Nhơn hư Đạo bất hư
[Tam Trấn thay thế cho Tam Giáo]
Bây giờ là bốn giờ sáng, nhưng ông Năm đã thức lúc hai giờ. Nấu nước pha cà phê, trà.
Trong khi chờ đợi computer hoạt động, nó quá cũ nên nó lên chậm lắm! Có khi phải chờ 30 – 40 phút.
Ông Năm nhìn lên Thiên Bàn. Qua Thánh Tượng Thiên Nhãn
đã nói lên ý nghĩa Tam Giáo và Tam Trấn, mà đến nay rất ít Tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, hiểu rõ quyền hành của Tam Trấn. Vì không hiểu nên cứ nghe thầy chùa giảng thuyết tào lao … Chung qui chỉ vì không đọc Thánh Ngôn Hiệp Tuyển (TNHT).
Ông Năm giở TNHT đọc lại để tìm dữ liệu viết tiểu thuyết của ông.
Bài 26 - 8 Aout 1926 , 1 tháng 7 năm Bính Dần (Giờ Ngọ)
Ngọc-Hoàng Thượng-Ðế Viết Cao-Ðài
Giáo Ðạo Nam Phương
Thầy mầng các con.
Thơ, con dắt mấy em đi Cần-Giuộc, vì Tà-Mị muốn nhiễu hại Môn Ðệ Thầy ở dưới.
Quan-Thánh và Quan-Âm đang đợi các con xuống ... Ði lập tức. Còn Trung chẳng hề gì, để nó lo việc gấp cuả gia đình nó.
(Thơ, Hậu, Nghiã, Tràng, Cư, Tắc, Sang xuống tới Cần-Giuộc hồi 1 giờ rưỡi, vì không thấy sự chi động tĩnh cần kíp, nên trì hưỡn tới 3 giờ chiều mới cầu Thầy mà nghe dạỵ) [Lời chú thích, không phải Thánh Ngôn - Lời người chép]
*
TÁI CẦU
Mấy đứa nhỏ chơi hoài há?
Thầy biểu xuống đây đặng có việc cần, mà các con trì hưỡn, thì không biết có phải nghịch với Thánh ý Thầy không há?
(Thơ, lạy Thầy từ bi thứ tội...)
Thơ, không phải lỗi nơi con đâu.
Tương, con tức cấp cho đòi cả mấy em con là Môn-đệ Thầy hội cho đủ mặt.
Thơ, con ngồi đại-tịnh, đặng tối nay nghe Thầy dạy việc.
*
TÁI CẦU
Hỉ chư Môn-đệ ......... Các con nghe dạy:
Tương, con không hiểu ngày nay là thế nào?
Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cả thảy đều náo động cũng vì các con.
Quỉ-Vương đến trước Bạch-Ngọc-Kinh xin hành xác và thử thách các con. Thầy chẳng chịu cho hành xác; chúng nó hiệp Tam-Thập-Lục-Ðộng toan hại các con; nên Thầy sai Quan-Thánh và Quan Âm đến gìn-giữ các con, nhưng phần đông chưa lập Minh-Thệ nên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật không muốn nhìn nhận.
Vì vậy thầy sai mấy đứa nhỏ xuống đặng chung hiệp cùng con, mà tức cấp lập thành, và luôn dịp phong Thiên-Ân cho Tương, Kim và Thơ ... Vậy con phải kêu chúng nó hội cho đủ mặt nội đêm nay.
*
TÁI CẦU
Lần thứ Tư (12 giờ khuya)
Trong Tam-Kỳ Phổ-Ðộ và qui Tam-Giáo nầy.
Phật thì có Quan-Âm.
Tiên thì có Lý-Thái-Bạch.
Thánh thì có Quan-Thánh-Ðế-Quân khai Ðạo.
[Quá rõ rang – không đọc làm sao thấy và biết]
Vậy con lập cho đủ ba Trấn chứng đàn; con phải lập bàn Ngũ-Lôi, như Thầy dạy lúc trước; phải có bùa Kim-Quan-Tiên, còn con viết bùa Giáng-Ma-Xữ để bàn vọng Hộ-Pháp; rồi Cư chấp bút nhang cho Thầy triệu Ngũ-Lôi đến; rồi nó xuống đứng gần bàn Hộ-Pháp với Tắc và Sang; còn mấy đứa phò-loan đứng vòng theo đó.
Con biểu Tương, Kim, Thơ thề y như buổi trước; chư Môn-đệ thề như buổi Thiên-Phong. Con phải nhớ dặn chúng nó tịnh tâm mới đặng, vì có cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật chứng đàn.
Các con nghe tịch Ðạo thi:
THANH-Ðạo tam khai thất ức niên,
Thọ như Ðịa huyển thạnh hoà Thiên.
Vô-hư quy phục nhơn-sanh khí,
Tạo vạn cổ đàng chiếu Phật duyên.
THANH là tịch các con.
Vậy thì:
Tương là Thượng-Tương-Thanh,
Kim là Thượng-Kim-Thanh,
Thơ là Thái-Thơ-Thanh.
Phải dùng tên ấy mà thề.
*
TÁI CẦU
Lần thứ năm (1 giờ rưỡi sáng)
Tương, bốn đứa Lễ Sanh đâu con?
Lập nghi, Thầy cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến chứng đàn.
*
TÁI CẦU
Lần thứ sáu (3 giờ sáng)
Lịch, chư Môn-đệ thiếu mặt nhiều lắm con há?
Vậy nội ngày mai, con phải lên thiết đàn tại Chợ-Lớn, nhà Trung cho cả Môn đệ Thầy lập Minh-Thệ đủ mặt hết nghe!
Lý-Thái-Bạch giáng cơ:
THÁI-Thượng vô ngôn hữu Ðạo thành
BẠCH Vân hữu nhãn kiếp nhơn-sanh,
KIM Quang đắc kiếp tu tâm thiện,
TINH đẫu nan tri ngã độ thành.
Quan-Âm giáng cơ:
QUANG Minh Nam Hải trấn thiền môn
ÂM-cảnh năng tri độ dẫn hồn
BỒ Ðoàn mạc hám liên huê thất,
TÁT Thế tâm ưu khỏi đạo tông.
Quan-Thánh giáng cơ:
QUAN Thánh tái hiệp Hớn-Triều phong
THÁNH đức mạc vong hám thế trần,
ÐẾ thất nhứt tâm trung khí dõng
THANH-Y Xích diện hảo vinh phong.
Qua bài TNHT này, ông Năm nói quả quyết, khiến nhiều người sửng sốt :
- Ngày nay còn đến chùa Phật cầu nguyện lễ bái chỉ làm tôi mọi cho nhang khói mà thôi
- Sao vậy ông Năm?
- Cầu Đức Thích Ca trên Thánh Tượng không có tác dụng, giống như hiện nay khiếu nại hánh chánh với Nhà nước Việt Nam mả gởi đơn cho Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Ngài Triết bỏ xỏ rác thôi !
- Vậy phải gởi cho ai ?
- Gởi cho người có trách nhiệm.
- Ai vậy?
- Người đang tại chức. Bây giờ là Ngài Trương Tấn Sang.
- Ngài Triết hết nhiệm kỳ thì Ngài chuyển cho người kế vị.
- Ai rảnh làm việc đó !
- Vậy cầu nguyện ai là đúng ?
- Là tín đồ Cao Đài, cầu Đức Phật Mẫu là số một – Ông Năm cười.
- Cầu Đức Chí Tôn nữa chớ.
- Sai rồi - Đức Hộ Pháp giảng - Đức Chí Tôn như Triếu nghi, nơi đây Cha lo phầu siêu rỗi tức phần linh hồn, cầu cho Chơn linh Cửu Huyền Thất Tổ hay Cha Me đã qua đời. Còn các việc buồn bán, về chồng con … thì cầu Phật Mẫu (như mẹ con trong nhà). Mẹ lo phần cứu rỗi, tức là phần thể xác …
- Tại nhà không thờ Đức Phật Mẫu làm sao mà cầu nguyện được.
- Không cần phải đến Điện Thờ Phật Mẫu, Hễ nhớ là cầu … lâm râm hay cầu trong lòng bất cứ đâu và lúc nào . đúng là mọi lúc, mọi nơi …
Ông Năm tạm ngưng đi tới, lui hít thở. Trên Email có người nhắc nhở : KHÔNG NÊN ngồi suốt hơn 3 giờ trên máy vi tính, có hại cho mắt.
Phụng Thất ngày đầu năm 2012
(còn nữa)
Cao Quỳnh Tuệ Lâm
-----------------------
TỊCH ĐẠO
Tịch: sổ sách biên chép. Đạo:chỉ Đạo Cao Đài.
Tịch đạo là sổ bộ Chức sắc của Đạo Cao Đài với Thánh danh đặc biệt biểu thị thời kỳ phổ độ và mở mang đạo pháp của một đời Giáo Tông.
●Như đời Giáo Tông thứ nhứt của Đạo Cao Đài thì Tịch đạo là THANH HƯƠNG: Chức sắc CTĐ nam phái lấy chữ Thanh, Chức sắc CTĐ nữ phái lấy chữ Hương, làm Thánh danh.
Td: Đầu Sư Thái Thơ Thanh, Nữ Giáo Sư Hương Cúc.
●Qua đời Giáo Tông thứ nhì thì Tịch đạo của Chức sắc CTĐ là ĐẠO TÂM: Chức sắc nam phái lấy chữ Đạo làm Thánh danh và Chức sắc nữ phái lấy chữ Tâm làm Thánh danh.
Những chữ dùng làm Tịch đạo do Đức Chí Tôn giáng cơ ban cho trong hai bài thi tứ tuyệt sau đây:
■Đức Chí Tôn giáng cơ tại Vĩnh Nguyên Tự (Cần Giuộc) lúc 12 giờ khuya ngày mùng 1-7-Bính Dần (dl 8-8-1926) cho bài thi Tịch đạo nam phái:
TNHT: "Các con nghe Tịch đạo:
Thanh Đạo tam khai thất ức niên,
Thọ như địa quyển thạnh hòa Thiên.
Vô hư qui phục nhơn sanh khí,
Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.
THANH là tịch các con.
Vậy thì:
Tương là
Thượng Tương Thanh,
Kim là
Thượng Kim Thanh
Thơ là
Thái Thơ Thanh.
Phải dùng tên ấy mà thề."
■Trong ngày Khai Đạo tại Thánh Thất Từ Lâm Tự (Chùa Gò Kén) Tây Ninh, đêm 14-10-Bính Dần (dl 18-11-1926), Đức Chí Tôn giáng cơ ban cho Tịch đạo của Chức sắc CTĐ nữ phái:
TNHT: "Nữ phái nghe Thầy khai Tịch đạo:
Hương Tâm nhứt phiến cận càn khôn,
Huệ đức tu chơn độ dẫn hồn.
Nhứt niệm Quan Âm thùy bảo mạng,
Thiên niên đẳng phái thủ sanh tồn.
Lâm thị: Phong vi Giáo Sư, lấy Thiên ân là Hương Thanh.
Ca thị: Phong vi Phó Giáo Sư, lấy Thiên ân là Hương Thế.
Đường thị: đã thọ mạng Thiên sai, cứ giữ địa vị mình.
Còn cả chư ái nữ, Thầy sẽ lập Đại hội cho đủ mấy vị rồi sẽ phong sắc một lượt.
Thầy ban ơn cho các con, cứ hành lễ theo lời dặn."
Giải nghĩa hai bài thi Tịch đạo nam phái và nữ phái:1. Bài thi TỊCH ĐẠO NAM PHÁI:
Thanh đạo tam khai thất ức niên,
Thọ như địa quyển thạnh hòa Thiên.
Vô hư qui phục nhơn sanh khí,
Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.
Giải nghĩa:
Câu 1: Thanh đạo tam khai thất ức niên:
Thanh:trong sạch. Đạo: tôn giáo. Tam khai: mở ra lần thứ ba. Thất ức niên: 700 ngàn năm.
C.1: Nền đạo trong sạch của Đức Chí Tôn mở ra lần thứ ba, kéo dài được 700 ngàn năm.
Câu 2: Thọ như địa quyển thạnh hòa Thiên:
Thọ: sống lâu. Như: giống như. Địa: đất. Quyển: Khuyên: vòng tròn. Địa quyển: trái đất tròn. Thạnh: thịnh vượng. Hòa: cùng nhau. Thiên: Trời.
C.2: Lâu dài như trái đất tròn, thạnh vượng cùng Trời.
Câu 3: Vô hư qui phục nhơn sanh khí:
Vô hư: Hư vô, chỉ Đức Chí Tôn trong cõi Hư vô. Qui phục: chịu theo về. Khí:phần vô hình của con người, ý nói linh hồn. Nhơn sanh khí: linh hồn của nhơn sanh, đó cũng là Vạn linh.
C.3: Đức Chí Tôn qui phục Vạn linh.
Câu 4: Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên:
Tạo: làm ra. Vạn cổ: muôn xưa, ngàn xưa. Đàn: nơi cúng tế. Chiếu: soi rọi. Phật duyên: có mối dây ràng buộc với Phật, tức là những người có duyên với việc tu hành.
C.4: Tạo ra từ ngàn xưa đàn cúng tế để soi sáng người có duyên với Phật.
2. Bài thi TỊCH ĐẠO NỮ PHÁI:
Hương tâm nhứt phiến cận càn khôn,
Huệ đức tu chơn độ dẫn hồn.
Nhứt niệm Quan Âm thùy bảo mạng.
Thiên niên đẳng phái thủ sanh tồn.
Giải nghĩa:
Câu 1: Hương tâm nhứt phiến cận càn khôn:
Hương:thơm. Hương tâm: lòng thơm, tức là lòng tốt đẹp. Nhứt phiến: một tấm. Cận:gần. Càn khôn: Trời Đất.
C.1: Một tấm lòng thơm gần Trời Đất. Ý nói: Tấm lòng tốt đẹp thì gần với Thượng Đế.
Câu 2: Huệ đức tu chơn độ dẫn hồn:
Huệ: trí huệ, sự sáng suốt thông hiểu sự lý do sự giác ngộ tu hành. Huệ đức: cái đức sáng suốt. Tu chơn: tu hành chơn thật, không vì danh lợi, cốt giải thoát khỏi luân hồi, đoạt được ngôi vị thiêng liêng. Độ dẫn: cứu giúp và dẫn dắt. Hồn: linh hồn.
C.2: Cái đức sáng suốt do sự tu hành chơn thật độ dẫn được linh hồn.
Câu 3: Nhứt niệm Quan Âm thùy bảo mạng:
Nhứt niệm:một niệm, một tưởng. Quan Âm:Quan Thế Âm Bồ Tát. Nhứt niệm Quan Âm: một lần niệm danh hiệu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Thùy: rủ xuống. Bảo mạng: gìn giữ mạng sống.
C.3: Một lần niệm danh hiệu Đức Quan Âm Bồ Tát thì được Bồ Tát rủ lòng thương xót bảo vệ mạng sống.
Câu 4: Thiên niên đẳng phái thủ sanh tồn:
Thiên niên:ngàn năm. Đẳng: bằng. Đẳng phái: phái bình đẳng tức là nữ phái, bình đẳng với nam phái. Thủ:gìn giữ. Sanh tồn: sống còn.
C.4: Ngàn năm, nữ phái gìn giữ sự sanh tồn của nhơn loại, tức là giữ gìn nòi giống của nhơn loại. (trích : Cao Đài Từ Điển)

----------------------
CTÐ: Cửu Trùng Ðài.
TNHT: Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.