Cao Quyỳnh Tuệ Lâm
[Tiểu Sử | Thi Hữu | Nhắn Tin]


HỌC ĐẠO VỚI THẦY TRỜI

[Đầu Xuân Nhâm Thìn - khai bút]

Thời gian qua nhanh như bóng câu xuyên cửa sổ. Mới hồi nào, chủ đề HỌC ĐẠO VỚI THẦY TRỜI, bài số 1 đúng vào ngày mùng một Tết Tân Mảo, bài này là bài Khai bút. Rồi năm nay cũng thế !

Nỗi vui to lớn là vừa vào trang lại nhận hai tin mới : Như Ly và Hoàng Ân, cả hai đều nhận “Chùm thơ ngày Tết “ làm tin nhạn !

Năm ngoái mình giới thiệu Thầy Trời. Năm Nhâm Thìn này mình muốn gởi đến hai người bạn mới của mình về tính đặc thù của Đạo Cao Đài, là vì :

TNHT - Vốn từ trước Thầy lập ra Ngũ chi Ðại-Ðạo là:

Nhơn-đạo

Thần-đạo

Thánh-đạo

Tiên-đạo

Phật-đạo

Tuỳ theo phong hoá cuả nhân loại mà gầy Chánh-Giáo, là vì khi trước Càn-vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn-loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.

[có vị viết là tứ (có dấu sắc) phương rồi dịch ra Anh văn. Lời người chép]

Còn nay thì nhơn-loại đã hiệp đồng. Càn-Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn-loại nghịch lẫn nhau: nênThầy mới nhứt định quy nguyên phục nhứt. Lại nữa, trước Thầy lại giao Chánh- Giáo cho tay phàm, càng ngày lại càng xa Thánh-Giáo mà làm ra cuộc Phàm-Giáo. Thầy lấy làm đau đớn, hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhân-loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A-Tỳ.

Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh Giáo cho tay phàm nữa. Nhưng mà buộc phải lập Chánh Thể, có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng Ðảo.

Vì vậy Thầy mới lập ra có một phẩm Giáo-Tông nghiã là anh cả, ba phẩm Ðầu-Sư, nghiã là Giáo-Hữu. [Giáo Hữu đây chắc không phải là phẩm Lễ sanh, Giáo Hữu (?). Lời người chép.] Chẳng đặng một ai duới thế nầy còn đặng phép nói rằng thế quyền cho Thầy mà trị phần hồn của nhơn-loại. Ai có đức hạnh lớn thì mới ngồi đặng địa vị thầy ban thưởng. Còn cả Môn-đệ ai cũng như ai, không đặng gây phe, lập đảng; những kẻ nào phạm tội thì Thầy trục xuất ra ngoài, cho khỏi đều rối loạn.

Nguồn - http://vn.360plus.yahoo.com/thanhdiatayninh/article?mid=2

[Bài 10-  24 Avril 1926 ]

Qua bài Thánh Ngôn này mình cần lưu ý về cụm từ“Càn Khôn dĩ tậnthức”nói nôm na là thế giới thu hẹp rồi, tin tức nhanh như chớp. Một sự kiện xảy ra trên địa cầu 68 này, 5-10 phút sau cả thế giới hay tin. Một tiếng gọi Alô trên điện thoại bên này, thì bên kia có tiếng đáp “Chào anh – nghe đây” như ngồi gần nhau bên cạnh.

Trước kia Thầy-Trời mở đạo là sai người đại diện Người và lập đạo phải tùy theo phong hóa nơi đó. Ngày nay vì “Càn Khôn dĩ tận thức” thì đó là đầu mối của sự đối nghịch. Họ nghịch lẫn nhau là đúng lý của họ, vì ai cũng tin Trời cả, chẳng lẽ Thầy Trời nói hai lời ư !!!.

Thứ đến là sai một người đại diện tái sanh làm con người, theo qui định của vũ trụ, con người đó phài chịu luật hóa sanh của luật “nhị nguyên”. Đã làm ngưòi tức phải mang phàm thể. Đã là phàm thì có tánh ý riêng. Chính cái tính riêng tư đó làm cho chơn truyền ngày càng sai lệch, như người đời có câu “tam sao thất bổn” là vậy.

Để hoàn chỉnh hóa, Thầy Trời “sưa sai” bằng cách

- Không giao tay phàm

- Chính Thầy Trời lập Đạo

Với phương pháp tân kỳ là Thầy Trời không tái thế mà từ Bạch Ngọc Kinh là nơi Thầy ngự dùng huyền cơ giáng bút trò chuyện trực tiếp với môn sinh. (Phương pháp này người Đạo Cao Đài gọi là Cơ Bút).

Điểm đặc biệt là ĐẠO DUY CÓ MỘT khi còn ở trên Trời, nên tôn giáo xưa nay không ra ngoài Tam Giáo : Nho-Thích-Đạo. Nói cách khác là Phật-Tiên-Thánh ( Nho là Thánh – Thích là Phật - Đạo là Tiên) . Vì vậy Thầy Trờilập Đạo không gì khác hơn xưa nay, vì khác thì không còn là ĐẠO nên Thầy nói “ … Thầy mới nhứt định qui nguyên, phục nhứt”.


Thầy dạy rất kỹ ; qui nguyên là trở lại nguyên thủy, tức là chỗ khởi đầu, tức là ĐẠO rồi “phục nhứt” phục cũng là trở về cái MỘT tức là ĐẠO, tức là đem Tam Giáo trở về đúng vị tri của ĐẠO.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển (TNHT) Thầy dạy từng lời khác biệt, môn sinh lười biếng suy tư cứ dùng từ tương tợ, mà tương tự là sai. Như số học - số 1 phải là số 1, tức trọn vẹn đơn vị, chớ không thể 0.999 … cũng gần giống với 1 là được thì sai lý ! Về văn tự, không thể nói phục là hiệp, hay Tam giáo qui nguyên là Tam giáo đồng nguyên …

TNHT - Thầy cũng dạy :

Ta vì lòng đại-từ đại-bi vẫn lấy đức háo sanh mà dựng nên mối Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ; tôn chỉ để vớt những kẻ hữu phần vào nơi địa-vị cao thượng, để tránh khỏi số mạng luân hồi và nâng những kẻ tánh đức bước vào cõi nhàn, cao hơn phẩm hèn khó ở nơi trần thế nầy.

Danh hiệu nền Đạo của Thấy là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Đã là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tức nhiên phải có “Nhứt Kỳ” và “Nhị Kỳ”.Kỳ ở đây là thời gian của Vũ trụ. Nhứt Kỳ quá xa xưa nên ít nghe người tu hành nhắc đến. Thầy cũng qui định Tam Kỳ có viễn trình là “thất ức niên” tức 700 ngàn năm và đây là lần chót để rồi địa cầu này sẽ tan rả. Ai chịu tu theo Tam Kỳ đúng ý nghĩa sẽ được chuyển sang qua sống ở một quả cầu khác, gồm toàn người hiền, gọi là đời Thánh đức, kẻ nào không tu theo Đại Đạo Tam Kỳ sẽ tan ra thành gió bụi theo qui định của địa cẩu trong khoảng một triệu năm nữa thôi.

Các tôn giáo hiện hữu như Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa … không còn quyền năng siêu rỗi cho nhơn loại mà Thầy cho biết trong Tam Kỳ, Tam Giáo được thay thế bởi Tam Trấn.

 Phật thì có Quan Âm,

Tiên thì có Lý Thánh Bạch,

Thánh thì có Quan Thánh Đế Quan …

(sẽ giải sau trong phần Tam Trấn Oai Nghiêm).

Thầy cũng dạy :

Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh Giáo cho tay phàm nữa. Nhưng mà buộc phải lập Chánh Thể, có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng Ðảo.

Vì vậy Thầy mới lập ra có một phẩm Giáo-Tông nghiã là anh cả, ba phẩm Ðầu-Sư, nghiã là Giáo-Hữu.

Giáo Tông của Tam Kỳ Phổ Độ, lẽ ra Thầy phong cho Ngài Ngô văn Chiêu, nhưng Ngài Ngô không nhận. Vì vậy Thầy phải cậy nhờ Đức Lý Thái Bạch kiêm nhiệm. Thầy và các Đấng có trách nhiệm trong Tam Kỳ Phổ Độ vốn vô hình nên việc tiếp cận giữa hai cảnh Tiên-Tục có phần giới hạn cho nên trong Tam Kỳ Phổ Độ có hàng Giáo phẩm thay thế cho Thầy, cho nên những vị đó được tôn vinh là hàng Thánh Thể tức thân thể của Thầy và các Đấng vô hình. Đặc biệt là phần phổ truyên chơn đạo của Thầy. Trách nhiệm này Thầy giao cho hàng phẩm Giáo hữu.

Hàng Thánh thể gồm hai Đài là Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài, (Cửu Trùng Đài chia ra hai phái nam, nữ riêng biệt), chỉ có Chức sắc Hiệp Thiên Đài mới có tư cách phò cơ để tiếp nhận lời giáng dạy của Thiêng liêng. Các phần nhiệm này được Thầy qui định trong Hiến chương của Đại Đạo Tam Kỳ, gọi là Pháp Chánh Truyền.

Tóm lại, lời dạy của Thầy, môn sinh cũng có người chưa thông trọn vẹn là các Tôn giáo thuộc thời “Nhị Kỳ” đều mất hết quyền năng. Buồn thay! Sự tôn kính truyền đời của nhiều người đã ăn sâu và tâm thức theo lẽ thương tình “Đạo nào cũng tốt - Đạo nào cũng dạy con người làm lành lánh dữ “. Điều đáng trách hơn là trong hàng môn sinh đa phần đều chưa hiểu lời Thầy dạy. Vậy sau khi chấm dứt bài này, mình xin trích phần TNHT ghi về Quyền hành của Tam Trấn Oai Nghiêm, tạm gọi Quà Xuân Nhâm Thìn để mọi người chiêm nghiệm …

Sau Tý thời Giao Thừa Nhâm Thìn

CaoQuỳnh TuệLâm


Liên lạc : caoquynhtuelam@yahoo.com

---

QUYỀN HÀNH CỦA TAM TRẤN OAI NGHIÊM

Bài 26 - 8 Aout 1926 , 1 tháng 7 năm Bính Dần (Giờ Ngọ)

Ngọc-Hoàng Thượng-Ðế Viết Cao-Ðài

Giáo Ðạo Nam Phương

Thầy mầng các con.

Thơ, con dắt mấy em đi Cần-Giuộc, vì Tà-Mị muốn nhiễu hại Môn Ðệ Thầy ở dưới.

Quan-Thánh và Quan-Âm đang đợi các con xuống ... Ði lập tức. Còn Trung chẳng hề gì, để nó lo việc gấp cuả gia đình nó.

(Thơ, Hậu, Nghiã, Tràng, Cư, Tắc, Sang xuống tới Cần-Giuộc hồi 1 giờ rưỡi, vì không thấy sự chi động tĩnh cần kíp, nên trì hưỡn tới 3 giờ chiều mới cầu Thầy mà nghe dạỵ) [Lời chú thích, không phải Thánh Ngôn - Lời người chép]

*

TÁI CẦU

Mấy đứa nhỏ chơi hoài há?

Thầy biểu xuống đây đặng có việc cần, mà các con trì hưỡn, thì không biết có phải nghịch với Thánh ý Thầy không há?

(Thơ, lạy Thầy từ bi thứ tội...)

Thơ, không phải lỗi nơi con đâu.

Tương, con tức cấp cho đòi cả mấy em con là Môn-đệ Thầy hội cho đủ mặt.

Thơ, con ngồi đại-tịnh, đặng tối nay nghe Thầy dạy việc.

*

TÁI CẦU

Hỉ chư Môn-đệ ......... Các con nghe dạy:

Tương, con không hiểu ngày nay là thế nào?

Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cả thảy đều náo động cũng vì các con.

Quỉ-Vương đến trước Bạch-Ngọc-Kinh xin hành xác và thử thách các con. Thầy chẳng chịu cho hành xác; chúng nó hiệp Tam-Thập-Lục-Ðộng toan hại các con; nên Thầy sai Quan-Thánh và Quan Âm đến gìn-giữ các con, nhưng phần đông chưa lập Minh-Thệ nên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật không muốn nhìn nhận.

Vì vậy thầy sai mấy đứa nhỏ xuống đặng chung hiệp cùng con, mà tức cấp lập thành, và luôn dịp phong Thiên-Ân cho Tương, Kim và Thơ ... Vậy con phải kêu chúng nó hội cho đủ mặt nội đêm nay.

*

TÁI CẦU

Lần thứ Tư (12 giờ khuya)

Trong Tam-Kỳ Phổ-Ðộ và qui Tam-Giáo nầy.

Phật thì có Quan-Âm.

Tiên thì có Lý-Thái-Bạch.

Thánh thì có Quan-Thánh-Ðế-Quân khai Ðạo.

Vậy con lập cho đủ ba Trấn chứng đàn; con phải lập bàn Ngũ-Lôi, như Thầy dạy lúc trước; phải có bùa Kim-Quan-Tiên, còn con viết bùa Giáng-Ma-Xữ để bàn vọng Hộ-Pháp; rồi Cư chấp bút nhang cho Thầy triệu Ngũ-Lôi đến; rồi nó xuống đứng gần bàn Hộ-Pháp với Tắc và Sang; còn mấy đứa phò-loan đứng vòng theo đó.

Con biểu Tương, Kim, Thơ thề y như buổi trước; chư Môn-đệ thề như buổi Thiên-Phong. Con phải nhớ dặn chúng nó tịnh tâm mới đặng, vì có cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật chứng đàn.

Các con nghe tịch Ðạo thi:

THANH-Ðạo tam khai thất ức niên, (Đã nói 700 ngàn năm ở trên)

Thọ như Ðịa huyển thạnh hoà Thiên.

Vô-hư quy phục nhơn-sanh khí,

Tạo vạn cổ đàng chiếu Phật duyên.

THANH là tịch các con.

Vậy thì:

Tương là Thượng-Tương-Thanh,

Kim là Thượng-Kim-Thanh,

Thơ là Thái-Thơ-Thanh.

Phải dùng tên ấy mà thề.

*

TÁI CẦU

Lần thứ năm (1 giờ rưỡi sáng)

Tương, bốn đứa Lễ Sanh đâu con?

Lập nghi, Thầy cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến chứng đàn.

*

TÁI CẦU

Lần thứ sáu (3 giờ sáng)

Lịch, chư Môn-đệ thiếu mặt nhiều lắm con há?

Vậy nội ngày mai, con phải lên thiết đàn tại Chợ-Lớn, nhà Trung cho cả Môn đệ Thầy lập Minh-Thệ đủ mặt hết nghe!

Lý-Thái-Bạch giáng cơ:

THÁI-Thượng vô ngôn hữu Ðạo thành

BẠCH Vân hữu nhãn kiếp nhơn-sanh,

KIM Quang đắc kiếp tu tâm thiện,

TINH đẫu nan tri ngã độ thành.

Quan-Âm giáng cơ:

QUANG Minh Nam Hải trấn thiền môn

ÂM-cảnh năng tri độ dẫn hồn

BỒ Ðoàn mạc hám liên huê thất,

TÁT Thế tâm ưu khỏi đạo tông.

Quan-Thánh giáng cơ:

QUAN Thánh tái hiệp Hớn-Triều phong

THÁNH đức mạc vong hám thế trần,

ÐẾ thất nhứt tâm trung khí dõng

THANH-Y Xích diện hảo vinh phong.

 ---

Tam Trấn Oai Nghiêm:

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Trấn:gìn giữ cho yên ổn. Oai Nghiêm:có oai quyền đáng nể sợ.

Tam Trấn Oai Nghiêm là ba Đấng có nhiệm vụ bảo vệ và phát triển nền Đại Đạo của Đức Chí Tôn, thay mặt ba Đấng Giáo chủ, cầm quyền Tam giáo trong ĐĐTKPĐ.

Tam Trấn Oai Nghiêm gồm:

- Nhứt Trấn Oai Nghiêmlà Đức Đại Tiên Trưởng Lý Thái Bạch, thay mặt Đức Lão Tử, cầm quyền Tiên giáo.

- Nhị Trấn Oai Nghiêm là Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, thay mặt Đức Phật Thích Ca, cầm quyền Phật giáo.

- Tam Trấn Oai Nghiêmlà Đức Quan Thánh Đế Quân, thay mặt Đức Khổng Tử, cầm quyền Nho giáo.

Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo nói về quyền hành của Tam Trấn Oai Nghiêm, trích ra như sau:

1. Đức Quan Thánh: tượng trưng Tinh, tức nhiên là xác thịt của chúng ta, vì cái sống trong xã hội nhơn quần của chúng ta ngày nay không có giá trị nào bằng giá trị Tinh, Khí, Thần.

Quả vậy, Bần đạo tưởng chắc rằng nếu chúng ta có mảnh thân phàm nầy mà muốn cho nên, đứng cho vững vàng đáng giá nơi thế nầy, kiếp sống ta có một kiểu vở nào, không một nền tôn giáo nào có tôn chỉ đặc biệt về xã hội nhơn quần của chúng ta hơn Nho giáo.

Đức Quan Thánh là đại diện cho Nho tông Chuyển thế.

Nếu trong cử chỉ hành tàng của chúng ta trong kiếp sống, chúng ta học đòi theo cả hành tàng của Ngài, lấy Xuân Thu làm chuẩn thằng lập chí. Tưởng nếu toàn thiên hạ lập chí cho xã hội, phục vụ cho xã hội dường nầy, nhơn loại sẽ hưởng hạnh phúc không lúc nào cho bằng!

2. Đức Lý Nhứt Trấn Oai Nghiêm: đại diện Tiên giáo, mà kiểu vở Tiên giáo trong tinh thần chữ ĐẠO. Đạo là cái sống, cái sống mà thiên hạ đã biết, nhưng mà không hiểu hình trạng và tướng diện của nó, bí mật của nó, thiên hạ nơi thế gian nầy chưa biết.

Bần đạo lấy một tỷ thí như nam nữ phối hiệp nhau, sao lại sanh ra đứa bé? Cái bí mật đó là gì? Trứng gà nếu có trống khi ấp lại nở ra gà con. Cái sống đó là gì? Đức Lão Tử gọi đó là ĐẠO. Đạo ấy trong cái sống tối thiểu, có cái sống tối đại của nó, cũng như cái sống bí mật của ta, đương giờ phút nầy, đương nhiên sống với bạn đồng sanh của ta đây. Ngoài ra cái sống nữa, cái sống bí ẩn thiêng liêng mà Đức Chí Tôn gọi là sống, hằng sống của Ngài ban cho ta, đấy là ĐẠO.

Ấy vậy, Đức Lão Tử dạy cho trí khôn ngoan loài người mở rộng cái sống bí ẩn, sống với vạn linh trong sự sống của CKVT. Các người bảo trọng cái sống của các người thì các người phải cung kính thờ phượng cái sống của vạn linh.

Ấy là Ngài dạy cho ta tôn sùng cái sống, tức nhiên trí não của mình mở mang. Hiểu sống là Đạo, mà người thay quyền cho Lão Tử đặng cầm giềng mối gìn giữ cái mực thước sống của chúng ta cho còn tồn tại đó vậy.

Đức Lý tượng trưng cả trí não tinh thần chúng ta, bảo vệ Đạo, tức nhiên bảo vệ sống còn của nhơn loại vạn linh, thuộc về Khí.

3. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát: Ngài tượng trưng cho Thần của chúng ta. Toàn cả nhơn loại trên địa cầu đều bị quả kiếp, cũng có những Đấng lãnh sứ mạng của Đức Chí Tôn đến giáo đạo, dìu dẫn vạn linh.

Hại thay! 92 ức nguyên nhân cũng vì sứ mạng tối yếu tối trọng ấy, thay vì làm tròn sứ mạng, lại quá ham sống, gây nên tội tình, phải sa đọa. Thành ra ông thầy đến giáo đạo lại trở thành một học trò quá tệ hơn trò nữa.

Hỏi họ (92 ức) có đáng làm người không? Họ có đáng ngồi trong phẩm vị đại hồi hay tiểu hồi, hay vật loại? Cách nào cũng không đúng lắm, nên đạo giáo đặt ra phẩm Magia tức là Quỉ vị, một phẩm riêng biệt.

Đấng Quan Âm thường đến các cửa Phong đô, nơi Cửu tuyền đài kia nhiều lần, lên lên xuống xuống để tận độ thiên hạ. Ngài tượng trưng cho một cơ thể thiêng liêng giải cả oan nghiệt tội tình, giải cả nhơn quả cho chúng sanh đoạt vị, tức nhiên đoạt cơ giải thoát.

Một lần khác, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo tại Đền Thánh đêm 28-6-Mậu Dần (1938) giảng: Tại sao thờ Tam Trấn và cắt nghĩa thờ mỗi Trấn.

"Tại thời kỳ thay đổi, chuyển Tam giáo qui nguyên phục nhứt, cho hiệp với Thiên thơ.

Đức Chí Tôn chọn ba vị Phật, Tiên, Thánh cầm quyền Tam Trấn, thay mặt Tam giáo, giáng cơ lập thành đạo đức.

Bởi Hạ nguơn cận mãn, nhơn vật đổi dời, đạo đức nhơn nghĩa, lý cang thường đều bị lượn sóng văn minh vật chất làm hư hoại. Tam giáo đã thất chơn truyền do nơi tay phàm canh cải, thành ra dị đoan bất chánh, nên Đức Chí Tôn khai Đại Đạo là cơ quan chuyển thế, phục lại Thượng nguơn, cho thuận lẽ tuần hoàn qui cổ.

Ba vị Tam Trấn hiện nay đức hạnh hoàn toàn, đủ tư cách độ đời, rọi gương cho đoàn hậu tấn.

- Đức Lý Đại Tiên, buổi còn tại thế, Ngài làm quan đời nhà Đường, danh lưu ngôn ngữ, đánh đuổi bình giặc bằng tinh thần, chẳng tốn lương thảo tướng binh, mà cả cơ nghiệp đặng hòa bình, bảo an thiên hạ.

Tánh chất của Ngài không thích công danh phú quí, thường ưa vui thú cờ rượu thi ngâm, hưởng cảnh thanh nhàn, non Tiên động Thánh. Ngài phế quan từ chức, mộ đạo tu hành, mới đắc quả một vị Đại Tiên.

Nay là buổi Hạ nguơn chấn hưng Tam giáo, Đức Chí Tôn chọn Ngài cầm quyền Nhứt Trấn Oai Nghiêm, thủ cơ truyền đạo, lập luật pháp nghị định chơn truyền, công thưởng tội trừng, vô tư vô vị, chấp chưởng cơ quan, tạo thời cải thế, đương kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ, thay mặt Tiên giáo.

- Đức Phật Quan Âm, buổi còn sanh tiền, giữ trọn câu trung trinh tiết liệt, mộ đạo đức, chẳng mến cuộc phú quí vinh huê, đủ nghị lực, trọn tâm trải qua nhiều hoàn cảnh khổ sở truân chuyên mà chí tu hành chẳng đổi, Bà mới đoạt thành phẩm vị Nữ Phật Tông Quan Âm Bồ Tát.

Kỳ Phổ Độ thứ ba nầy, thừa lịnh Đức Chí Tôn cùng Diêu Trì Phật Mẫu, cầm quyền Nhị Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Thích giáo, rọi gương bác ái từ bi, tế độ đoàn nữ phái.

- Đức Quan Thánh Đế Quân, Ngài là một vì sao Võ Khúc Tinh Quân thừa mạng Đức Ngọc Đế giáng trần nhân đời Tam quốc phân tranh. Ngài hết dạ tâm thành phò vua giúp nước, diệt tà tôn chánh, khuông phò Lưu Tiên Chúa giúp nên cơ nghiệp Hớn trào.

Ngài giữ trọn Tam cang, Trung, Nghĩa, chánh trực, công bình, đến buổi qui vị thì đặng hiển Thánh, nhờ Phổ Tịnh Thiền Sư đến khai linh, nên đặng phi thăng yết kiến Thượng Đế, mới đắc hàng phẩm Phật Dà Lam.

Nay đến kỳ Phổ Độ thứ ba, Đức Chí Tôn chọn Ngài cầm quyền Tam Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Nho giáo, nắm luật công bình, diệt trừ những kẻ tà tâm phản loạn chơn truyền, phân phe lập phái, làm cho nền đạo đức ra thiệt tướng.

Thuở bình sanh, Ngài thường chú tâm bao biếm thiện ác, chỉ rõ hai đường lành dữ, lại nữa, nhân thời kỳ Nho giáo chuyển luân nên thờ Đức Quan Thánh là roi gương trung nghĩa cho toàn nam phái.

Tam Kỳ Phổ Độ thờ Tam Trấn Oai Nghiêm để thay mặt Tam giáo, đổi cũ ra mới, cho chúng sanh thấy rõ một tấm gương trong lịch sử. Ấy là để cho đời nối chí lập tâm tu hành cho trở nên đời mỹ tục thuần phong, tức là đời Thánh đức, bởi vì Tam giáo qui phàm, thất chơn truyền, nên Đức Chí Tôn chọn.

Tam Trấn cầm quyền vô vi lập Pháp Chánh Truyền, đào tạo đời gọi là chấn hưng Tam giáo.

Tại sao thờ Tam Trấn?

Tại thời kỳ khai Đại đồng Tôn giáo, Nho Thích Đạo qui nguyên, Đức Chí Tôn làm chủ, cầm quyền chưởng pháp cho phù hạp buổi Hạ nguơn tuần hoàn chuyển thế.

Ba vị Tam Trấn chấp chưởng cơ quan mầu nhiệm, trấn nhậm quyền hành, lập luật pháp, Đạo Nghị Định cho hiệp với Thiên thơ.

Vì thọ mạng lịnh của Đức Chí Tôn nên toàn bổn đạo phải để tâm thành kính và phụng thờ Tam Trấn."

Thờ Tam Trấn Oai Nghiêm còn có ý nghĩa là thờ ba thể tánh: Bi, Trí, Dũng.

·Đức Quan Âm Bồ Tát tượng trưng thể Bi: thương xót.

·Đức Lý Thái Bạch tượng trưng thể Trí: sáng suốt.

·Đức Quan Thánh tượng trưng thể Dũng: ý chí mạnh mẽ.

(trích Cao Đài Từ Điển của Đức Nguyên)


---

Nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát:

Đức Chí Tôn giáng cơ cho biết, nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là do Đức Từ Hàng Bồ Tát biến thân.

TNHT. I. 31: "Người ta gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Đạo Nhơn biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương." (Nhà Thương bên Tàu khởi đầu từ năm 1766 và dứt vào năm 1122 trước TL).

Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo nhân ngày Vía Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, tại Đền Thánh, thời Tý ngày 19-2-Kỷ Sửu (1949), cũng có nói như sau:

"Hôm nay là ngày vía của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Bần đạo đã thường nói, nơi cửa Thiêng liêng Hằng sống, Đức Quan Âm Bồ Tát là một Đấng ở trong gia tộc sang trọng và oai quyền hơn hết.

Cái nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là do nơi pháp thân của Từ Hàng sản xuất....."

Do đó, trong Kinh Đệ Bát Cửu có câu:

Cung Tận Thức thần thông biến hóa,
Phổ Đà Sơn giải quả Từ Hàng.

Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, Đức Từ Hàng Bồ Tát chiết chơn linh giáng trần, tu hành nhiều kiếp, cuối cùng đắc đạo tại Phổ Đà Sơn, hiệu là Quan Thế Âm Bồ Tát.

Trong con đường TLHS, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo cho biết, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát vâng lịnh Đức Phật Vương Di-Lạc "chèo thuyền Bát Nhã Ngân hà độ sanh."

"Bần đạo chỉ nói nơi xa xăm của chúng ta đi qua, chúng ta thấy hình trạng Bát Quái Đài, dưới chân có Thất Đầu Xà, và dưới mình của Thất Đầu Xà là Khổ hải, tức là cảnh trần của chúng ta đó vậy.

Bên kia, có liên tiếp mật thiết vô một nẻo sông Ngân hà, rồi Bần đạo chỉ cho hiểu rằng, từ Khổ hải về cảnh Thiêng liêng Hằng sống phải đi ngang qua Ngân hà, có một chiếc Thuyền Bát Nhã của Đức Quan Âm Bồ Tát, vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương Phật, chèo qua lại sông Ngân hà và Khổ hải đặng độ sanh thiên hạ."

Hội Thánh của Đạo Cao Đài chọn ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày thành đạo của Công Chúa Diệu Thiện làm ngày Vía Kỷ niệm Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

Hằng năm, khi đến ngày nầy, tại Tòa Thánh và các Thánh Thất địa phương đều thiết lễ Đại Đàn cúng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, có Chức sắc thuyết đạo nhắc lại công đức và nhiệm vụ của Ngài trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

KINH CỨU KHỔ là bài kinh đặc biệt cầu nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn chúng sanh.

Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có giáng cơ ban cho hai bài Kinh Thiên đạo là:

·Kinh Hạ Huyệt

·Kinh Khai Cửu, Đại Tường và Tiểu Tường.

Trong TNHT, có đăng nhiều bài Thánh giáo của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

Mặt khác, trong Kinh Tam Nguơn Giác Thế, cũng có một bài Thánh giáo của Ngài, xin trích ra sau đây:

Đêm mùng 2 tháng 11 năm Tân Mùi (1931).

                   THI:
Nhựt hoành nhị thập kiến giai thì,
Lục nhựt đạo thành hiệp nhứt chi.
Thứ kỷ thương nhơn tâm bất tại,
Nhị nhơn thê mộc diệt nguyên qui.

Giải rõ thi chiết tự:

Nghe ta giải, khá chép mỗi hàng là 12 chữ:

Hai mươi, chữ Nhựt, chữ Giai hiệp chữ Kiến là chữ: QUAN 觀

Chữ Lục hiệp với chữ Nhứt và chữ Nhựt là chữ: ÂM 音

Chữ Thứ mà bỏ bớt chữ Tâm còn lại chữ: NHƯ 如

Chữ Mộc mà thêm vô 2 chữ Nhơn gọi là chữ: LAI 來

DIỄN DỤ:

Phàm làm người ở thế gian, một kiếp phù sanh, nghĩ lại chẳng bao lâu, tuy số định trăm năm chớ ít người bảy chục, còn e hai nẻo rủi may: Đường may là người nhờ kiếp làm quan trung quân ái quốc, giữ tánh thanh liêm, dạy dân lễ nghĩa, hồi đầu tỉnh ngộ lo tu, đời sau hưởng phước; còn gặp đường rủi là: làm quan chẳng dạ ngay vua, mạnh thế lộng quyền, hữu hoài soán nghịch chi tâm, chẳng giữ thanh liêm, hiếp dân, thâu hối lộ làm giàu, bức hiếp kẻ nghèo mà làm cự phú, chác sự oan gia trái chủ, thời phải bị sanh liễu hựu tử, tử liễu hựu sanh, luân hồi chẳng dứt.

Nay gặp Trời ân xá lần ba, khuyên thiện nam tín nữ lo tu bồi đạo đức mà hưởng phước ngày sau, còn người mộ việc tu hành cũng thành Chánh quả.

Nếu tu thời bỏ hết cuộc giàu sang vui sướng ở thế gian. Hãy biết thế gian, muôn việc đều giả, trăm kế cũng không.

                 THI rằng:
Khán đắc phù sanh nhứt thế KHÔNG,
Điền viên sản nghiệp diệc giai KHÔNG.
Thê nhi phụ tử chung ly biệt,
Phú quí công danh tổng thị KHÔNG.
Cổ ngữ vạn ban đô thị giả,
Kim ngôn bá kế nhứt trường KHÔNG.
Tiền tài thâu thập đa tân khổ,
Lộ thượng huỳnh tuyền lưỡng thủ KHÔNG.
                              Quan Âm Như Lai

Sau đây, xin chép lại một bài Thánh Ngôn của Đức Quan Âm Bồ Tát dạy Đạo cho nữ phái, giáng cơ đêm 3-8-Nhâm Thìn (dl 21-9-1952), trích trong Thánh Ngôn Sưu Tập:

                  THI:
QUAN nam diện duợt chí từ bi,
ÂM đức cứu dân mới đắc thì.
BỒ đạo giềng ba thân nữ độ,
TÁT giang đức cảnh thế nên ghi.

Hôm nay về cùng chư tín hữu phân ưu đạo hạnh, cũng nơi lòng ham mộ cửa từ bi, để mong sao thoát kiếp oan khiên nghiệp chướng, do bởi thế trần tạo nhiều khổ cảnh, mà chúng ta mãi vướng cuộc trầm luân, thì bao giờ rời được cái thân nhi nữ thường tình, nếu không sớm lo giải cứu thì sau nầy hối hận, đừng nói sao trễ bước.

Công bấy nhiêu thì quả bấy nhiêu, chỉ có tâm nhiệt thành đạo hạnh thì cơ siêu thoát mới mong hưởng đặng.

Còn một điểm luyến trần, khó mong cứu độ, chừng ấy ăn năn quá muộn, quí nhứt là sớm ngộ Tam Kỳ mà không lo tròn phận sự thì uổng một kiếp sanh vô lối. Dầu khổ dầu cực, cứ lăn lóc theo cơ Đạo để tạo nghiệp cảnh Hư Vô chi vị.

Nếu Bần đạo nói tận cùng, thiện tín phải kinh tâm mà chớ. Thật sự cõi trần là nơi giam hãm con người vào vòng trụy lạc, lại là kiếp khổ tái sanh.

Nếu không ngộ Tam Kỳ, ở Thiên cảnh ngó nơi trần thế, bắt ngậm ngùi cho thế. Chung quanh đều là ô trược để gạt và quyến rũ con người vào vòng tội lỗi, rồi phải chịu đọa luân hồi, khó mong nhìn thượng giới. Mãi bôn xu danh cùng lợi là điều buộc chặt linh hồn đó.

Dưới thế gian mượn nước gội sầu, chớ toàn đều nhơ uế. Cả Thần Tiên rất sợ cảnh trần nầy lắm, chỉ mượn cớ để giác ngộ, nếu hữu duyên thì tránh được, hầu bước qua cảnh mới, tức là siêu linh đó.

Bần đạo cám ơn và ban ơn cho. THĂNG.

(trích Cao Đài Từ Điển của Đức Nguyên)

 



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả