ÂM HƯỞNG TỪ ĐẢO CORSE (PHẦN 4)
Thầy Vân đứng dậy, trả tiền mua bánh phồng cho Bác Nhựt, rồi nói:
- Anh Nhựt ơi! Mình chuyện trò đã lâu rồi. Xin phép cô Chín và anh, tui về.
Cùng lúc đó, bác Còn, cô Ba, Chuối, và Chét cũng đã sửa soạn xong để về. Bà Chín lấy hai xấp bánh phồng dầy đưa cho bác Còn:
- Cháu bỏ vào giỏ hai xấp này cho Chuối và Chét ăn. Tội nghiệp hai đứa nhỏ quá.
- Cám ơn dì Chín, anh Nhựt và thầy Vân. Bây giờ, tụi tui đưa hai cháu về chợ đây.
Bà Chín vội nói:
- Khoan! Chờ một chút. Ðường về xa quá. Ðể Nhựt đánh xe bò đưa ra chợ cho khỏi mỏi chân.
Bác Nhựt nói:
- Má lại muốn ở nhà một mình nữa sao?
- Ðể mấy đứa nhỏ đi bộ, má thấy tội lắm. Nhựt, con cứ đưa bà con về đi. Nếu trời tối quá, ghé nhà Chín Ốc gởi xe bò, rồi ngủ nhờ ở đó luôn. Khi trời hơi mờ tối phải nhớ đốt đuốc. Có cháu Mai bên hàng xóm qua đây, đọc truyện Phong Thần cho má nghe, rồi ngủ bên nầy luôn. Ðừng lo cho má.
Sau khi bác Nhựt và thầy Vân giúp mọi người lên xe bò xong, bác Nhựt chào bà Chín, rồi lên xe ngồi ở phía trước, ra roi điều khiển cho con bò từ từ đi. Bánh xe chầm chậm, lăn đều trên con đường cát dầy. Thầy Vân cỡi xe đạp, giữ sát bên lề phía tay mặt, thong thả chạy theo. Mọi người im lặng trong cảnh hoàng hôn buồn thảm. Cô Ba và bác Còn đưa mắt nhìn hai đứa trẻ với ánh mắt xót thương. Cha của cô Ba đã đi theo Thiên Ðịa Hội chống Pháp bị mất tích lúc cô Ba chỉ có một tuổi. Năm cô Ba lên năm, mẹ cô cũng đã qua đời. Bị côi cút ngay từ tuổi còn thơ, cô phải sống nương dựa nơi bà con bên ngoại, nên cô chia xẻ trọn vẹn tình cảnh bi đát của các trẻ mồ côi. Gia đình bác Còn không có con. Sau khi bác Còn trai qua đời, bác gái tuy chật vật, túng thiếu nhưng vẫn gồng gánh lo cho Chuối và Chét với sự giúp đỡ phần nào của các cô bác trong làng.
Bấy giờ thằng Chét, cổ được quàng khăn cẩn thận, ngồi dựa vào người bác Còn, mắt hơi nhắm lại để dưỡng sức, nhưng vì quá mệt mỏi, đã chìm vào dần vào trong giấc ngủ. Còn thằng Chuối ngồi trên xe bò, không còn bận tâm đến em nó nữa, nhớ lại chuyện bị hai Tia hồi trưa đánh đập tàn nhẫn, cơn tức giận dâng trào. Nó là một đứa trẻ dễ thương, ngoan ngoãn, thông minh, nhưng mang bản tánh bất khuất trước mọi áp bức tàn bạo. Ðến chỗ bụi tre xanh rậm rập, cỏ cao cháy vàng khô, nó hồi tưởng lại năm xưa ba nó dẫn nó đến nơi này, dùng dao chặt tre, làm diều, dạy nó thả diều, và chơi diều với nó. Còn má nó tuy có thai thằng Chét nhưng cũng cố gắng lội xuống cái đìa gần đó, bắt cá trê về nướng, giầm nước mắm ớt, cho thêm rau thơm vào cho nó ăn, vì biết nó thích món này. Ðột nhiên tay nó nắm chặt lại, mặt hằn lên sự đau đớn, kinh hoàng. Ba má nó nay không còn nữa. Ba má nó đã bị giết chết một cách thảm khốc. Hình ảnh này không thể phai nhòa trong tâm trí nó dù lúc đó nó mới bảy tuổi và thằng Chét mới hơn một tuổi. Nó nhớ rất rõ cái ngày u ám đó, nhớ rõ từng khuôn mặt, từng cử chỉ, từng giọng nói, từng dáng điệu của những kẻ đưa bàn tay đẫm máu giết cha mẹ nó.
Cảnh tàn bạo này xảy ra tám năm về trước. Sau khi đoàn quân viễn chinh trong đó có một số lớn là biệt kích Pháp bị mai phục và thảm bại nặng nề ở rừng Cái Muồng gần làng Lộc Thuận, mọi người trong làng sống gần khu rừng này đều bị xem là có liên hệ với kháng chiến. Tất cả đàn bà và trẻ con nơi này phải sắp thành bốn hàng, trước mỗi hàng là một cây súng liên thanh đã lắp sẵn một băng đạn dài, chờ lệnh tàn sát tập thể. Ðoàn quân viễn chinh này hễ gặp đàn ông trong làng không cần biết thuộc thành phần gì, cứ ra tay bắn bỏ, vì các đồn bót trong làng này đã bị lực lượng kháng chiến về triệt hạ từ tuần qua. Chúng đã lầm to vì những người thuộc lực lượng kháng chiến dưới sự chỉ đạo của một đàn em của ông Trần Ðại Thể là Mười Hổ, luôn luôn di động để bảo toàn lực lượng, khi ở thế tĩnh thì ẩn núp an toàn dựa trên địa thế, khi ở thế công thì phải có đầy đủ yếu tố tất thắng về ưu thế chọn lựa thời gian và địa điểm mới hành động. Vì vậy, chúng chỉ ra tay giết chết những người đàn ông thực sự là dân trong làng, vì bận bịu con thơ hoặc vì bịnh hoạn không trốn chạy kịp vào rừng Cái Muồng, hoặc chạy qua bên cù lao nằm về phía Bắc của làng Lộc Thuận. Ba của thằng Chuối là chú Tám Hiền rủi ro nằm trong nhóm người đàn ông xấu số này. Chú Tám Hiền ngồi chui rúc ở giữa bốn bó lá dừa trong cái chòi nhỏ sau nhà, nơi chỉ chứa những nông cụ sơ sài, củi, và mồi nhóm lửa. Nhìn qua, ai cũng biết là chòi này không chứa đồ gì quý; và trước kia chú Tám Hiền đã trốn an toàn nơi này vài lần khi lính Pháp ruồng bố làng Lộc Thuận. Nhưng lần này không may cho chú chút nào. Một tên lính biệt kích Pháp gốc Phi Châu, sau màn bắt bớ, giết người, xông vào nhà chú (dù nhà chú chẳng khá giả gì) gấp gáp lục lạo xem có gì để vơ vét, cướp bóc không. Sau khi đi sơ qua một vòng trong nhà, thấy chẳng có gì đáng giá để lấy, tên này gầm lên, đưa bá súng đập bể lu gạo. Gạo vung vãi, tung toé ra ngoài. Hắn mang giày đi trên gạo đang nằm trên nền đất, cày đi, cày lại cho gạo trải rộng ra, vì đồng bọn cho hắn biết có khi chủ nhà giấu vàng trong lu gạo. Phải vơ vét cho nhanh để còn ra tập họp , nhưng hắn ta thất vọng vì chưa thấy vàng bạc đâu cả. Trở ra phía trước nhà, thuận tay, hắn dùng lưỡi lê ở đầu cây súng, đẩy lư hương nhang ở bàn thờ Thần Tài, bàn thờ ông Quan Công, và bàn thờ ông bà qua một bên, rồi sờ soạn phía dưới, nhưng rồi cũng thất vọng chẳng tìm được gì đáng giá. Hắn đi về phía sau nhà, mở cửa ngó ra phía sân sau. Thật là vắng vẻ, im lìm. Chả có gà, vịt , heo, bò gì hết. Sân sau dơ bẩn, bề bộn, đàng cuối có một cái chòi nhỏ xíu. Hắn nhìn sơ vào chỉ thấy có củi và mấy bó lá dừa khô. Hắn đã vào nhà lâu rồi, thấy nhà này nghèo quá, chẳng kiếm ăn gì được hết, hắn có ý trở ra ngoài, không lục lạo nữa. Tức quá, hắn tru tréo to lên một hàng dài câu chửi thề bằng tiếng bản xứ của hắn. Không biết chú Tám Hiền vì bị xui xẻo hay vì quá run sợ, một bó lá dừa bên cạnh chú lúc đó ngã xuống. Tên lính biệt kích bất ngờ phát hiện có người trong cái chòi chứa củi. Hắn ta hoảng hồn đưa súng lên vai bắn chú Tám Hiền hai phát, rồi nhanh nhẹn núp sang một bên. Cả hai phát đạn đều không trúng mục tiêu, nhưng chú Tám Hiền, mặt xanh mét, hai tay đưa thẳng lên trời, từ từ rời nhà chòi bước ra ngoài. Tên biệt kích rời chỗ núp, xấc láo ra dấu cho chú Tám Hiền bước mau về phía hắn. Sau đó, hắn theo sau chú Tám Hiền, mũi súng chỉa sau lưng, chân đạp vào mông chú, buộc chú phải bước mau ra ngoài ngõ. Vừa ra ngoài, hắn thấy một tên sĩ quan chỉ huy Pháp đã oai vệ có mặt ở đó. Một con chó săn khỏe mạnh, hung tợn và vài tên biệt kích gốc người Algérie và Maroc đứng gần bên. Cách đó chừng mười thước, bốn hàng dài gồm đàn bà và trẻ con đang chờ lệnh trên cho biết sẽ tha hay bị tàn sát tập thể. Khi chú Tám Hiền vừa bị đẩy ra ngoài, tên chỉ huy Pháp hơi ngạc nhiên, vì sau khi săn lùng và giết nhiều người đàn ông trong làng, lại còn người này nữa. Tên chỉ huy sắc mặt lạnh lùng, nhìn tên biệt kích gốc Phi Châu, rồi quay lại vỗ đầu con chó săn đang đứng thè lưỡi đỏ lòm. Tên biệt kích gốc Phi Châu bước ra trước mặt chú Tám Hiền, hai tay và hai chân loai choai, làm dấu cho chú hiểu là phải chạy. Chú đang ngơ ngác thì tên này trở lại phía sau lưng chú, tay đưa súng lên vai, chân đạp mạnh vào mông chú. Chú chúi nhũi về phía trước thì nghe một tên lính gốc Á Châu, la to bằng tiếng Việt:
- Chạy! Chạy đi!
Chú Tám Hiền không kịp suy nghĩ gì nữa, bắt đầu chạy như điên về hướng Ðông, phía làng Tân Ðịnh. Chú chạy mới được năm bước, tên biệt kích gốc Phi Châu bấm cò. Một viên đạn bay ra trúng vào đùi trái cuả chú, nhưng chú vẫn khập khễnh tiếp tục chạy được. Một viên đạn thứ hai do một tên biệt kích thiện xạ khác bắn trúng đầu chú Tám Hiền, sọ bị vỡ, óc văng ra tung tóe. Chú chỉ lảo đảo được thêm một bước nữa, rồi ngã xuống đất, giẫy đành đạch,tắt thở. Màu đỏ và trắng của óc lẫn máu tươi chan hòa trên mặt đất. Con chó săn được ra hiệu, lao vút đến thật nhanh, ăn óc và liếm máu trên người chú Tám Hiền ngon lành. Cảnh săn người vô tội như săn thú vật, cho chó săn ăn óc, uống máu người diễn ra trước mắt thím Tám và một đám đông gần một trăm bốn mươi người đàn bà, trẻ nhỏ đang bị đứng chờ tàn sát tập thể. Thím Tám đau lòng và tức giận vô cùng. Thím tay run run trao thằng Chét cho bác Còn đang đứng gần đó:
- Chị Còn ơi! Chị bồng giùm tui thằng Chét. Nếu tui có bề nào, chị lo giùm hai đứa nhỏ. Chị thương tui, chị nhớ lời tui hôm nay nhen chị.
Nước mắt thím Tám ràn rụa trên mặt. Tay vuốt tóc thằng Chuối, thím nghẹn ngào:
- Chuối ở đây với cô bác nhen. Ðừng ra ngoài đó nguy hiểm. Má thương con lắm ...
Thím đâu ngờ thằng Chuối, khác em nó, tuy mới bảy tuổi đầu đã hiểu biết, nhận xét, linh cảm sự việc xung quanh một cách bén nhạy. Cảnh tượng ba nó bị chết thảm đã gây cho nó kinh hoàng lẫn thù hận. Thím Tám vừa chạy ra thì nó lon ton chạy theo ngay. Mọi người xung quanh giữ nó lại thì nó không khóc, nhưng giãy dụa dữ dội, chồm theo má nó. Thím Tám ngoái cổ lại:
- Chuối! Không nghe lời má, má sẽ buồn đó. Cứ đứng yên đó, chờ má.
Chuối nghe lời thím Tám, miễn cưỡng đứng lại. Chạy nhanh ra ngoài, tóc rối xõa tung ra như một người điên, thím Tám tiện tay lượm một hòn đá lớn bằng bàn tay để xua đuổi chó vì không nỡ nhìn thấy thi thể chồng bị chó tiếp tục cắn xé sau khi bị ăn óc và uống máu. Bất ngờ đàng sau thím, có một bàn tay nắm tóc thím giựt mạnh lại; và tiếng huýt sáo kêu chó săn đến tấn công thím. Bị đau điếng người, thím quay lại, nhận ra ngay tên lính gốc Phi Châu, kẻ đầu tiên hành hạ chú Tám, đưa răng trắng nhỡn đang nhìn thím cười hung ác. Bao nhiêu oán hận dâng lên đầu ngùn ngụt, thím dùng hết sức bình sinh ném mạnh hòn đá vào con mắt bên phải của hắn. Con mắt hắn bị vỡ, lòi ra ngoài. Hai tay hắn buông rơi súng xuống đất và ôm lấy mặt. Hắn rú to lên đau đớn, máu đỏ đã chảy ướt bàn tay phải của hắn. Cùng lúc đó, nhiều phát đạn của các tên lính khác bắn xối xả vào thím Tám. Trước khi ngã gục xuống tắt thở, thím đã xoay người được về hướng xác chết của chú Tám, hai tay chồm về phía trước như một nỗ lực cuối cùng mong khi chết được ở bên nhau...
Nhớ đến đó, thằng Chuối đang ngồi trên xe bò, khóc hồi nào không hay, nước mắt chảy dài trên má. Nó cố nén sự cảm xúc, ngực cứ phập phòng lên xuống như bị ngộp hơi. Cô Ba tinh ý, lên tiếng:
- Chuối! Ðừng khóc nữa. Chuối có muốn ăn bánh phồng bây giờ không? Bánh này không nướng vẫn ăn được, tuy không ngon lắm.
Chuối lắc đầu, tâm tư lại quay về cảnh ba má nó chết thảm thương ngày hôm đó. Hôm đó, nó đã vùng vẫy nhiều lần để chạy ra, nhưng những người xung quanh ghì chặt nó lại. Tức quá, nó đấm vào ngực nó, gào thét thất thanh, chân dẫm bình bịch, nước mắt nước mũi đầy mặt, đầy ngực. Những người đàn bà xung quanh nó quá xúc động, sụt sùi khóc, và lấy khăn chùi nước mắt. Thấy hơi ồn, tên chỉ huy người Pháp từ từ bước tới, nét mặt cau có, tay chống nạnh, mắt trừng trừng nhìn vào đám đông. Thái độ tên này như có ý muốn giết hết đám người trước mặt cho đã giận. Mọi người im bặt, trừ thằng Chuối lúc đó vẫn tiếp tục kêu gào, lồng lộn. Tên chỉ huy rút roi da dùng để huấn luyện chó ra, hầm hừ tiến về phía thằng Chuối. Bỗng có một tên lính thuộc đội truyền tin chạy đến:
- Thưa Thiếu Úy La Fayette, lịnh trên bảo phải tha mấy người dân gồm đàn bà, trẻ em này ra. Tập họp đơn vị và di chuyển về Bình Ðại để được ghi công và khen thưởng.
- Cái gì? Tha đám súc vật này ư?
- Ðó là lịnh của Ðại Uý Le Roi, chỉ huy trưởng của chúng ta. Có lẽ thân mẫu của Ngài đã can thiệp, không cho tiến hành cuộc tàn sát này.
- Nhưng Ðại Úy Le Roi chỉ làm vui lòng mẹ tạm thời thôi. Ðã mấy lần thả những kẻ giam giữ ra lúc ban ngày cho mẹ vui lòng, nhưng tối thì cho bọn mình bắt lại. Tha cửa trước, lại lùa vào cửa sau. Ðâu cũng vào đó thôi.
La Fayette vừa dứt lời thì một chiếc xe Jeep lao nhanh đến và thắng gấp. Le Roi, một sĩ quan đẹp trai, thông minh, tác phong uy nghiêm, từ trên xe thong thả bước xuống. La Fayette nghiêm túc chào kính, hấp tấp lo tập họp lính cuả hắn lại cho chỉnh tề trong đội ngũ trước mặt Le Roi để được ban huấn lệnh. Le Roi dõng dạc nói:
- Thiếu Úy La Fayette! Cấp trên ghi nhận công trận diệt địch hôm nay của Thiếu Úy và đơn vị do Thiếu Úy điều khiển. Những người dân sắp hàng ở đây được tha cho về nhà, nhưng không được tiếp xúc với những người chống lại chính phủ. Nếu không, sẽ bị trừng trị. Còn trung đội của Thiếu Úy, di chuyển ngay về Bình Ðại.
- Tuân lệnh!
Những người bị sắp hàng đến lúc bấy giờ mới biết họ đã thoát chết thực sự. Họ giải tán trong trật tự. Bác Còn ẵm thằng Chét về nhà để săn sóc, nhưng ba má đã mất, trên đường về, nó cứ khóc và nhắc hoài. Cô Ba nhờ bà con trong làng lo việc dọn dẹp sạch sẽ thi thể của chú thím Tám, rồi dẫn thằng Chuối về nhà bác Còn. Thằng Chuối không ăn ngủ được trong hai ngày liên tiếp bị sốt nặng ...
Ôi! chuyện dĩ vãng đầy máu, nước mắt này đã không chết lịm, đã không trôi đi mất biệt theo dòng thời gian chảy về quá khứ. Tám năm qua cảnh rùng rợn đó vẫn còn đây, vẫn còn nằm trong tâm trí của một thằng bé côi cút đã được mười lăm tuổi đời. Ðời nó là bóng đêm, là nỗi ám ảnh đau buốt không ngừng nghỉ. Cuộc đời đó đang âm u hơn buổi hoàng hôn sắp tàn trước mắt. Sống lây lất, nương dựa nơi nhà bác Còn, với một tình thương vô biên của bác, thằng Chuối cũng đã xong các lớp học ở trường làng, biết làm văn, biết làm toán đố khó, và một chút Pháp ngữ là thứ tiếng mà nó căm thù, chỉ học lấy lệ. Nhiều người nghĩ nó là thằng con nít bị chiến tranh làm cho khật khùng. Nhưng thầy Vân thì nghĩ khác vì thầy nhận xét những bài luận văn mà nó đã làm rất là tình cảm và sâu sắc. Sau khi hết trường làng, nó nghỉ học, giữ trâu, phụ trồng cây, ruộng rẫy, bắt cá, mò tôm cua để phụ bác Còn mưu sinh, và lo cho thằng Chét em nó. Dù còn nhỏ tuổi nhưng nó đã thông thạo và rất tỉ mỉ về những việc làm này. Bác Còn và cô Ba rất thương nó vì nó rất hiếu để với cô bác trong làng, lúc nào cũng nhường nhịn thương yêu kẻ yếu đuối. Nhưng khi nghĩ về tánh tình bất khuất cuả nó, cô Ba và bác Còn không chắc đó là điều tốt hay xấu cho nó. Nhiều trường hợp xảy ra đã cho cô Ba và bác Còn thấy là bất lợi cho nó, vì với lòng bất khuất, nó không chịu nổi trước sự đè nén, áp bức. Riêng trong tình cảm sâu xa của nó, niềm hạnh phúc mang đến từ thông cảm, thương xót, an ủi, vỗ về của bác Còn, cô Ba, bà Chín, bác Nhựt, thầy Vân, và các cô bác khác trong làng rất cần nhưng chưa đủ. Còn một cái khác mang tác dụng rất lớn mà tất cả những người trong làng không ai có thể chia xẻ với nó được. Ðó là nỗi đau cả đời vì sự mất cả cha lẫn mẹ, vì loài người đã bày ra cảnh săn người trước mặt người với hình ảnh quá kinh khiếp, vì mối căm thù ngấm ngầm trước áp bức chưa được giải tỏa. Xe bò vừa tiến đến một khúc quanh có nhánh cây mù u nhô ra mờ nhạt. Tiếng gió hú vọng từ lùm cây đen sẫm nơi có dạng cây khế cao in hình lờ mờ trên nền trời xám. Một cụm mây màu máu bầm đang bay lượn như một oan hồn đang hiển hiện. Bụi cát cứ liên tục bốc lên, đáp xuống như diễn tả môt nỗi uất ức nào đó. Ba má thằng Chét đã bị giết ở chỗ này. Nhà tranh, vách đất của họ năm xưa ở khu đất vuông vắn phía bên trong, gần cây khế. Nơi này thằng Chuối và Chét hơn tám năm trước đây đã sống ấm êm với ba má, nay không còn nữa. Bây giờ, nhìn cảnh cũ, Thằng Chuối nghiến răng cồm cộp, mồ hôi rịn ra. Nó co chân nhảy gọn gàng xuống lớp cát dày dưới xe bò. Cô Ba đưa tay níu lại nhưng không kịp. Thằng Chuối huỳnh huỵch chạy, nhảy qua các lùm bụi dễ dàng, nhắm hướng cây khế mà chạy. Bác Nhựt dừng xe bò lại. Thầy Vân quăng xe đạp xuống đất, quay lại nói với bác Nhựt:
- Anh ở lại với chị Ba, chị Còn lo cho thằng Chét. Không nên đi nhiều người.
Thầy Vân vừa chạy vừa kêu:
- Chuối ơi! Trở về nhà Chuối. Trời sắp tối rồi. Nguy hiểm lắm!
Mọi người bây giờ mới thấy tài nhanh nhẹn của thằng Chuối. Thầy Vân còn loay hoay chưa đến gốc cây mù u, mà thằng Chuối đã rời khỏi chỗ đó, chạy vào bên trong từ lâu rồi. Thầy Vân khổ sở , lúng túng trước bao lùm bụi thì thằng Chuối đã đến cây khế. Nó nhìn quanh. Căn nhà và cái nhà chòi đã hoang phế, chỉ còn nền đất điêu tàn trên đó. Nó nằm úp mặt dưới gốc khế khóc òa. Nó bỗng giật mình vì có một bàn tay đang nhẹ nhàng vuốt lưng nó. Một giọng nói trầm trầm vừa đủ nó nghe:
- Chuối! Ðừng sợ cháu. Chú Năm Ðằng đây.
Nó quay nhìn lại, nhớ ra chú Năm Ðằng, người thường chỉ nó các bí quyết làm ruộng rẫy, bắt cá, giăng câu ở ngoài đồng. Trong bóng tối mờ mờ, nó hơi thoáng sợ, không biết đây là chú Năm thật hay là ma đây. Nó ngồi dậy mau lẹ, và nhích ra phía sau.
- Chú Năm đây, không phải ma đâu. Ðể đánh Tây báo thù cho cha mẹ, cho quê hương, cháu hãy theo chú. Kháng chiến sẽ lo cho cháu. Lẹ lên!
Như một cái máy, thằng Chuối đi theo chú Năm Ðằng, đi một quãng đến một hồ sen. Trong bóng tối, chú Năm Ðằng xuống nước trước, đỡ nó xuống nước sau. Chú dìu nó đi chừng bảy bước, dặn nhỏ nó nín thở, lặn xuống, rồi nhảy qua một chỗ trống trải, khô ráo, dưới lòng đất. Chú Năm Ðằng nói:
- Lẽ ra lực lượng kháng chiến đón cháu vào từ lâu, nhưng thấy cháu còn nhỏ quá. Năm nay cháu đã mười lăm tuổi rồi. Vả lại, cháu còn ở ngoài thì khổ cho cháu lắm. Cháu chạy vào đây cũng là một cơ duyên, để cháu gia nhập sớm hơn.
Thằng Chuối vừa trải qua mọi việc kỳ lạ, nhưng thấy cũng thích thú. Nó lại nhớ thằng Chét, em nó:
- Cháu chịu theo kháng chiến, nhưng còn Chét, em cháu, ai lo đây. Bác Còn già rồi, có cháu ở nhà cũng đở tay chân.
- Kháng chiến sẽ lo việc đó. Em cháu sau này cũng sẽ có dịp gặp cháu thôi.
- À này! Chả lẽ, hai chú cháu trốn dưới đất như vầy lâu quá rồi ngạt thở chết làm sao chú.
Chú Năm Ðằng mỉm cười. Chú vói tay mở nhẹ sau lưng. Một lỗ rộng đủ một người chun qua. Chú nói:
- Qua bên này, hai chú cháu lấy khăn lau khô mình mẩy. Thay đồ xong, chú dẫn cháu theo một địa đạo dài, ăn thông đến bờ sông. Từ đó mình sẽ có người đưa đi chỗ khác.
- Cháu nghe tiếng thầy Vân gọi cháu và thấy thầy chạy theo. Làm sao cho thầy trở về êm thắm? Làm sao bác Còn yên ổn với hai Tia và Quản Xong đây?
- Có người nói chuyện khéo cho thầy Vân về nói lại với bác Còn và bác Nhựt. Lỡ rước cháu đi đường này, điạ đạo này kháng chiến sẽ không dùng một thời gian rất lâu. Thôi chú cháu mình qua bên kia thay đồ rồi lên đường.
Trong khi chú Năm Ðằng và thằng Chuối trốn dưới địa đạo, thầy Vân rốt cuộc cũng cố gắng đi được đến nền đất hoang gần cây khế. Ðảo mắt nhìn quanh, thầy không thấy bóng dáng thằng Chuối ở đâu cả. Bóng mờ tối bao quanh. Không khí lạnh lẽo, rờn rợn, có vẻ ma quái. Thầy Vân run giọng kêu:
- Chuối ơi! Về Chuối ơi!
Không nghe tiếng thằng Chuối trả lời, nhưng thầy cảm thấy sau lưng thầy có tiếng động nhẹ. Quay lại, thầy thấy trong bóng tối mờ mờ, một người mặc toàn bộ màu đen, cao lớn, đang đứng nhìn thầy. Rõ ràng người này không phải là thằng Chuối. Thầy Vân run lên vì sợ hãi.
- Xin thầy đừng sợ. Cháu Chuối sẽ được kháng chiến chăm sóc. Cháu có lòng thương người, can đảm, thông minh, và tình nghĩa. Sau này cháu sẽ là châu báu của kháng chiến. Và trong tương lai, sẽ lãnh đạo kháng chiến. Ở ngoài đó, không có lợi cho cháu. Kháng chiến muốn rước cháu đi vào mật khu từ lâu, nhưng thấy cháu còn nhỏ. Thôi nay cũng là cơ hội tốt. À, xin nhờ thầy điều này. Khi ra ngoài, thầy trấn an bà con ngoài xe bò, rồi nghĩ lời khéo léo để sau này chị Còn khỏi bị tai hại về tay bọn làng xã ác ôn.
- Tui xin hứa giữ kín chuyện hôm nay và hết lòng nghe lời kháng chiến.
- Cám ơn thầy. Sau việc này, anh em kháng chiến chúng tôi sẽ không tụ họp về vùng có tiếng là có ma quỷ này để khỏi bị địch theo dõi.
Thầy Vân từ giã đi ra ngoài, đến chỗ xe bò, nói rất nhỏ, dặn dò bác Nhựt. Bác Nhựt chăm chú nghe và gật đầu luôn. Sau đó thầy Vân lặng lẽ đi dựng chiếc xe đạp của thầy lên. Bác Nhựt bắt đầu thì thầm với bác Còn và cô Ba, mặt tỏ vẻ nghiêm trọng. Xong bác Nhựt đốt đuốc lên, vội vã ra roi cho xe bò đi về hướng chợ. Thầy Vân cũng lên xe đạp chạy theo.
---------------------- CÒN TIẾP PHẦN 5 --------------------
Nơi ngõ xưa, tâm thức gợn mây.
Một vùng u tối thoáng sương phai.
Nghe tiếng thời gian chìm hư ảo,
Nghe sóng biển khơi gọi lưu đày.