Nhơn hư Đạo bất hư
[Sung khắc giữa Phật Giáo & Công Giáo]
Là tín đồ Cao Đài mà không đọc Thánh NgônHiệp Tuyển (TNHT), đa phần hiểu sai lệch tôn chỉ, mục đích Đại Đạo và không nhận ra chỗ siêu việt của ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ. Chỗ siêu việt đó là Đại Đại hàm chưa chủ trương Luật Nhân Quả của Phật Giáo và tin nhận có Đức Thương Đế là Đấng tối cao sáng tạo Càn Khôn Vũ trụ của Công giáo. Trong khi đó giữa Phật giáo và Công giáo không đồng thuận về điểm then chốt này. Điều đáng nói và quan trọng là Công giáo không giữ Ngũ giới cấm, đặc biệt là giới BẤT SÁT SANH!
Hôm nay ông Năm nghiên cứu về Phật giáo chê bai Công giáo !
.
Phât giáo cho rằng - Chúa Jesus chính là đệ tử của Đức Phật Thích Ca, bởi Chúa Jesus ra đời sau Đức Phật đến 500 năm, 500 năm sau khi Đức Phật viên tịch thì Chúa Jesus lúc bấy giờ chỉ có 12-30 tuổi, sang Ấn Độ để học Đạo Phật. Thật ra đạo Công Giáo đã xuất phát và có nguồn gốc từ: Phật Giáo ở Ấn Độ.
Chúa Jesus khi đến Ấn Độ để học Đạo Phật, Chúa Jesus đã học được môn Thiền Định nên vì vậy Ngài có thể chết đi và sống lại sau 3 ngày (ai hiểu môn Thiền Định thì sẽ rõ điều này thôi). Thiên hạ chửi nhau và mạt sạt cho lắm để cuối cùng sự thật phơi bày ra đó là chính Chúa Jesus lại là đồ đệ của Đức Phật, đã đến Ấn Độ tầm sư mà học giáo lý/kinh điển của Phật Giáo rồi đem nó trở về Do Thái để mở đạo Thiên Chúa Giáo của Ngài…

http://www.thienlybuutoa.org/Books/PhatThichCa/01.htm
Thiên Chúa Giáo Ở Ấn Độ
Lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa (hình sống động)
http://giaophanmytho.net/view.aspx?idx=6e7aa21f-be97-4e32-ba8d-97fc606ebd41&ag=pvcbsn
Thiên Chúa Giáo là tôn giáo lớn hàng thứ 3 tại Ấn Độ, với gần 25 triệu tín đồ, chiếm 3% tổng dân số.
Có thể nói, Thiên Chúa Giáo có một quan hệ đặc biệt với Ấn Độ mà ngoại trừ các tôn giáo được khai sáng tại Ấn Độ không một tôn giáo nào bên ngoài có được, kể cả Hồi Giáo là tôn giáo được truyền vào đây lâu đời. Lý do Thiên Chúa Giáo có mối quan hệ đặc biệt với Ấn Độ là vì chính Chúa Jesus – từ năm 12 đến 30 tuổi -- đã từng đến Ấn Độ để học đạo [phần nhiều là học Đạo Phật] rồi trở về Do Thái để khai sáng Thiên Chúa Giáo. Chưa hết, sau khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá nhưng được cứu sống, Ngài đã trở lại Ấn Độ sống thời gian còn lại của cuộc đời và từ trần ở đó.
Về mặt sử liệu hiện có, thì Thiên Chúa Giáo được truyền tới Ấn Độ vào năm 52 sau công nguyên do một trong những tông đồ của Chúa Jesus là Thánh Thomas lần đầu tiên đến Kodungallur tại Kerala để thành lập cộng đoàn Thiên Chúa Giáo cho người Do Thái di dân sống ở đây. Như thế, sự có mặt của Thiên Chúa Giáo tại Ấn Độ cũng đồng thời với sự có mặt đầu tiên của Thiên Chúa Giáo trên thế giới. Đây cũng là điểm đặc biệt của Thiên Chúa Giáo tại Ấn Độ. Kiến trúc nhà thờ có mặt xưa nhất trên thế giới mà được xây dựng bởi Thánh Thomas vào năm 57 sau công nguyên có tên là Thiruvithamcode Arappally hay Thomaiyar Kovil tại Quận Kanyakumari của Tamil Nadu, Ấn Độ. Ngôi nhà thờ này hiện đã trở thành trung tâm hành hương quốc tế có tên St. Thomas.
Đa phần Thiên Chúa Giáo tại Ấn Độ thuộc Công Giáo La Mã. Vào năm 1320, vị sứ thần đầu tiên của đức Giáo Hoàng Công Giáo La Mã, và cũng là người Âu Châu đầu tiên đến Ấn Độ là Hồng Y Jordanus Catalani, người Pháp thuộc giòng tu Dominican. Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đầu tiên đến Ấn Độ là những tông đồ của thời đại mới cùng đi với nhà thám hiểm Vasco da Gama. Họ đến Kappad gần Kozhikode vào ngày 20 tháng 5 năm 1498. Cùng đi với đoàn thám hiểm thứ 2 của Bồ Đào Nha gồm 13 chiếc tàu, có 18 linh mục, dưới quyền điểu khiển của Thuyền Trưởng Pedro Alvares Cabral, đến Ấn Độ vào ngày 26 tháng 11 năm 1500 và thiết lập phái bộ truyền giáo Bồ Đào Nha đầu tiên tại Ấn Độ cũng vào năm này. Ngày nay, Thiên Chúa Giáo điều hành hàng ngàn cơ sở bất vụ lợi trong lãnh vực giáo dục và xã hội tại khắp đất nước Ấn Độ.
Phái bộ truyền giáo Tin Lành đầu tiên đến Ấn Độ
là 2 mục sư Lutheran từ Đức Bartholomaus Ziegenbalg và Heinrich Pluetschau vào năm 1705. Họ chuyển dịch Kinh Thánh Tân Ước sang tiếng địa phương Tamil và sau đó dịch sang tiếng Hindustani. Trong thế kỷ thứ 19, nhiều nhà truyền giáo Tin Lành thuộc giáo hội Baptist Mỹ đã đến miền đông bắc Ấn Độ. Nhiều Giáo Hội lớn của Tin Lành có mặt tại Ấn Độ như Church of South India (CSI), Church of North India (CNI), Presbyterian Church of India, Baptist, Lutheran, v.v…
Sự có mặt lâu đời của Thiên Chúa Giáo tại Ấn Độ đã giúp cho tôn giáo này có những đóng góp tích cực vào xã hội Ấn qua nhiều lãnh vực mà đặc biệt là văn hóa, giáo dục và từ thiện xã hội. Chính vì thế, nhiều nhân vật tên tuổi của Ấn Độ đã là tín đồ hay chịu ảnh hưởng bởi Thiên Chúa Giáo, trong số đó có:
- Sonia Gandhi sinh năm 1946, là người Ý gốc Ấn Độ, vợ của Cố Thủ Tướng Ấn Rajiv Gandhi, bị ám sát năm 1991. Bà là Chủ Tịch Quốc Hội Liên Bang Ấn. Tạp Chí Forbes bầu chọn bà là người phụ nữ có quyền lực hàng thứ 3 trên thế giới của năm 2004.
- Mẹ Teresa, tên khai sinh là Agnes Gonxha Bojaxhiu, sinh ngày 26 tháng 8 năm 1910 và mất vào ngày 5 tháng 9 năm 1997, là nữ tu Công Giáo La Mã, gốc Albania và có quốc tịch Ấn Độ. Năm 1950, Bà thành lập Hội Từ Thiện tại Calcutta, Ấn Độ. Trải qua 45 năm, Bà phục vụ tận tình để giúp người nghèo, bệnh tật, trẻ em mồ côi và người chết. Hội Từ Thiện của Mẹ Teresa không những phát triển rộng khắp Ấn Độ mà còn có 610 chi nhánh phục vụ tại 123 nước trên thế giới. Năm 1979, Bà được trao giải Nobel Hòa Bình. Ngày 19 tháng 10 năm 2003, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã chính thức phong Chân Phước cho Mẹ Teresa.
Kết Luận
Ấn Độ là quốc gia có dân số lớn hàng thứ 2 trên thế giới và là nền dân chủ lâu đời nhất tại Á Châu. Ấn Độ cũng là nơi sản sinh ra nhiều vĩ nhân kiệt xuất của nhân loại về tôn giáo, triết học, khoa học, văn học, và chính trị. Sở dĩ Ấn Độ có được các ưu điểm như thế vì đất nước này là lãnh địa phát sinh ra nhiều tôn giáo lớn với những ảnh hưởng và đóng góp rộng khắp vào sinh hoạt xã hội không chỉ riêng cho Ấn Độ mà còn cho cả nhân loại.
Chẳng hạn, Phật Giáo với chủ trương khai mở trí tuệ giác ngộ để giải thoát con người ra khỏi tất cả mọi trói buộc và hạn chế của vị ngã, đồng thời phát huy triệt để tinh thần từ bi bình đẳng của mọi người. Đó phải chăng là những nguyên lý căn bản và nền tảng mà xã hội Ấn Độ nương vào để phát triển theo chiều hướng tự do, dân chủ và tôn trọng quyền sống của muôn loài và quyền làm người của từng cá nhân trong xã hội? Hẳn là thế, bởi vì vào ngày 12 tháng 11 năm 1999, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã ra Nghị Quyết A/54/235 tôn vinh tinh thần từ bi và hòa bình của giáo lý Đức Phật như là giá trị quý báu mà cộng đồng thế giới cần trân quý và phát huy hàng năm qua việc tổ chức Đại Lễ Vesak để góp phần chuyển hóa những thù hận, bất công, bạo lực và chiến tranh trên hành tinh này.
Phật Giáo được khai sinh ở Ấn Độ, cho nên việc làm ấy của Liên Hiệp Quốc cũng làm cho dân tộc Ấn Độ hãnh diện.
Nguồn : Thư Viện Hoa Sen
Phật Giáo
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Buddha), người khai sáng ra Phật Giáo, sinh vào năm 624 trước công nguyên tại Thành Phố Lâm Tỳ Ni (Lumbini) mà ngày nay là nước Nepal, phía bắc Ấn Độ. Ngài nguyên là Thái Tử Sĩ Đạt Ta (Siddhartha) của dòng họ Cồ Đàm (Gautama) thuộc nước Ca Tỳ La Vệ (Capilavastu). Phụ vương của Thái Tử là Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và mẫu hậu là Hoàng Hậu Maya. Năm 16 tuổi Thái Tử kết hônvới Công Chúa Da Du Đà La (Yasodhara). Năm 29 tuổi Thái Tử vào Hy Mã Lạp Sơn để xuất gia tầm đạo tìm con đường giải thoát khổ đau cho mình và chúng sinh.
Trải qua 6 năm tầm sư học đạo, nhưng Thái Tử Sĩ Đạt Ta vẫn không thỏa mãn với những giáo thuyết và pháp môn tu của những vị đạo sư mà Ngài theo học. Cuối cùng vì tu theo khổ hạnh ép xác, Ngài đã kiệt sức và ngã quỵ bên giòng sông Ni Liên Thiền (Nairanjana) và nhờ bác sữa của nữ thí chủ Tu Xà Đa (Sujata) mà Ngài hồi phục. Sau Đó Thái Tử quyết định từ bỏ lối tu khổ hạnh và bắt đầu pháp môn riêng của Ngài.Ngài đến dưới gốc cây Bồ Đề (Bodhi Tree) ngồi thiền định. Sau 49 ngày đêm thiền tọa, cuối cùng Thái Tử đã đạt được sự giác ngộ hoàn toàn và trở thành vị Phật có tên là Phật Thích Ca Mâu Ni, vào năm Ngài 35 tuổi. Sau khi giác ngộ, đức Phật đến Vườn Lộc Uyển gặp lại 5 người bạn đồng tu lúc trước và dạy cho họ pháp môn giác ngộ mà Ngài đã thành tựu để họ được chứng đạo. Bài pháp đầu tiên mà đức Phật giảng -- cũng gọi là chuyển Pháp luân tức lăn bánh xe Chánh Pháp -- cho 5 anh em ông Kiều Trần Như nghe và tu tập là Tứ Diệu Đế, bốn chân lý mầu nhiệm (Khổ, Tập, Diệt và Đạo Đế). Và đó cũng là lần đầu tiên đức Phật thiết lập Tăng Đoàn với 3 ngôi báu là Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Đức Phật đã tuần tự đi bộ khắp lưu vực Sông Hằng để giảng dạy về pháp môn giác ngộ và giải thoát từ đó cho đến khi Ngài nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi tức là vào năm 544 trước công nguyên.
Sakyamuni là tiếng Phạn, các nhà Phật học Trung Quốc dịch là Năng Nhơn Tịch Mặc có nghĩa là Người có khả năng tự dứt sạch vô minh phiền não và an trú trong vắng lặng của Niết Bàn. Chữ Phật tiếng Phạn là Buddha, các nhà Phật học Trung Quốc dịch là Giác Giả có nghĩa là vị đã giác ngộ hoàn toàn. Giác ngộ có 3 ý nghĩa: Tự mình giác ngộ (tự giác), giác ngộ cho người khác (giác tha), và hoàn thành sự giác ngộ cho mình và người (giác hạnh viên mãn).
Nội dung giáo nghĩa Phật Giáo có thể tóm lược trong 4 điểm chính: Vô Thường (Anitya), Khổ(Duhkha), Không (Sunya), và Vô Ngã (Anatma), thường được gọi là Bốn Pháp Ấn. Bốn giáo nghĩa này có mặt trong tất cả hệ thống giáo lý của các trường phái, bộ phái Phật Giáo từ Nguyên Thủy, Tiểu Thừa, đến Đại Thừa và ngay cả Kim Cang Thừa của Phật Giáo Tây Tạng.
Vô thường là bản chất của mọi hiện tượng tâm lý và vật lý. Không một hiện tượng nào trên thế gian này thoát khỏi sự chi phối của vòng sinh, trụ, dị và diệt.
Chính vì các hiện tượng chung quanh chúng ta đều vô thường nên làm cho đời sống của con người trở nên đau khổ.
Khổ vì sinh, già, bệnh, chết; khổ vì mọi thứ đều tuột khỏi tầm tay kiểm soát của con người, ngay cả chính sinh mệnh của chúng ta nữa. Mọi hiện tượng đều vô thường và khổ não như thế nói lên một sự thật rất căn bản là tất cả mọi sự tồn tại đều là giả, không thật, là Không ngay tự bản chất, tức là Tánh Không. Khi các hiện tượng đều là Không trong tự tánh thì cũng đồng nghĩa là chúng không hề có tự ngã, chúng chỉ hiện hữu do các duyên hòa hợp mà thôi.
Vì vô ngã, Phật Giáo không chấp nhận sự hiện hữu của Thượng Đế với ý nghĩa là đấng sáng tạo vũ trụ.
Trên bình diện nhân sinh quan, Phật Giáo cho rằng con người và mọi chúng sinh có thể tự mình giác ngộ ra chân lývà giải thoát mọi khổ đau ở đời, bằng con đường tu tập để chuyển hóa nghiệp lực, bởi vì nghiệp lực là do chính con người tạo ra và cũng phải do chính con người chấm dứt nó. Điều cần lưu ý là trong giáo thuyết về nghiệp, Phật Giáo không hề chủ trương có một thứ linh hồn hay bất cứ hiện tượng gì tồn tại trong ý nghĩa có một tự ngã.
Chính vì thâm cảm bản chất khổ đau của con người và tất cả chúng sinh, đức Phật đã mở rộng lòng từ bi đối với mọi loài và chủ trương tôn trọng mọi sự sống, bảo tồn môi trường sống thiên nhiên. Hình ảnh về cuộc đời sinh ra, thành đạo, sống, hoằng pháp, và nhập Niết Bàn dưới gốc cây, trong rừng núi của đức Phật là hình ảnh biểu thị lòng từ bi, bất bạo động và bao dung của Phật Giáo.
Dựa vào nội dung giáo nghĩa và lịch sử phát triển người ta phân Phật Giáo ra làm 3 truyền thống: Nguyên Thủy, Tiểu Thừa Bộ Phái và Đại Thừa.
Nguyên Thủy Phật Giáo là thời kỳ đức Phật còn tại thế hàng đệ tử Phật nương oai đức và lời dạy trực tiếp của đức Phật làm kim chỉ nam cho sự tu tập, thời kỳ này nội dung giáo nghĩa của Phật vẫn còn ở dạng thức truyền khẩu, nghĩa là học thuộc lòng chứ chưa viết thành văn tự.
Tiểu Thừa Bộ Phái là thời kỳ sau khi đức Phật nhập Niết Bàn khoảng 100 năm với sự giải thích dị biệt về giới luật và giáo nghĩa đưa tới sự phân chia làm nhiều bộ phái -- có ít nhất trên 20 bộ phái được biết tới – trong thời kỳ này, những lời dạy của đức Phật đã được kết tập và viết thành văn tự trong 4 bộ Nikaya hay 5 bộ Kinh A Hàm mà sau này được dịch sang Hán văn.
Phật Giáo Đại Thừa bắt đầu với phong trào vận động để đưa đạo Phật phổ cập vào xã hội với bộ phái Đại Chúng Bộ thuộc thành phần đại đa số và cấp tiến. Tuy nhiên, Phật Giáo Đại Thừa được khởi phát rõ rệt vào khoảng 600 năm sau Phật nhập diệt tức đầu công nguyên nhờ cuộc vận động của chư Bồ Tát Mã Minh (Asvaghosa), Long Thọ (Nagarjuna), Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu) với sự xuất hiện của Kinh Điển Đại Thừa và các bộ Luận xiển dương Đại Thừa như các bộ Kinh Bát Nhã, Pháp Hoa, Duy Ma Cật, v.v…, và các bộ Luận Đại Thừa Khởi Tín, Trung Luận, Đại Trí Độ Luận, Duy Thức, v.v…
Vào thời đại Vua A Dục (Asoka – 272-236 trước công nguyên), nhờ sự hỗ trợ tích cực của vị hoàng đế sùng mộ Phật Pháp này nhiều phái đoàn hoằng pháp đã được cử đi truyền bá Phật Giáo tại nhiều nơi trên thế giới qua đường thủy, trong đó có Tích Lan (Sri Lanka), Thái Lan, Miến Điện, Nam Dương, Việt Nam, v.v.... Đường truyền giáo này về sau lịch sử gọi là Nam Truyền Phật Giáo. Ngược lại, Phật Giáo Đại Thừa đã được truyền bá ra ngoài lãnh thổ Ấn Độ ở phía bắc đến các nước Afghanistan, Tây Tạng, Trung Quốc, Đại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam, v.v… vào đầu công nguyên. Đường truyền giáo này được gọi là Bắc Truyền Phật Giáo.
Phật Giáo tại Ấn Độ đã trải qua nhiều thăng trầm tùy thuộc vào các triều đại chính trị có hậu thuẫn hay tiêu diệt Phật Giáo, dĩ nhiên, trong đó không thể bỏ qua yếu tố then chốt là sự hưng thịnh hay suy đồi của nội lực Phật Giáo mà hàng ngũ Tăng Ni và cư sĩ Phật tử đóng vai trò chủ đạo. Nhưng phải đợi đến một biến cố lịch sử mà qua đó Phật Giáo tại Ấn Độ đã hầu như bị tiêu diệt hẳn, đó là cuộc xâm lăng của Hồi Giáo vào Ấn Độ ở thế kỷ thứ 12 sau công nguyên, với chính sách tiêu diệt Phật Giáo tận gốc bằng việc bắt buộc tu sĩ hoàn tục hay giết hại hàng chục ngàn Tăng Ni, những người không chịu bỏ đạo, đốt phá tất cả chùa chiền, kinh sách Phật Giáo. Nhưng, nhờ trước đó, Phật Giáo đã được truyền bá ra ngoài lãnh thổ Ấn Độ đến các quốc gia lân bang, cho nên, Phật Giáo đã được phát triển sâu rộng tại nhiều nước ở Châu Á.
Ngày nay, tín đồ Phật Giáo trên khắp thế giới có thể đạt tới con số trên một tỉ rưỡi người, và Phật Giáo là một trong những tôn giáo phát triển mạnh nhất tại các nước Âu Mỹ.
Nói đến ảnh hưởng của Phật Giáo đối với những người nổi tiếng trên thế giới trong các lãnh vực thì nhiều, ở đây xin nêu ra một số nhân vật tên tuổi như sau:
- Aung San Suu Kyi (1945 - ) nhà hoạt động trong tinh thần bất bạo động cho tự do dân chủ Miến Điện từng đoạt giải Nobel Hòa Bình năm 1991 và cũng là nhà lãnh đạo Phong Trào Quốc Gia Vì Dân Chủ tại Miến Điện.
- U Thant (1909-1974) Cựu Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc đời thứ 3 từ 1961 tới 1971, gốc Miến Điện, sinh tại Pantanaw, Miến Điện.
- Văn hào Anh Christmas Humphreys (1901-1983) sáng lập Hội Buddhist Society của Anh Quốc vào năm 1924, với hàng chục tác phẩm nghiên cứu về Phật Giáo và văn học.
- Sangharakshita còn được biết dưới tên Dennis Philip Edward Lingwood là giáo sư Phật học và nhà văn sinh năm 1925 ở Anh, sáng lập the Triratna Buddhist Community.
- Richard Tiffany Gere, nam tài tử điện ảnh Hollywood, sinh năm 1949 tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania, Hoa Kỳ.
- Steven Frederic Seagal, sinh năm 1952 tại thành phố Lansing, Michigan, là tài tử phim hành động, nhà sản xuất phim, nhà văn, nhạc sĩ đàn guitar, và cũng là người hoạt động cho môi trường, bảo vệ thú vật, ủng hộ cuộc vận động đòi Tây Tạng tự trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14.
- William Oliver Stone, sinh tại thành phố New York và năm 1946, là đạo diễn, nhà sản xuất, và viết truyện phim Mỹ. Ông cũng là người đạo diễn loạt phim The Vietnam War vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Ông đã từ 3 lần được trao giải Academy Award.
- Tina Turner (cũng có tên Anna Mae Bullock) sinh tại Nulbush, Quận Haywood, tiểu bang Tennessee, Hoa Kỳ, vào năm 1939, là ca sĩ và nữ tài tử điện ảnh, được bầu là “Nữ Hoàng Nhạc Rock ‘n’ Roll.”
- Eldrick Tont “Tiger” Woods sinh tại thành phố Cypress, Nam California, Hoa Kỳ, và năm 1975, là ngôi sao môn thể thao golf.
. +
Hiện nay,các Mạng Cao Đài thường có Mục ‘Tìm hiểu Tôn Giáo Bạn”, trong khi đó ông Năm vào Mạng Phật Giáo và nhứt là Mạng Công giáo không bao giờ nhắc đến Đạo Cao Đài. Việc làm vô ý thức của chư Hiền Đại Đạo, ông Năm thấy các anh em này không hiểu giá trị tuyên truyền gì cả!

Các anh em này lý luận, phải biết các Tôn giáo bạn để thuyết phục họ về với Đại Đạo, vì đây là mục đích Qui Tam Giáo của Đạo Cao Đài. Cũng vì không đọc TNHT nên các anh em này lo xa ! Tiếc thay, họ lo sai sự thật. Sự thật, chính Đức Chí Tôn đã qui Tam giáo trong Pháp Chánh Truyền. Chính các anh em này chưa hiểu hết ý nghĩa sâu sắc của từ ngữ “qui nguyên".
Lối truyền đạo Cao Đài, theo sự hiểu biết của ông Năm là “rao mà không rủ”. Bỡi vì, không rao thì không ai biết rồi nhơn sanh chối tội khi ra Tòa Tam giáo. Rao là nhiệm vụ của tín đồ mà kỳ này Đức Chí Tôn buộc mỗi tín đồ phải độ đủ 12 người và qui định “Đạo tìm Người”. Thế nên Thánh Thất phải cất nơi khoáng đạt, nhiều Thánh Thất cất ở ngả tư ngoài đường, không cất trong rừng núi như các chùa, am của Phật giáo. Nếu ai chịu khó đứng giũa Bình Dương Đạo nhìn về Đền Thánh thì rõ ràng Đền Thánh nằm chồm ra giữa lộ Phạm Hộ Pháp. Lầu chuông, lầu trống của Thánh Thất hoàn chỉnh chính là ngọn tháp xây cao nhằm kêu gọi nhơn sanh : “Thánh thất nè …”
Không rủ, vì của quí chẳng bán nài. Càng phát huy đạo, tức là làm chothiên hạ biết mà tự nguyện NHẬP MÔN CẦU ĐẠO!
Việc phát huy cũng chẳng có gì cao siêu, cứ Rao giảng TNHT. Việc này Đức Chí Tôn đã giao cho phẩm Giáo Hữu, là phẩm chót của Thánh Thể. Nhưng thử xét lại có mấy Giáo Hữu làm tròn nhiệm vụ này ? Nếu chưa tròn, sao lại thăng các phẩm trên ? Không phải trách. Nếu chi li quá, ngày nay nền Đạo không như thế này.
Sự xung khắc giữa Phật giáo và Công giáo còn nhiều… Xung khắc là vì thất kỳ truyền ! Vì vậy, mới có Đạo Cao Đài xuất hiện, mà Giáo chủ vô hình là Thượng Đế đích thân khai Đạo, không cho vị nào giáng sanh như các lần trước. Siêu việt của Đạo Cao Đài là đây và nhờ đây Đạo Cao Đài không bao giờ thất kỳ truyền. Sau này có thất kỳ truyền do các chức sắc giả không tùng TNHT .
(còn nữa)
4:00 am – ngày 8-01-2012
Mgày Vọng (Rằm) tháng Chạp Tân Mão
Cao Quỳnh Tuệ Lâm