, Lực. Cũng như Hạnh được 5 điểm, Đức được 4 điểm, Trí được 6 điểm, Lực được 7 điểm; cộng 6+4+6+7=22 điểm chia lại cho 4 thì được 5,5 điểm. Người đủ trung bình là 5 điểm thì được đậu. Ai dưới trung bình thì lập công đức thêm, sẽ thâu nhận sau.
Trước khi lập hồng thệ phải được Cân Thần trước, nếu đậu mới được thọ “Đào Viên Pháp” tức là làm lể hồng thệ, lập hồng thệ thì mới là người chánh thức của Phạm Môn.