ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH
(BÁT THẬP THẤT NIÊN)
---O---
NHƠN NGHĨA
● NHƠN bố tứ phương ĐẠI ĐẠO dĩ NHƠN hưng XÃ TẮC
● NGHĨA ban vạn đại TAM KỲ trọng NGHĨA chấn SƠN HÀ
Đôi liễn NHƠN NGHĨA đề ở trước mặt Đền Thánh, trên lầu
Hiệp Thiên Đài, đại ý:
● Toàn Thế Giới biết THƯƠNG yêu nhau, nền QUỐC ĐẠO
Chỉ có THƯƠNG mới ĐẠI ĐỒNG THIÊN HẠ,
● Lấy thân mình GIÚP thân nhơn loại, duy KỲ BA
Do cơ quan PHỤNG SỰ ắt THÁI BÌNH TỰ TRỊ.
………………………
Ba bài, trong tinh thần
TAM THẬP LỤC THIÊN:
1- BỨC TÂM THƠ của Ngài BẢO ĐẠO Hồ Tấn Khoa.
2- THÍCH CA ĐẠI ĐÀN – O GIỜ TIN MỪNG.
3- NHƠN NGHĨA.
- Thanh Liên Bửu Sắc -
------------------------------------------
BÀI: I
--------
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Ngũ Thập Tứ Niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH
---o---
BỨC TÂM THƯ
“Của Bảo Đạo Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài”
Ngày 18-3- Kỷ Mùi (dl: 14-4-1979)
Kính gởi chư Chức Sắc Hiệp Thiên Đài.
Kính Chư Hiền Đệ.
Trước cuộc biến thiên trong cửa Đạo hiện nay, do ảnh hưởng của cơ Đời, có một số Chức Sắc Hiệp Thiên Đài tỏ ra hoang mang lo sợ không biết việc cải tổ cả cơ cấu tổ chức hành chánh Đạo có phạm đến luật pháp chơn truyền của Đạo hay không và làm như vậy có tội gì với Ngọc Hư Cung hay không?
Đặc biệt việc giải tán Bộ Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài làm cho số Chức Sắc đó càng thắc mắc lo âu hơn, vì họ thấy từ nay cách làm việc của họ buổi trước không còn thi thố như cũ nữa và như vậy họ sẽ mất hết quyền hành đối với Chức Sắc và Bổn Đạo ở địa phương và họ không còn phương tiện bảo vệ luật pháp chơn truyền của Đạo. Tôi rất thông cảm cảnh thắc mắc lo âu của mấy em đó vì đây là một việc chưa từng có từ khi mở Đạo đến giờ.
Nếu nói đến việc phạm luật Đạo, đặc biệt là Đạo Luật năm Mậu Dần thì điều đó hẳn có. Nhưng nói việc làm đó có tội hay không thì hẳn là không có tội với Thiêng Liêng, vì việc làm đó là do lịnh của nhà nước không thể bất tuân đặng. Chúng ta là người tôn giáo, nhưng vẫn là công dân của nhà nước thì phải tuân hành tất cả luật lịnh của nhà nước, thậm chí nếu nhà nước ra lịnh giải tán Hội Thánh đóng cửa Tòa Thánh và các Thánh Thất chúng ta có cải lại đặng không? Chúng ta không phải bạc nhược, yếu hèn nhưng chúng ta nên biết rằng dầu cho một mãnh lông, một hột cát cũng không ra ngoài luật thiên điều thì việc cộng sản về cầm quyền trị thế trong cả nước cũng không ngoài luật thiên điều.
Như vậy nếu chúng ta chống lại nhà nước hiện nay thay trời trị thế thì chẳng khác nào chúng ta chống lại thiên điều, mà chống lại thiên điều thì không phải dễ đâu! Còn thuận theo thiên điều mặc dù theo thực tế trước mắt có phần trái với việc làm từ trước, nhưng đối với Ngọc Hư Cung ắt là không tội. Nói cho cùng thoảng như việc giải thể các cơ cấu tổ chức hành chánh Đạo có đắc tội với Thiêng Liêng đi nữa thì tội đó chỉ qui về cấp lãnh đạo của Hội Thánh ra lịnh trong khi các cấp dưới chỉ biết thừa hành mà thôi, nên không thể khép cấp thừa hành vào tội nào hết, mấy em biết sợ tội không lẽ cấp lãnh đạo đàn anh không biết sợ tội hay sao?
Hiểu như vậy, tôi thiết tha kêu gọi tất cả Chức Sắc Hiệp Thiên Đài cũng như Cửu Trùng Đài và Phước Thiện và luôn cả Chư Tín Hữu nên cùng nhau đi một đường, nghe một tiếng, nhứt tâm nhứt trí, hiệp đồng chư môn đệ trọn tuân hành theo lịnh của Hội Thánh thì sẽ được vững tâm yên trí rằng chi chi cũng có đàn anh, dầu không tỏ ra chống đối nhưng tự tách mình đứng ra ngoài cuộc, thụ động và không chịu hiệp đồng cùng chư môn đệ thì tự mình gánh hết trách nhiệm về bước đường lập vị của mình không thể đổ thừa rằng không có ai nhắc nhở và chỉ bảo.
Về mặt pháp lý tôi nhơn danh Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài đã chỉ rõ và qui trách nhiệm rõ ràng rồi nên ước mong rằng không còn điều chi thắc mắc. Riêng về việc thi hành nhiệm vụ của Chức Sắc Hiệp Thiên Đài thì lẽ dĩ nhiên trong việc thay cũ đổi mới của cơ chuyển thế từ thời kỳ lập công, qua thời kỳ lập đức, chức năng và phương châm hành đạo của tất cả mọi người dầu cho Chức Sắc hay Chức việc hoặc Tín Hữu cũng đều đổi mới như trong lời kêu gọi chung số 6/HĐCQ ngày 07-3 Kỷ Mùi. (3-4-1979) của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chớ không phải riêng cho Cửu Trùng Đài và Phước Thiện đâu.
Vậy thì chư Chức Sắc Hiệp Thiên Đài mấy em phải nên sớm tỉnh giác tự mình giải hết chứng bịnh trầm trọng chung hiện nay của tất cả Chức Sắc là bịnh “QUAN LIÊU” một phần không ít Chức Sắc Hiệp Thiên Đài lãnh phận sự Pháp Chánh thường coi mình như ông “Quan Tòa” ở ngoài đời và chỉ có biết “trị” bằng cách ngưng quyền giáng cấp hay trục xuất, chẳng khác nào như một cái máy chém chỉ biết sát phạt mà thôi chớ không nhớ rằng vai tuồng chánh của Hiệp Thiên Đài là lập vị và bảo trọng ngôi vị cho người khác, chớ không phải chờ có dịp để cất vị của họ.
Thường khi, lại nghĩ sai ý nghĩa lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng, như câu “chẳng ai qua luật mà Hiệp Thiên Đài không biết” hoặc câu “không có điều bất công nào mà Hiệp Thiên Đài không biết” rồi từ chữ không biết rồi hiểu ra là không trị vì nghĩ rằng hể biết là phải trị liền.
Trái lại chức năng của Hiệp Thiên Đài là lập vị và bảo trọng ngôi vị cho Chức Sắc hay Chức việc là khi mình biết thì tìm cách sửa đương, nhắc nhở, khuyên dạy cách nào cho người sai lầm trở lại đường ngay nẻo chánh, chừng nào quá lắm không sửa đương đặng mới đem ra trị cho trọn câu “tiên giáo hậu trị”. Có người hỏi, nói vậy có mâu thuẩn với lời dạy của Thiêng Liêng là “nên thì để hư thì bỏ” hay không?
Xin trả lời không có gì là mâu thuẫn, vì trước tiên phải cố gắng dạy dỗ, sửa đương đến chừng không sửa đặng thì phải nhứt quyết hư thì bỏ hẳn chớ không nên dung dưỡng lưng chừng như trường hợp bao nhiêu người bị trục xuất ra khỏi Đạo nhưng vẫn sống phây phây trong cửa Đạo.
Ngoài ra các Chức Sắc Hiệp Thiên Đài thường cho mình có bổn phận bảo thủ luật pháp chơn truyền của Đạo, nhưng chỉ hiểu với ý nghĩa đã qui định trong Đạo Luật năm Mậu Dần nơi chương thứ tư về “Tòa Đạo” là:
1- Luật: là Tân Luật và Luật Hội Thánh.
2- Pháp: là Pháp Chánh Truyền và Đạo Nghị Định.
Nhưng đó chỉ là những khuôn khổ những hàng rào để cho mọi Tín Hữu Cao Đài phải đi trong khuôn viên trật tự và giữ quyền hành của Hội Thánh. Ngày nay tuổi Đạo đã quá 50 rồi, trình độ học vấn phải lên cao hơn chẳng khác nào chúng ta học mãn niên học lớp một nay được lên lớp hai. Bài vở cũ không phải bỏ hết nhưng không lập lại và bắt đầu học bài vở mới, làm bài vở mới. Chúng ta không vì đó mà đòi phải làm bài cũ hoài để đứng mãi một chổ không tiến bộ cho theo kịp trào lưu hay sao? Với nhận định đó, nếu chúng ta tìm hiểu ý nghĩa chơn truyền luật pháp một cách rộng lớn hơn thì chơn truyền của Đạo Cao Đài là lý chơn chánh của cơ tạo đoan từ vũ trụ đến nhơn sanh trong khuôn luật bác ái và công bằng.
Vậy lý chơn chánh đó là gì? Chẳng có chi lạ hơn câu kinh: “Hiệp âm dương hữu hạp biến sanh” trong bài Phật Mẫu Chơn Kinh tức là chỉ có sự Hòa Hiệp âm dương mà biến ra cả càn khôn vũ trụ và chúng sanh. Chơn truyền của Đạo Cao Đài hiện nay cũng phải hiểu không ngoài lý chơn chánh đó, tức là lấy sự Hòa Hiệp trong Tình Thương mà phổ truyền đặng thiệt hiện Cơ Cứu Khổ về mặt thế và một Chánh Giáo về mặt Đạo tiến lên lập đời Minh Đức Tân Dân Huynh Đệ Đại Đồng Hòa Bình Thế Giái.
Vậy thì vai tuồng của Hiệp Thiên Đài trong tương lai đây phải làm việc gì? Hiệp Thiên Đài là chơn thần, Cửu Trùng Đài là thể xác. Chơn Thần có bổn phận phải dìu đỡ thể xác thế nào từ phàm chất cho ra thánh chất.
Muốn thiệt hiện chu đáo vai tuồng đó thì chơn thần lúc nào cũng phải trong sáng, an tịnh mới đủ khả năng Hòa Hiệp với thể xác, để dìu đỡ thể xác đi theo con đường NHƠN NGHĨA chơn chánh để thiệt hiện CƠ CỨU KHỔ cho ra thiệt tướng với nếp sống Vị Tha không vị kỷ dứt bỏ phàm tâm nâng cao Thánh Đức.
Xây dựng đời mới Thánh Đức Minh Đức Tân Dân. Cái khó khăn nhất của Chức Sắc Hiệp Thiên Đài là ở chỗ đó, vì đa số Chức Sắc Hiệp Thiên Đài mấy em còn trẻ tuổi, kinh nghiệm ở đời chưa nếm đủ mùi. Đối với Chức Sắc Cửu Trùng Đài hay Phước Thiện phần đông lại là lớn tuổi hơn về phần xác đáng là anh, chị, chú, bác của mình.
Như thế muốn thiệt hành đúng chức năng của Hiệp Thiên Đài cho xứng vai tuồng chơn thần trong sáng để dìu đỡ thể xác không phải chuyện dễ đâu. không phải lấy quyền bắt buộc người khác làm theo mình chỉ biểu đặng. Trái lại mình phải đạo đức hơn, thánh đức hơn, trong sạch hơn xứng đáng làm gương mẫu cho người noi theo thế nào cho người thương mến mà làm theo, chớ không phải sợ mà làm theo. Không thể ngụy biện với thiên hạ đặng với câu: “Phải làm theo lời tôi chỉ biểu, chớ đừng làm theo việc tôi làm”. Bảo thủ luật pháp chơn truyền của Đạo qua thời kỳ mới nầy phải hiểu với ý nghĩa rộng hơn:
- LUẬT: THƯƠNG YÊU là luật duy nhất của Đạo.
- PHÁP: CƠ CỨU KHỔ để lập đời Thánh Đức là CHƠN PHÁP duy nhất, Mục Phiêu chánh yếu của Đạo Cao Đài.
- CHƠN TRUYỀN: Lý Chơn Chánh của cơ Tạo Đoan là HÒA HIỆP Âm Dương tức là Điều Hòa xã hội trong Tình Thương Huynh Đệ Đại Đồng mới đem lại Hòa Bình Thế Giới.
Với thời đại mới, thời kỳ mới Lập Đức, quan niệm chơn truyền luật pháp hiểu rộng thêm cộng với quan niệm chơn truyền luật pháp thời kỳ trước, mấy em Chức Sắc Hiệp Thiên Đài đừng lo không có việc làm, trái lại nên lo mình không đủ đức hạnh và khả năng thi hành sứ mạng cao trọng của Hiệp Thiên Đài mà thôi.
Hiệp Thiên Đài, ngày 18-3 Kỷ Mùi. (dl: 14-4-1979).
(Ấn Ký)
Hồ Tấn Khoa.
------------------------------------------
BÀI:II
--------------
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH
(BÁT THẬP THẤT NIÊN)
---o---
THÍCH CA - ĐẠI ĐÀN
O GIỜ - TIN MỪNG !
Việc lạ xuất hiện trước Đền Thánh Tôn Giáo Cao Đài Tây Ninh.
Đúng thời Tí (o giờ) tối mùng 7, chuyển sang mùng 8 tháng 4 Nhâm Thìn (27-28/4/2012) kính mừng đại lễ Đức Phật Thích Ca.
Đoàn chức sắc lần lượt bước lên 5 cấp đặng vào cửa Đền Thánh hành lễ, đi trước là chức sắc bộ Pháp Chánh tiểu cấp của Hiệp Thiên Đài, rồi đến chức sắc Cửu Trùng Đài, dẫn đầu là Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh. Trong khi Ông Đầu Sư xuất phát từ phía nam phái, Ngài đi chậm rải, thông thả vừa đến trước Tam Thánh để chuẩn bị bước lên cấp 1, bổng chợt có một vị từ sân gạch cột Phướng phăng phăng bước nhanh vào, trang phục sơ mi chỉnh tề đối diện với Ngài Đầu Sư, xá 3 xá, người em quỳ gối phủ phục lạy Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh.
Vị ấy lại 3 lạy: một lạy 4 gật; rồi đứng dậy xá 3 xá, cùng lúc Ông Đầu Sư bước lên 5 cấp vào Đền Thánh, đặng chứng kiến khai lễ Đại Đàn vía Đức Phật Thích Ca. Thiên hạ lớp đứng, lớp ngồi, trước và hai bên nam nữ của Tòa Thánh, điện hoa tỏa sáng như ban ngày, cả thảy đều sửng sốt; nhốn nháo; xôn xao, may duyên tận mắt thấy cái thiệt tướng trăm năm hiếm có, 5 anh bảo vệ từ nữ phái và nam phái chạy nhanh vào mời vị ấy ra về, trước khi làm tròn bổn phận một người em, nhìn nhận Ông anh Thiêng Liêng của mình,vị ấy quay lại xá 3 xá Đức từ Phụ Di Lạc Vương Phật trên nóc Hiệp Thiên Đài.
Qủa thật, từ khi khai Đạo đã 87 năm chưa có một hành tàng Nhơn Nghĩa nào trước Đền Thánh, thể hiện đức tin có bằng chứng vô đối như thế. Với cử chỉ cao thượng tôn sư trọng Đạo giữ nghĩa đồng sanh của vị ấy, đã làm rung động hàng trăm tín đồ phật tử có duyên may tận mắt chứng kiến một chiếc chìa khóa thương yêu, tin chắc nó sẽ hóa thân ức vạn để mở cửa Thiên Đàng tại thế.
Để phù hợp với tinh thần tiến hóa của nhơn loại, Đức Hộ Pháp phân Chơn Pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ra làm hai giai đoạn: Thể Pháp và Bí Pháp. Đến năm Mậu Tí (1948) Đức Ngài cho biết: “ngày hôm nay Bần Đạo đã dẫn mấy em đến ngã ba đường, ai biết thì đi, còn không biết đứng ở đó chờ Bần Đạo”.
1- Hể biết thì đi vào Bí Pháp, bởi Bí Pháp còn thì Đạo còn.
2- Còn không biết thì đứng ở đó chờ Bần Đạo. Vậy đứng ở đó chờ là chờ nơi Thể Pháp. Mãi đến khi Đạo Lịnh giải Thể 01/1979 xuất hiện, Thể Pháp hữu hình hữu hoại, đã đến lúc phải giải Thể đặng thay cũ đổi mới.
- Đạo học gọi là Bí Pháp.
- Duy Vật Biện Chứng gọi là quy luật Phủ Định của phủ định. “Điều đó nói lên rằng, phủ định biện chứng mang tính kế thừa. Trong quá trình phủ định biện chứng, sự vật khẳng định lại những mặt tốt, mặt tích cực và chỉ phủ định những cái lạc hậu, cái tiêu cực”. Có nghĩa khi lượng của Thể Pháp đã tích lũy đến điểm nút gọi là độ (Bí Pháp) để thực hiện bước nhảy, đặng thay cũ đổi mới (Chơn Pháp) thành lượng mới và chất mới, phù hợp với một thế giới mới, con người mới (phủ định)…thi hành Chơn Pháp đúng theo Pháp Chánh được Truyền do Hiệp Thiên Đài từ đàn cơ 1973 (khẳng định). “Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển và cũng là điểm khởi đầu của một chu kỳ phát triển tiếp theo. Sự vật lại tiếp tục phủ định biện chứng chính mình để phát triển. Cứ như vậy sự vật mới ngày càng mới hơn”.
Thế thì Đạo Lịnh giải Thể 01/1979 (đó là Bí Pháp Cửu Trùng Đài) cũng phải do Hiệp Thiên Đài hiệp một với Cửu Trùng Đài thay quyền Bát Quái Đài tại thế, tức quyền anh cả (CTĐ) thay quyền mẹ (HTĐ) đúng ý ông cha đã định (BQĐ), đặng thi hành Nhơn Nghĩa tiến đến đại đồng. Ký Đạo Lịnh nhằm cảnh giác nhơn sanh hãy lưu ý phần Thể Pháp hữu hình Hội Thánh Cửu Trùng Đài đã đến lúc phải thay cũ đổi mới gọi là Hội Đồng Chưởng Quản Tôn Giáo, chỉ có khác danh xưng nhưng hình trạng vẫn là một. Sau đạo lịnh giải thể, ngày 18-3 Kỷ Mùi (dl: 14-4-1979), Đức Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa Hội Trưởng Hội Đồng Chưởng Quản Tôn Giáo nhiệm kỳ I, có gởi bức tâm thơ nhắc nhở Chức Sắc Bộ Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài “phải dứt bỏ phàm tâm nâng cao thánh đức trong cơ chuyển thế chưa từng có từ khi mở Đạo, trong việc thay cũ đổi mới từ thời kỳ lập công, qua thời kỳ lập đức nầy.
Tôi thiết tha kêu gọi tất cả chức sắc Hiệp Thiên Đài cũng như Cửu Trùng Đài và Phước Thiện và luôn cả chư Tín Hữu nên cùng nhau đi một đường, nghe một tiếng, nhứt tâm nhứt trí, hiệp đồng chư môn đệ trọn tuân hành theo lịnh của Hội Thánh thì sẽ được vững tâm yên trí rằng chi chi cũng có đàn anh lãnh đạo gánh chịu.
Nhược bằng, vì lý do nầy hay lý do khác bất đồng với Hội Thánh dầu không tỏ ra chống đối nhưng tự tách mình đứng ra ngoài cuộc, thụ động và không chịu hiệp đồng cùng chư môn đệ thì tự mình gánh hết trách nhiệm về bước đường lập vị của mình không thể đổ thừa rằng không có ai nhắc nhở và chỉ bảo.
Về mặt pháp lý Tôi nhơn danh quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài đã chỉ rõ và quy trách nhiệm rõ ràng nên ước mong rằng không còn điều chi thắc mắc. Bảo thủ luật pháp chơn truyền trong thời kỳ mới phải hiểu với ý nghĩa rộng hơn:
* LUẬT: THƯƠNG YÊU là Luật duy nhất của Đạo.
* PHÁP : CƠ CỨU KHỔ để lập đời Thánh Đức là CHƠN PHÁP duy nhứt, Mục Phiêu chánh yếu của Đạo Cao Đài”.
- Hội Thánh Cửu Trùng Đài thi hành Tam lập, cho mượn quyền để hành chánh đạo. Gọi là Thể Pháp Thiên Phong (thờ Trời) lấy giả tạo chơn, tin tưởng vô vi là gốc thuộc về quá khứ. Đã đến ngày giờ Thiên cơ chuyển pháp thiên điều phục nguyên thánh thể lại, “chủ quyền Chơn Đạo một mình ta” thuộc hiện tại và tương lai phải ra thiệt tướng “chi chi cũng tại Đền Thánh Tây ninh nầy mà thôi…” Nếu còn bảo thủ tinh thần Thiên Phong cơ bút vô vi đối với giai đoạn Chơn Đạo, thì không đủ năng lực thu phục tâm lý của nhơn sanh vào khuôn Đại Đạo. Khẳn định sẽ thoái bộ và tự đào thảy lấy mình, có công tu mà thành chẳng đặng thành. Bởi Thể Pháp hữu hình đã hữu hoại, cố bảo thủ thì rõ ra mượn danh Đạo tạo danh mình, tự tôn tự xưng phục quyền Hội Thánh làm sái loạn chơn truyền chánh pháp.
- Hội Đồng Chưởng Quản Tôn Giáo bằng tam thiện: Tự chọn; tự định phận; tự định vị lấy mình, thi hành chơn pháp. Thờ Người tức thờ Trời, lấy Chơn đổi giả, nhập trường thi đoạt khuê bài thiêng liêng vị nêu danh lên bảng PHONG THÁNH xuất hiện Tam Kỳ, khai Long Hoa Đại Hội tại Đền Thánh Tây Ninh Bạch Ngọc Kinh với đề thi NHƠN NGHĨA làm cho đại đồng thiên hạ.
“ Trừng chơn chánh quang.
Bửu quang từ tế Thiên Tôn”.
Nhứt thiết chúng sanh giai thành phật đạo. Có nghĩa người tu thành Phật, Phật tu thành Trời. Trời dạy người cho người tu thành Thần, Thánh, Tiên, Phật, rồi Phật tu thành Trời…cứ thế, người còn thì Trời còn.
Thú thật, O giờ thời Tí đêm mùng 7-8 vía Đức Phật Thích Ca, có một vị lạy Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh trước cửa Đền Thánh Cao Đài Tây Ninh, đó là anh Nguyễn Công Nhuận, nhân viên ban ánh sáng nội ô Tòa Thánh.
Sau khi Đức Hiến Pháp được Đức Hộ Pháp ủy quyền “ điều hành Đạo Sự tại Tòa Thánh Tây Ninh” năm 1956, Thánh Lịnh 65 tại Campuchia. Từ đàn cơ năm 1973 do Đức Trương Hiến Pháp chánh vị chưởng quản Hiệp Thiên Đài chấp bút, lúc ấy Ngài Thượng Tám Thanh là Giáo Sư, Hội Thánh xin Ông qua Hiệp Thiên Đài, nhưng Đức Lý Thái Bạch giáng cơ xác nhận: “ về phần em Tám để Lão dùng sau”.
Mãi đến nhiệm kỳ thứ V, năm 1997-2010 là Hội Đồng Chưởng Quản Tôn Giáo; 2011- 2012 là Hội Thánh. Ngài Thượng Tám Thanh, chưởng quản Hội Thánh cầm quyền thống nhất… dìu dẫn cơ quan hành chánh đạo đi bằng Chơn Pháp: nói thật; làm thật; chỉ cho thấy sự chơn thật, thi hành tam thiện.
Anh lạy Ngài, để tỏ lòng kính Phật trọng Tăng, kính lạy tam bửu của Ngài:
- 1 lạy 4 gật, Đức Hộ Pháp (Bát Quái Đài) Chơn Linh của Ngài.
- 1 lạy 4 gật, Đức Hiến pháp (Hiệp Thiên Đài) Chơn Thần của Ngài.
- 1 lạy 4 gật, Đức Lý Giáo Tông(Cửu Trùng Đài)Chơn Khí của Ngài.
Đúng như lời Đức Hộ Pháp khẳng định: “Niệm và lấy dấu Phật, Pháp, Tăng. Bần đạo quả quyết thật đích xác ba ngôi ấy thế gian không một ai biết rỏ”.
Anh lạy tam tài Thiên, Địa, Nhơn tức tam bửu hiệp nhứt trong thể hình của Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh. Anh rất hãnh diện và tự hào cố tình lạy người anh thiêng liêng của mình khi Ông còn sống, anh không muốn quỳ gối với bài kinh “ Em Tế Anh” bằng những giọt nước mắt ân hận đau thương, anh lạy cái đại công mà người anh của chúng ta đã và đang gìn giữ nghiệp Đạo, rạng danh Thánh địa Tam Kỳ.
Từ khi Đạo Lịnh 01/1979 xuất hiện, chúng ta cứ mãi nghe Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc và các nước phương tây bảo rằng nước Việt Nam “không có nhân quyền tự do tôn giáo”, cũng bởi người Việt Nam trong và ngoài nước tác động và yêu cầu. Nhà nước Việt Nam có cấm đâu? Phải chăng:
1- Họ còn phân biệt đảng phái, đa số là tín đồ tôn giáo Việt Nam. Trái với lời dạy của Đức Hộ Pháp Giáo Chủ Đại Đạo Tam Kỳ: “ không phân biệt đảng phái, chủng tộc, tôn giáo…”
2- Vì quá tự do, mà họ chê bỏ món thức ăn tinh thần Nhơn nghĩa 4000 năm văn hiến của dân tộc Việt Nam, họ chê món thức ăn Nhơn Luân của mình là cổ phẩm. Cố tìm món thức ăn hiện đại loạn luân, rướn cổ ráng nuốt còn khen ngon quá! Mình chê mình mà biểu thiên hạ khen mình sao đặng?
Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn báo trước rằng nước Việt Nam ta có một tủ thuốc trường sanh, đó là cái đạo Nhơn Nghĩa 4000 năm văn hiến, Đức Ngài bảo hãy đem vị thuốc ấy cho cả nhơn loại trên hoàn cầu nầy uống đặng hằng sống.
Thế nên trước mặt Đền Thánh đề hai chữ NHƠN NGHĨA là vậy, áp dụng nho tông chuyển thế làm sống lại trong thánh chất thương yêu: Trung với Cha, Hiếu với Mẹ, Nghĩa với anh em. Đã là anh em chỉ có thương đừng ghét, mình không thương mình biểu thiên hạ thương mình sao đặng? Được vậy, thì nước thiên đàng tại thế sẽ đến trong tầm tay chúng ta không xa vời lắm.
Thuyết đạo tại Đền Thánh, thời Tí mồng 1 tháng 6 năm Mậu Tí (7-7-1948) Đức Hộ Pháp khẳng định qua đề tài “ PHONG HÓA NHÀ NAM”:
“ Văn hiến bốn ngàn năm có sẵn
Chi cần dị chủng đến dâng công”
Cùng một lúc, tay phải anh là Đạo thi hành Nhơn Nghĩa; tay trái anh chăm sóc cho Đời thi hành Nhân Đạo. Suốt 6 năm (2006-2012) là Phó Chủ Tịch thường trực Hội Từ Thiện Chữ Thập Đỏ tỉnh Tây Ninh.
■ TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN
Với tư cách là một tín đồ thuộc Đạo,công dân của một nước thuộc Đời. Chúng tôi khẳng định tuyên ngôn với Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc và các nước anh em trên toàn thế giới, vui mừng và tin tưởng rằng: Nước CHXHCN Việt Nam chúng tôi đã và đang có nhân quyền tự do Tôn Giáo, không riêng gì Đạo Cao Đài. Cái chủ quyền Đạo, Tam Kỳ Phổ Độ vẫn ở trong tay người Việt Nam, trong Tổ Quốc Thánh Địa Việt Nam. Thế mới xứng với danh nghĩa đại đồng “Quốc Đạo Nam Phong” cùng nhau thi đua: Trung với nước, hiếu với dân tộc, nghĩa với bạn đồng sanh. Nước Việt Nam sẽ làm gương cho thế giới phải đồ theo đặng hưởng đời thánh đức.
■ QUỐC ĐẠO NAM PHONG 4000 NĂM VĂN HIẾN
TỪ TRUNG-HIẾU-NGHĨA.
Lạy Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh, bởi vì anh kỉnh Đạo trọng Người, Đạo dạy người nên hiền; còn trọng người vì Ông cũng bình thường như mọi người; Ông không kiếm tìm chi vô ích, chỉ cần đồ theo nẻo thẳng cứ đi, bảo thủ và gìn giữ tại Thể Pháp Đền Thánh vẫn lập được đại kỳ công.
Chẳng những riêng Ngài Đầu Sư Đạo Cao Đài mà cả thảy những vị đại diện, những nhân chứng sống của các Tôn Giáo, chi phái…cũng khôn ngoan sáng suốt, hy sinh can đảm, vững tâm bền chí nhẫn nại, dìu dắt môn đồ mình trên con đường: Minh Đức, Tân Dân, Chí ư Chí Thiện.
Trước khi lạy Ngài Đầu Sư, anh đã tề gia của anh rồi. Anh em ruột, có cả dâu rể, con cái của anh lần lượt quỳ lạy bà mẹ còn sống đã sanh hóa, để lại những giọt máu mũ lưu truyền tại thế !
Tóm lại, anh lạy Ngài Đầu Sư là anh biết kính Phật trọng Tăng đó là Đạo. Còn kỉnh Đạo trọng Người đó là Đời. Đạo Đời tương đắc ở trong anh.
“ Tôn trọng Người như Trời với Phật,
Thương yêu cả hết chúng sanh thành”.
Thử hỏi, với kỷ nguyên hiện đại nầy cả thế giới có ai làm được như anh? Thế nên thiên hạ đại loạn là vậy. Nước Việt Nam nhỏ nhít của chúng tôi làm được, rồi đây tin chắc thế giới cũng vẫn làm được. Mong rằng với gương sáng 4000 năm văn hiến của Tổ Quốc Việt Nam sẽ bắt cầu Trung, Hiếu, Nghĩa cho thế giới đồ theo mà giữ nước và dựng nước. Thống nhất thành một khối thương yêu, công bình tiến đến đại đồng thiên hạ.
Đó là giải pháp cứu thế của Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam. Duy chỉ có chủ quyền Đạo trong nhân quyền tự do Tôn Giáo Việt Nam mới có! Hiện đã có và đang có!
Ban sơ, khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Chí Tôn chọn giống dân Việt Nam làm cơ quan cứu thế, Đức Ngài đem cho lại, nhắc lại cái tủ thuốc trường sanh của Tổ Phụ là đạo NHƠN LUÂN, để làm giềng mối kết liên 92 ức nguyên nhân thiệt hiện Đạo Đời tương đắc vạn linh hiệp chí linh quy hồi bổn thiện. Đức Hộ Pháp quả quyết: “ Một nước nhỏ nhen trong vạn quốc, ngày sau làm chủ mới lạ kỳ” qua bài thi:
QUỐC ĐẠO NAM PHONG
“ Thượng hạ nhị Thiên xử địa hườn,
Việt Nam nhứt quốc nhứt giang sơn.
Hoàn đồ toàn bảo Thiên thi định ,
Đảnh tộ trường lưu Tổ nghiệp tồn.
Quốc Đạo kiêm triêu thành Đại Đạo,
Nam Phong thử nhựt biến Nhơn Phong.
An bang liệt Thánh tùng Nghiêu Thuấn,
Văn hóa tương lai lập Đại Đồng”.
. Kính thưa Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh Chưởng quản Hội Thánh ĐĐTKPĐ Tòa Thánh Tây Ninh.
. Kính thưa các ban ngành trực thuộc Hội Thánh.
. Kính thưa lãnh đạo các ban ngành tỉnh Tây Ninh.
Vì quá bức xúc và chịu đựng, nên phải làm trước nói sau, anh quên mình vì mọi người, lấy thân mình để nêu gương cho anh em cùng nhau thi hành NHƠN NGHĨA.
Mong bạn đồng sanh hãy thương lún thương càn đi coi ngày kia có lầm chăng, xin góp ý trực tiếp và tha thứ.
----------------------------------------
BÀI: III
---------
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH
(BÁT THẬP THẤT NIÊN)
----0----
NHƠN NGHĨA
NHƠN bố tứ phương ĐẠI ĐẠO dĩ NHƠN hưng XÃ TẮC,
NGHĨA ban vạn đại TAM KỲ trọng NGHĨA chấn SƠN HÀ.
Đôi liễn NHƠN NGHĨA đề ở trước mặt Đền Thánh, trên lầu
Hiệp Thiên Đài, đại ý:
- Toàn thế giới biết THƯƠNG yêu nhau, nền QUỐC ĐẠO
chỉ có THƯƠNG mới ĐẠI ĐỒNG THIÊN HẠ,
- Lấy thân mình GIÚP thân nhơn loại, duy KỲ BA
do cơ quan PHỤNG SỰ ắt THÁI BÌNH TỰ TRỊ.
■ Đức Hộ pháp thuyết đạo:
“ Nhơn Nghĩa là gì? người có nhơn thì không oán, có nghĩa thì không bạc. Công chánh là gì? Có công thì không phụ, có chánh thì không tà, không chối cái điều chơn thật được, còn có từ bi thì có khoan hồng dung thứ, có bác ái mới có thể bảo thủ và thân mến toàn thiên hạ, nếu chiếu theo chơn truyền của Đức Chí Tôn khuyên bảo chúng ta thế nào, thì chúng ta phải tuân theo thế nấy. Chúng ta phải biết yêu ái, phải có công
bình chánh lý, chúng ta giữ được cả chơn truyền ấy thì không ghét ai, oán ai. Trái lại, Đại từ phụ buộc chúng ta phải thương yêu kẻ nghịch, kẻ thù của chúng ta nữa.
Thiên hạ tưởng cái võ lực của họ là hơn hết, họ lấy cái võ lực đặng bảo thủ cái sống của họ còn tồn tại, thì Sở Bá Vương, Bạo Tần kia, hỏi cái nghiệp của họ còn bền bỉ hay chăng, nếu không có thượng cờ nhơn nghĩa thì cái nghiệp Hớn không còn tồn tại tới 500 năm, nếu không thượng cờ nhơn nghĩa thì nhà Châu chưa hề cướp đặng cái đế vị của nhà Trụ…Lấy nhơn nghĩa mà luận thế gian, giờ phút này, dầu cho liệt cường nào họ cũng mượn màu nhơn nghĩa đứng trước thiên hạ đặng làm bá chủ thiên hạ.
Dân tộc Việt Nam có một mãnh lực còn mạnh hơn nguyên tử lực nữa kìa, chẳng lực lượng nào tàn sát cùng động đến được là tinh thần đó vậy, tinh thần nhơn nghĩa đạo đức, đã thâu đoạt thắng lợi một cách vinh diệu. Muốn tương lai nước Việt Nam sau có ngước mắt dòm cả toàn thiên hạ không thẹn thì ít nữa trong quốc dân Việt Nam phải đủ can đảm, đủ tinh thần, đủ tâm đức trung liệt ái quốc nồng nàn mới đem lại cái hạnh phúc chơn thật cho nòi giống nước nhà, nhân rộng ra toàn thế giới.
■ Ấy vậy, đạo đức nhơn nghĩa là cái hườn thuốc sống của kiếp sanh nhơn loại, dầu cho cá nhân, dầu cho xã hội, dầu cho toàn thể nhơn quần cũng vậy, nếu họ bỏ đạo đức nhơn nghĩa tức nhiên họ tự diệt lấy họ, họ tự lên án tử hình lấy họ. Nó phải trở lại, sống trở lại với lẽ đạo đức nhơn nghĩa mới bảo tồn sinh mạng đặng.
Chúng ta đã lãnh phận sự đặc biệt và yếu trọng là cảm hóa thế nào cho đời đã tệ hóa ra hay, người bạo tàn hóa ra người hiền ngỏ, nếu cứ mong lòng tranh trí lẫn tài, ắt tàn hại cái hay đạo đức”.
Đức Hộ Pháp xin thưa: “Chư đạo huynh, chư đạo tỷ cùng chư đạo hữu lưỡng phái một điều nầy, chúng ta tu hay là không tu, nếu tu thì phải hiền, như còn muốn dữ, thì bước cho xa cửa đạo.
Sở vọng của đạo cốt yếu là làm cho thiên hạ thương ta, và sự thương là một quyền hành độc thiện, mà chư chức sắc thay vì yêu kiếm thương lại chọc cho hờn cho ghét rồi đa, làm thế nào cho thương đặng mới là hay, còn lại ghét hoài ra thường sự.
Nếu lương tâm đã cho phận sự ta để thay thế cho Thầy, thì chúng ta phải tùng phương châm của Thầy, bắt chước y nguyên đừng sai một vẻ mới mong tụ hợp con cái của Thầy chung vào cửa đạo, bằng chẳng thì thối bước ra khỏi thánh thể của Thầy, hơn ở lại làm nhơ làm trượt.
Vậy Bần Đạo cả tiếng kêu những người đã một lỡ hai lầm và những bậc khá thông về đạo, phải hiệp tâm hiệp trí cùng nhau, chỉ ngó một mình Thầy làm đường chơn thật, rồi tha thứ nhau hay là giúp đỡ lẫn nhau, đặng tròn phận sự cùng Thầy hầu làm gương báu cho đời tìm chí thiện cả tình lẫn ái”.
Kính Chư chức sắc, chức việc, cả thảy môn đệ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ xin khá để tâm lưu ý! Mỗi khi lãnh phận sự, buộc phải minh thệ rồi đến bàn thờ Vi Hộ Pháp thề: “Như ngày sau phạm thiên điều, thề có Hộ Pháp đọa tam đồ bất năng thoát tục”. Tại sao không thề với Đức Chí Tôn vô vi mà thề với Hộ Pháp? Vậy Hộ Pháp là ai? Hộ Pháp là quyền năng của Đức Chí Tôn hay quyền năng của Đức Chí Tôn là Hộ Pháp. Hộ Pháp là âm năng của Chí Tôn tức pháp thân âm quyền từ dương quyền Chí Tôn phân tánh giáng sanh tại thế.
Cho nên Chí Tôn là Đức Từ Phụ Di Lạc Vương Phật chủ cung Hỗn Ngươn Thượng Thiên còn mai danh ẩn tích nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống tại thế, khai Hội Long Hoa Đức Ngài mới đến với hình ảnh và tên tuổi của người đặng chấm đậu rớt cho các nguyên nhân qui hồi cựu vị.
■ Đức Hộ Pháp cho biết trong Thuyết Đạo: “Ban sơ Phật Mẫu đến ngự tại Hiệp Thiên Đài làm mẹ chữ Khí, chữ Khí tương quan trong Hiệp Thiên Đài…người đến tạo cái tòa ngự của người rồi sau mới lập Cửu Trùng Đài”.
Hiệp Thiên Đài là gì? là Đài Hiệp cùng Trời:
- Đài: Phạm Công Tắc (người trị thế là tòa ngự của Phật Mẫu).
- Hiệp: đồng trị.
- Thiên: Trời là Hộ Pháp (Trời trị hồn)
“Đạo Cao Đài thực hiện Trời người hiệp một đồng trị mới có cơ quan giải thoát chúng sanh đặng. Tiếng Đại Đạo không phải chúng ta muốn mà đặng, chính Đức Chí Tôn muốn mới đặng, nền Đại Đạo nầy chính Đức Chí Tôn sáng lập, chính Hộ Pháp giáng trần cầm quyền Bí Pháp”. Đức Hộ Pháp đứng trước chữ Khí tức cầm quyền Chưởng Pháp có nghĩa chủ về Pháp, Pháp do nơi Phật, Phật phân Pháp, Pháp sanh Tăng. Hay nói rõ “Thầy là Phật chủ cả Pháp và Tăng”.
Đức Phi Phàm cho biết “Chưởng Pháp là Hộ Pháp vì người của Hiệp Thiên Đài mà phẩm vị ở bên Cửu Trùng Đài, ấy là thiên ý của Đức Chí Tôn muốn cho Cửu Trùng Đài phải có Hiệp Thiên Đài, là người thọ lãnh quyền hành trách nhiệm chớ không nên hiểu nghĩa nhỏ hẹp là cái tòa nhà hay là nơi văn phòng làm việc”.
Cho nên Đức Hộ Pháp thường trách: “Civa là Pháp, Pháp là Phật Mẫu, Phật Mẫu là gì mà không biết, có con mắt mà không biết Phật Mẫu là gì ?”.
Đức Chí Tôn Di Lạc Vương Phật thuộc chơn linh tức Phật (Phật giáo). Dạy thờ Thiên Nhãn là thờ con mắt trái của Ông Trời tại thế này, thay Ngài khởi khai Đại Đạo, ban sự sáng cho 92 ức nguyên nhân tỉnh mộng qui hồi cựu vị, đó là Phật Mẫu xuống thế mang theo cả Thập Nhị Thời Quân, tá danh là Hộ Pháp chơn thần của Ngài Phạm Công Tắc. Đức Hộ Pháp chủ quản Hiệp Thiên Đài thuộc Pháp là hình trạng của Ngọc Hư Cung tại thế tức thế giới bên trái của Cung Tạo Hóa Huyền Thiên (Tiên giáo). Còn thế giới bên phải Cung Tạo Hóa là Cực Lạc Thế Giới tức Cửu Trùng Đài chơn khí thuộc Tăng (Nho giáo).
Đại Đạo Tam Kỳ phản tiền vi hậu, làm phục sinh lại cái quyền Mẫu hệ (HTĐ) của nhơn loại từ thời nguyên thủy. Cao Đài lấy Nho Tông chuyển thế nhằm chỉnh đốn lại đạo Nhơn Luân từ Trung, Hiếu, Nghĩa 4000 năm văn hiến của Tổ phụ Việt Nam ta, làm sống lại thánh chất đạo đức Nhơn Nghĩa.
Loài người chúng ta đây cả thảy đều do bà mẹ sanh ra, Đức Hộ Pháp xác nhận: “Đức Chí Tôn cũng sản xuất ra từ tình ái, từ cái tình hèn mọn, tự nó tăng tiến đến mức tối cao tối trọng của nó… Thử hỏi Đức Di Lạc Vương Phật, dầu Ngài đến bực cao trọng bao nhiêu cũng là con, nghe ra dường như chưởng quản các nơi, do quyền của Đức Di Lạc, còn Phật Mẫu nơi cung Tạo Hóa Thiên là mẹ của chúng ta, có một điều Bần Đạo chẳng dám nói. Muốn biết cái tình mẹ yêu con thế nào? Chúng ta thấy tượng Phật Mẫu, Đức Di Lạc quì đằng sau lưng chấp hai tay đưa lên đó, dầu Bần Đạo không tả hai nghĩa lý ấy cả thảy cũng đều hiểu quyền năng bực nào nghĩa là mẹ cũng vẫn là quyền mẹ”.
Làm con phải biết mẹ, mẹ mới chỉ cho thấy cha, rồi hiếu với mẹ, trung với cha, giữ nghĩa đồng sanh nhìn nhau là anh em có cùng chung huyết thống, mới thương nhau, đừng ghét bỏ nhau, đã là anh em mà gieo oán kết thù, mưu cầu tàn hại cho thỏa tâm phàm, hỏi sao cha mẹ không buồn không khóc:
“Cười khan mà khóc bởi thương bây,
Chẳng mất một con nghiệt cả bầy”.
Đức Chí Tôn đến lập nền chánh giáo của Ngài, cốt yếu làm thế nào cho họ đừng cướp sống lẫn nhau mà an ủi với nhau ấy là chí hướng của Ngài đó vậy. Nhị Kỳ đã thất pháp từ lâu, các vì giáo chủ không có chơn truyền chánh pháp, bởi trình độ nhận thức của nhơn loại thời buổi ấy quá thấp, họ tin vô vi chớ không tin hữu hình. Chúa cứu thế Jêsus Christ xác nhận: “có nhiều điều, dầu ta có nói các ngươi cũng không hiểu”, cho nên nhơn loại bị tản Thần (không biết Thầy) mới sái loạn chơn truyền, quên nguồn mất gốc, nghịch sư phản bạn là vậy. Khai Đạo Tam Kỳ, Đức Chí Tôn hứa: “Thầy ban Thần cho các con hiệp cùng tinh, khí mà đắc đạo”. Thần là một khối Đại Linh Quang nơi cung Tạo Hóa Huyền Thiên Phật Mẫu Diêu Trì cầm pháp, từ biến xuất đến qui pháp do Ngọc Hư Cung (Bát Quái Đài) mà hình trạng tại thế là Hiệp Thiên Đài. Hơn nữa, “Hiệp Thiên Đài là nơi Thầy ngự cầm quyền thiêng liêng mối Đạo, hể Đạo còn thì Hiệp Thiên Đài vẫn còn”. Chí Tôn ban Thần tức Ngài ban cho chúng ta có một ông Thầy Trời hữu hình đó là Đức Hộ Pháp vậy.
Thánh ngôn: “Từ đây, phải tin tưởng một Thầy và nghe lời Thầy dặn, phải giữ đạo đức cho bền, còn ngoại trừ sự chi nghịch với nhơn đạo thì là mưu chước tà quái”.
■ Hiệp Thiên Đài cũng đủ Phật, Pháp, Tăng:
- Hiệp Thiên Đài thuộc Phật: chơn linh Di Lạc (tức Bát Quái Đài).
- Hiệp Thiên Đài thuộc Pháp: chơn thần Hộ Pháp (thường gọi Hiệp Thiên Đài).
- Hiệp Thiên Đài thuộc Tăng: chơn khí Đức Lý (là Cửu Trùng Đài).
* Thánh thể Phi Phàm: Phạm Công Tắc.
+ Tam bửu hiệp một trong thánh thể Phi Phàm: là Phật Mẫu Diêu Trì Thiên Hậu Chí Tôn, chủ cung Tạo Hóa Huyền Thiên cầm Chánh Pháp thay Đức Di Lạc xuống thế khai Đạo.
Lời tâm huyết của Đức Hộ Pháp: “Chúng ta đã chung khổ cùng nhau tạo thành nền Đạo, dầu không tình cũng nghĩa, dầu bỏ nghĩa còn công, đã bao năm khổ nhọc chia đồng, hòa giọt thảm mặn nồng bằng cốt nhục, nay vừa đặng mảy may hạnh phúc, nở nào còn cân nhục so vinh, nên cũng mình hư ấy tại mình, trọng là thế khinh kia cũng thế.
Đời tồi tệ miệng còn nói lẽ, đạo dường bao chẳng kể tôn ty; nếu ta bày ra tiếng thị phi, biểu sao chúng chẳng khi chẳng dễ; cùng nhau đã đồng minh đồng thệ; của thiêng liêng nên nghì; hơn mà chi thua ấy là chi; mưu hại lẫn nhau bì cừu hận; ráng giữ chặc tánh hờn nết giận; ngọn hỏa tâm thiêu tận đền thờ; đạo sử kiếp kiếp để nhơ, nơi cửa thánh ơ hờ hóa quỷ; bớt nghe hồ mị theo Đấng Chí Tôn; sống sót kia xin ngó đến hồn, đừng để thác thây chôn để trượt; độ tâm lý không cân không thước, lấy tinh thần làm chước làm mưu, Tâm là Bình Bát Du; Đức là cây Phất Chủ; hạnh là bộ Xuân Thu, trối kệ đời khen trí chê ngu, đã tự chủ trí ngu tự hiểu; lấy tánh nết từ bi làm kiểu, đưa ân hồng dìu níu tay phàm; mặc ai còn danh mến lợi ham, trối kẻ nhẫn tước ham quyền chuộng; mồi chung đỉnh đủ nhàn ưa muốn, mỏi quỳ lên cuối xuống cửa công khanh…
■ Phật Mẫu là bà mẹ sanh của cả chúng ta, đắc đạo hay không cũng do bà mẹ thiêng liêng ấy, nâng đỡ ấp yêu vì không ai cưng con hơn là Phật Mẫu”. Thế tại sao anh em ta không “nhìn nhau và hiệp một trong nguyên căn” đặng giữ nghĩa đồng sanh.
“Đức tin nơi ta đó, trước hết ta biết ta, có biết ta rồi mới biết thiên hạ, có biết thiên hạ rồi mới biết đến Chí Tôn là ngôi chúa tể tạo đoan càn khôn vũ trụ, biết đấng ấy thì biết rỏ mình vậy, nếu chưa biết đấng ấy thì đừng trông mong biết mình mà chính mình không biết mình thì không còn ai biết hết. Sống không đức tin, nghĩa là không tự biết mình, khác nào cây cỏ vật loại kia, thì không có nghĩa gì hết, sống ấy vô giá trị”.
■ Qủa thật, tam bửu Tinh, Khí, Thần là cái đạo nhơn luân của cả môn đệ ở giai đoạn Thể pháp Hội Thánh Thanh Hương có cùng một khối Thần (một Thầy) và Khí (Thầy dạy), nhưng khác nhau bởi phẩm trật, phận sự, địa vị…của mỗi người đó là Tinh.
Tam bửu của người:
- Thần: Đức Hộ Pháp (Thầy)
- Khí: chủ về Pháp (chính Đức Hộ Pháp giáo hóa)
- Tinh: phận sự…(ví dụ: Phó Trị Sự là Giáo Tông em)
Đa số môn đồ Tam Kỳ Đại Đạo không để tâm tìm chánh pháp chủ quyền của Đạo “ Hể chủ quyền Đạo ngự nơi nào thì Đạo ở nơi đó” gốc Hiệp Thiên Đài, bởi “ Hiệp Thiên Đài còn thì Đạo còn”. Anh em cứ mãi mê bảo rằng mình đang thi hành Tân Luật và Pháp Chánh Truyền, thử hỏi Pháp Chánh Truyền là gì? có nghĩa Hiệp Thiên Đài truyền Pháp Chánh cho ai? Lúc nào? Minh chứng? Hơn nữa mình là ai lại cả gan dám phục quyền Hội Thánh? Chủ quyền Đạo của Hội Thánh là của Chí Tôn mất hồi nào mà phục? Đạo Cao Đài do chính Đức Chí Tôn sáng lập vậy giả sao? Khẳn định, cả thảy không biết Bí Pháp chơn truyền là gì, thì làm sao biết Hiệp Thiên Đài còn, thế thì chủ quyền của Đạo hiện nay ở đâu? và ai đang cầm Chánh Pháp (Chơn Pháp)?
■ Mậu Tý 1948, Đức Hộ Pháp cảnh giác: “Ngày hôm nay Bần Đạo đã dẫn mấy em đến ngã ba đường, ai biết thì đi, còn không biết đứng ở đó chờ Bần Đạo”.
1- Biết thì đi vào Bí Pháp:
Năm 1964-1968 Đức Trương Hiến Pháp có mở lớp Bí Pháp Hiệp Thiên Đài, sau khi được Đức Hộ Pháp ủy quyền cho Ngài Hiến Pháp “điều hành Đạo sự tại Tòa Thánh Tây Ninh” năm 1956 Thánh Lịnh 65 tại Campuchia.
* Trong lớp ấy có Tín đồ La Văn Lực (Luật sự HTĐ), được Đức Hiến Pháp giao lo việc Đạo nơi Hãi Ngoại, ông là nhân chứng sống, hiện đang ở nước ngoài.
Đến giai đoạn Chơn Đạo Hiệp Thiên, phát khởi từ 2008 vận hành cho đến ngày giờ quyết định chương trình Long Hoa Đại Hội tại Bạch Ngọc Kinh Tòa Thánh Tây Ninh ! Tín Đồ La Văn Lực liên hiệp với các tế bào như: hiền huynh Lễ Sanh Ngọc Cảnh Thanh và Hiền Tài Hồ Văn Xưa…cả kêu 92 ức nguyên nhân anh hào tuấn kiệt phản hồi nguyên bổn đứng ra thành tâm giúp Đạo, chuyển Pháp Chơn Đạo thành từ ngoài thành vào “Chi chi…cũng tại Đền Thánh Tây Ninh nầy mà thôi”, đã đến lúc phải Qui Y Tăng để đúng với Chánh Pháp:
“Dà Lam dẫn nẻo Tây Qui,
Kim Chung mở lối kịp kỳ kỵ sen”.
Chúng ta bất quá là cái máy của Đức Từ Phụ Hộ Pháp là Di Lạc Vương mà thôi, mạnh yếu do nơi người điều khiển. Tin chắc “Chủ quyền Chơn Đạo một mình ta” phải ra thiệt tướng, “Thân Dậu niên lai kiến Thái Bình” đầu thế kỷ 21 nầy. Tận nhơn lực mới tri thiên mạng quí huynh à ! ắt sẽ có ngày chúng ta hội hiệp.
* Đức Phi Phàm Tín đồ Bí Pháp HTĐ cùng một lớp với La văn Lực, thường nhắc lại lời giáo huấn của Ngài Hiến Pháp: “Mấy em đã phăng được cái gốc rồi thì đừng có trèo ra nhánh nữa, lỡ nó tuột nó té mấy em, Qua làm sao đỡ kịp”.
2- Còn không biết đứng ở đó chờ Bần Đạo:
Từ đàn cơ năm 1973 do Đức Trương Hiến Pháp chánh vị Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài chấp bút, lúc ấy Ngài Thượng Tám Thanh là Giáo Sư CTĐ, Hội Thánh xin ông qua HTĐ, nhưng Đức Lý giáng cơ xác nhận: “về phần em Tám để Lão dùng sau”. Từ khi Đạo lịnh giải thể 01/ 1979 xuất hiện, mãi đến nhiệm kỳ thứ V, Đầu Sư Thượng Tám Thanh chưởng quản Hội Thánh cầm quyền thống nhất. Đó là Bí Pháp Cửu Trùng Đài thuộc gốc Thể Pháp Hiệp Thiên.
■ “Luật pháp của Đạo Cao Đài, ngoài ra luật bác ái và pháp công bình, tất cả luật đều khác, đều là phương pháp lấy giả tạo chơn mà thôi. Căn nguyên bổn thiện đều sẵn trong tánh đức mỗi người, phép chánh trị là ép nhơn sanh tùng bổn thiện. Đức tin và khôn ngoan là kho chí bửu, ngoài ra là của bỏ là đồ vô giá”.
Đạo có: Thể Pháp + Bí Pháp + Chơn Pháp = Chơn Đạo.
Ví dụ: 1 + 2 + 3 = 6
Vậy: ba thiệt tướng: Thể, Bí, Chơn hiệp một = là thiệt tướng của Chơn Đạo.
■ “Nhiều thiệt tướng hiệp lại thành thiệt tướng của Đạo”. Cho nên Chơn Đạo là giai đoạn chót cũng là sự thống nhất nhiều thiệt tướng của Đạo, đã đến lúc phải phản bổn về gốc, trở lại từ lúc ban đầu nơi Thể Pháp là trung cung hành thổ “chi chi cũng tại Đền Thánh Tây Ninh nầy mà thôi”. Nhưng tinh thần tiến hóa cao hơn, thay cũ đổi mới thành chất mới và lượng mới. Vậy pháp luân thường chuyển của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vận hành theo đường xoáy ốc, duy vật biện chứng gọi là qui luật phủ định của phủ định (3 lần…phủ định). Tinh thần Chơn Đạo là mạch giao chuyển giữa hạ ngươn tam chuyển đặng bước sang thượng ngươn tứ chuyển. Chơn Đạo xuất hiện từ năm 2008, rồi từ ngoài chuyển vào trong (“Thích Ca Đại Đàn – O Giờ tin mừng!” 7-8/4 Nhâm Thìn)…cũng là thời gian “nơi Cực Lạc thế giới nó phải vận hành mãi thôi cho đến ngày giờ đắc thành Chơn Đạo”.
“Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ
Giữa biển ai từng gặp lão Tô
Mượn thế đặng toan phương giác thế
Cũng như nương viết của chàng Hồ”
1- Nếu không thành thì Thể Pháp Hiệp Thiên, Đức Hộ Pháp cảnh báo mà chi:
- “Niệm và lấy dấu Phật, Pháp, Tăng Bần Đạo quả quyết thật đích xác ba ngôi ấy thế gian không một ai biết rõ”.
2- Đến Bí Pháp Hiệp Thiên, Đức Phi Phàm cho biết:
- “Đạt Đạo do hiệp Tam Bửu”.
3- Với Chơn Pháp Hiệp Thiên, Ngài Thanh Sử là Tín Đồ của Đức Phi Phàm quả quyết:
- “Tiền đề Phật, Pháp, Tăng phá tàn trận Vạn Tiên thì đắc thành Chơn Đạo”.
4- “Còn một mặt Tín Đồ Hội Thánh vẫn giữ quyền Hội Thánh”, cả kêu bạn đồng sanh qui y tăng tại Đền Thánh Tây Ninh “sớm hiệp cùng nhau tạo Niết Bàn”. Muốn Chơn Đạo thành “phải thúc nhặt bài vở cho kịp Long Hoa Đại Hội !”
Khi còn ở giai đoạn Bí Pháp Hiệp Thiên, đang giáo hóa các môn đồ, Đức Phi Phàm nhìn Ngài Thanh Sử nói tự nhiên: “Bây giờ người ta chê mình không chịu học, sau này học đệ tử chót”(đệ tử chót của Đức Phi phàm, thuộc góc HNPT). Cuối cùng đến Chơn Đạo Hiệp Thiên, buộc phải:
- Thi hành Nhơn Nghĩa (Trung, Hiếu, Nghĩa) tiến đến Đại Đồng.
Đức Hộ Pháp vấn nạn: “Thảng Chí Tôn đem triết lý ấy mà dung hòa cho họ được tương hội cùng nhau mà họ không nghe thì ta phải làm thế nào?”
■ Đức Lý trả lời: “Dầu đương nhiên họ không nghe, nhưng nhơn sanh sẽ biết điều trọng hệ ấy mà đòi hỏi thì họ phải chịu, chừng ấy nhơn sanh buộc hiệp, phải hiệp, bằng chẳng vậy, họ sẽ tự đào thải lấy họ”.
■ Đức Hộ Pháp khẳn định: “Trọng giá của Tam Bửu mà Chí Tôn ưa chuộng để dâng đại để cho Ngài là nguyên nhân chấm dứt cái họa tranh thù mà gây nên trường oan nghiệt cho toàn thế giới. Ấy vậy muốn duy trì sự hòa biết đại đồng này cũng do nơi gốc Bí Pháp đó mà thôi. Dầu triết lý thâm uyên đạo đức mà tôn giáo nào cũng không qua lẽ ấy. Mà nếu không đoạt được thì toàn lẽ ấy là đệ nhị xác thân của toàn thể ô trượt tội tình thì thế giới sẽ điêu tàn tiêu diệt mà chớ”.
Đã đến lúc âm tận dương sanh, nhơn loại đang sống trở lại trong tinh thần bổn thiện Thượng Ngươn Tứ Chuyển rồi đó! với chúng ta cam phận mạng danh Hội Thánh, anh phải dìu dắt em, về phần em phải nương dựa vào anh để đoạt thủ địa vị mình, thế mà hiện nay Hội Thánh em có:
- Chánh Trị Sự là Đầu Sư em, còn chưa muốn nhìn Đầu Sư anh của mình.
- Thông Trị Sự là Hộ Pháp em, cũng lấp lững mờ hồ không biết Hộ Pháp anh ở đâu?
- Phó Trị Sự là Giáo Tông em, thì cô quạnh kiếm tìm Giáo Tông anh nhưng chẳng thấy!
Thánh ngôn: “Chúng sanh chưa rõ nền Đạo quí trọng là dường nào, Đạo cũng do nơi phàm mà phát ra, và tiếp lấy cái thiêng liêng của Thầy mà hiệp đồng, mới sanh sanh hóa hóa, thấu đáo càn khôn. Người mà biết đạo, ấy kẻ hữu phần, còn người chưa thấu đáo nền đạo, ấy là kẻ vô duyên. Ấy vậy các con phải lưu tâm mà chấn hưng mối Đạo, ấy là kẻ bảo tồn quốc túy; lại là phương thoát tục, cơ trời Thầy không lẽ tỏ ra đây, song các con nên biết xét mình là đứng vào địa vị tối cao hơn muôn loại, nên các con phải có trí độ phi phàm thì mới có đủ tư cách làm người”.
Đức Chí Tôn dạy trong Thánh Ngôn: “Thầy trông mong nơi các con, chớ nên vì chuyện nhỏ mọn, mà bứt hẳn mối tương thân, tương ái, thì chẳng phải là đức tánh của tu hành…cử chỉ các con khá tập sao cho nghịch với cử chỉ thế tình, thì là gần ngôi tiên, phật đó”.
Cái khiếm khuyết của cả tín đồ Tam Kỳ Phổ Độ đối với các tôn giáo bạn bởi còn một chút phàm tâm làm cho thuyền đạo phải nặng tay chèo. Thôi thì, coi vậy chớ “người ta đi trước mà về sau, còn mình đi sau mà về trước”.
■ Cả kêu bạn đồng sanh, anh hào tuấn kiệt trong tinh thần Tam Thập Lục Thiên (ít nhất cũng 36 Thánh Thất, mỗi Thánh Thất 100 chữ ký công cử…) hiệp đồng tâm thành một khối thương yêu thi hành Nhơn Nghĩa, “tạo thành một lực lượng đủ chiến thắng đặng trở mặt ra với tinh thần cường liệt của Đức Chí Tôn, như chiến sỉ ra mặt trận mà sợ chết, sao đáng mặt tướng quân tướng soái”, sở dụng cây huệ kiếm thương yêu mà thu phục tâm lý Tam Thập lục động (36 đạo binh ) phản hồi nguyên bổn.
Đức Hộ Pháp cảnh giác: “ Tương lai thay đổi, phải mở con mắt thiêng liêng, lấy tinh thần toàn thể, dầu chức sắc Thiên Phong hay tín đồ cũng vậy, con mắt ấy là huệ nhãn phải mở cho rõ ràng minh mẫn đặng coi chừng thay đổi nền Chánh Giáo của Đức Chí Tôn vĩnh cửu trường tồn , đừng cho đổ sụp mà ngày sau ân hận”.
■ Từ khi Đạo Lịnh giải Thể 01/1979 xuất hiện, Ông Nguyễn Thành Tám bị thiêng liêng buộc làm công cụ cho:
1- Đức Hộ Pháp dục nghịch…
2- Lại vừa làm kỵ vật cho Đức Lý dục loạn, quậy đục lóng trong, đã vậy Ngài còn cảnh báo: “cái trò quỉ quái tinh ma là cái trò của lão”! Để khảo thí anh em chúng ta cho lòi ra trung, nịnh, phản; loạn thần (loạn Thầy) tặc tử. Tuy nhiên Đức Ngài cũng nhắc nhở: “Trong trận trí binh nầy nếu không đủ tài tình oai dõng thì chẳng hề thắng đặng”. Đức Ngài dục loạn! muốn thắng, chúng ta phải dục hòa! “Có hòa mới có hiệp, có hiệp mới có thương, thương yêu vô tận là chìa khóa mở cửa Bát Quái Đài tại thế nầy”.
“Muốn cho đôi đàng, hòa với nhau một cách hợp pháp, hòa với nhau một cách xứng đáng, thì ít nữa phương diện danh giá đôi đàng phải ngang nhau, đồng thể với nhau mới đặng. Xúm xít nhau mạnh yếu tùy phương, bảo thủ cây cờ Đạo của Thầy là Tòa Thánh, lại gắng tạo thành tại miền Cực Đông nơi Nam Việt nầy một cái Cao Đài, đặng làm soi sáng đến cảnh Cộng Hòa của toàn thế giới”.
■ Chủ quyền đạo Thể pháp Hội Thánh Cửu Trùng Đài (đàn cơ 1973 của HTĐ) vẫn còn trong tinh thần của Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh, Ngài là một đại diện duy nhất được chơn truyền từ Hiệp Thiên Đài. Ông anh thiêng liêng của chúng ta đã nhẫn nhục thí thân làm tế vật trong mặt trận trí binh nầy, Ông không thể tự bào chửa cho mình, vậy mất lẽ công bình sao? Chỉ do nơi chúng ta, em phải biết anh, cả thảy đàn em sẽ bào chửa, sẽ lóng trong cho anh, mình không thương mình biểu thiên hạ thương mình sao đặng?
“Phi phàm là hành vi khác hẳn với thế tình, mắt đời ít hay thường thấy. Tâm thiện của các Ngài dìu dắt dạy khuyên, đặng biết người biết mình, xem đời định thế; lòng lẫn truất thương sanh đầy dẫy, hiểu đặng cái khổ của mình nên không hay ngồi xem cái khổ của người, đã chán chịu đau đớn của mình nên không nở làm đau kẻ khác; nếm đủ mùi sầu thảm nên hằng mong gở thảm giải sầu; ở cùng đời đặng chia khổ với đời, lẫn theo thế mới chung than cùng thế; lịch lãm những màu thế sự, vài vã tháu cho đáng phận con người, cân oan giai nhắc đúng mực nẻ bao mươi, thì mới biết thương đời lo cứu khổ”.
■ “Năm Rồng đỡ nỗi đầu thuyền” (Nhâm Thìn 2012), là cơ chuyển pháp khai trận Vạn Tiên Phong Thần tái diễn mà “Đức Chí Tôn đã bí mật để trong cửa Đạo Cao Đài”. Để hội đủ điều kiện thuận lợi cho Đề thi Nhơn Nghĩa trước mặt Đền Thánh Tây Ninh (Thích Ca Đại Đàn - O giờ tin mừng!) bổn phận của chúng ta nên công cử Ngài Đầu Sư phái Thượng lên Quyền Giáo Tông mới ngang hàng phẩm giá giữa đạo lẫn đời, tại sao Đầu Sư không lên Giáo Tông? Bởi ngôi vị Giáo Tông Thiêng Liêng Phật Vị (Thiên Đạo) của hai Đấng Từ Phụ và Từ Mẫu.
Bổn phận làm con thay quyền cha mẹ tại thế (Thế Đạo) thật thi Nhơn Nghĩa chỉ có ngôi vị Quyền Giáo Tông mà thôi.
Ban sơ khai Đạo Cao Đài, Chí Tôn đã cặm bông tiêu trước là Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt nghĩa là anh cả kia rồi.
“Cửu Trùng Đài phù hạp với Cửu Trùng Thiên thì dầu cho cả chơn linh trong càn khôn thế giới cũng phải vào nơi đó đoạt cho đặng các phẩm vị giả trạng ấy, mới mong mỏi tạo lập Thiên vị mình. Chẳng vào cửa đạo hiệp cùng Cửu Trùng Đài thì chẳng đi đường nào mà vào Cửu Trùng Thiên cho đặng. Các chơn hồn dầu đầu kiếp hay tái kiếp cũng đi từ Đền Thánh này vì Đền Thánh này là một trường thi”. Lấy chơn đổi giả, đoạt khuê bài thiêng liêng vị một cách công bằng, tâm phục khẩu phục lên bảng PHONG THÁNH xuất hiện kỳ ba.
“Cái nền nhơn nghĩa của chúng ta, nó có thể làm môi giới cho các chủng tộc trên thế giới, đạo nhơn nghĩa của chúng ta là một căn bản của quốc thể của nước Việt Nam và có thể thành Quốc Đạo được”.
Kính thưa, toàn thể chư quí vị anh hào, tuấn kiệt.
Đức Giáo Chủ Hộ Pháp, thường nhắc nhở:
● “Nơi cõi trần nầy, lẽ sống của chúng ta không phải sống trong hạnh phúc của chúng ta, mà ta sống trong hạnh phúc của toàn thể anh em chúng ta. Hạnh phúc ấy mới thật, mới bền bỉ, trường tồn vĩnh cửu”.
● Cái trọng hệ là “Giờ phút nào nhơn loại biết yêu ái Hòa Bình, biết lấy thân mình giúp thân nhơn loại, lấy thân mình giúp lẫn nhau, hạnh phúc mới có thiệt tướng”.
● “Linh hồn kẻ có đạo luôn lựa đường quang đi, danh chánh ngôn thuận, nẻo rậm tránh, dám hy sinh tất cả cho quyền lợi quốc gia. Vì kẻ đó nghĩ rằng, quốc gia có chủ quyền thì nước mới có đạo, mỗi nước có quốc đạo thì dân tộc ở trong nước đó mới tìm thấy lẽ sinh tồn, thái bình tự trị”.
Kính thưa chư hiền, chí sĩ tâm thành.
“Trái đất nầy là của chúng mình”, hãy thương nhau đi! đừng ghét!
- Thương thì được an bình hạnh phúc.
- Ghét bị sa vào hỏa ngục chiến tranh.
. Mình không thương mình, biểu thiên hạ thương mình sao đặng?
. Mình không giúp mình, thì còn giúp được mấy ai !
. Mình không cứu được mình, thì đừng gạt thiên hạ rằng Đạo Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ trương cờ cứu thế.
Đức Giáo Chủ Hộ Pháp nhắc nhở:
“Giải pháp cứu thế là giải pháp của Đạo mà có. Chúng ta có thể tạo ra giải pháp đặng cứu thế. Nếu đặng hay chăng là nơi tâm đức của toàn con cái của Ngài trong cửa Đạo nầy đó vậy”.
Đã đến giờ phút chót, Đức Ngài phải nói, nói quả quyết rằng:
“Một nền tôn giáo mà chúng ta đang theo đây phải có tinh thần đặc biệt của nó, mà chỉ có tinh thần ấy mới có đủ oai quyền đảm nhiệm trách vụ nặng nề của nó mà thôi. Nó đem cơ quan cứu thế để tại mặt thế gian nầy, nó phải có phương pháp để chứng tỏ rằng nó đủ quyền năng cứu thế, thì nó mới có giá trị và lý do tồn tại, bằng chẳng vậy, thì Đạo Cao Đài bất quá là một lý thuyết mộng ảo mà thôi”. Toàn thể môn đồ Cao Đài hãy cân nhắc lại mình đi ! Sự chơn giả, vinh nhục của Đại Đạo Tam Kỳ chỉ cách nhau bởi một chút phàm tâm là do nơi anh em ta mà ra vậy.
Tây Ninh chúng ta sẽ làm gương báu, tin chắc bản chất Nhơn Nghĩa của toàn thể dân tộc Việt Nam 4000 năm văn hiến phải làm được.
Muốn cho Đạo Đời được tương đắc, chỉ có Thương mà thôi.
Muốn cho hai thuyết duy Vật và duy Tâm hiệp nhứt, cũng Duy chỉ có một chữ Thương mà thành đặng.
- Duy Vật là duy có con người, chỉ có con người mới làm chúa cả thế giới vật chất.
- Duy Tâm là chỉ có Thương.
Cả hai: Vật và Tâm là chơn chánh, vốn đồng một thể, tại con người phân ra mới có phúc và họa rồi đổ lỗi do trời.
- Con người mà không biết thương yêu ắt phát khởi chiến tranh, cũng như con người mà vô ý thức thì sanh loạn, bởi gốc vật chất khí sẽ thoái bộ hoàn nguyên là vật chất.
- Là con người phải có thương yêu, do thương yêu mà vật chất mới tấn hóa thành… người (hóa nhân). Ngày giờ nào toàn thể nhơn loại biết cái trọng giá của thương yêu, hiệp lại thành một khối thương yêu, đó là Pháp Thân huệ kiếm đánh tiêu chiến tranh, hòa bình xuất hiện. bởi vì:
- Nguyên nhân phát khởi chiến tranh thì phân bửu (Vật – Tâm).
- Muốn tiến đến hòa bình phải hiệp bửu (Người) chắc hẳn vậy.
Chủ quyền đạo, Thể Pháp Cửu Trùng Đài (đàn cơ 1973) vẫn còn trong tinh thần của Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh, tức Hiệp Thiên Đài còn thì Đạo còn, chơn tướng đó chớ ! Ngoài ra là giả tướng. Ông là một nhân chứng sống, “còn một mặt tín đồ Hội Thánh vẫn giữ quyền Hội Thánh” lập được đại kỳ công.
Cho nên, chúng ta phải trân trọng và chấp nhận sự chơn thật, hãy lấy lòng quãng đại xóa bỏ tâm lý hẹp hòi, ở thế nầy có ai toàn đâu? Hãy nâng cao thánh chất thương yêu, công cử Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh lên Quyền Giáo Tông để ngang hàng phẩm giá giữa đạo lẫn đời, mới xứng với danh phận thay mặt Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh.
Từ khi đạo lịnh giải thể 01/1979 xuất hiện cho đến nay. Chúng ta vui mừng và tin tưởng cái tinh thần tự chủ quyết đoán của Ngài Đầu Sư, vừa ý muốn vừa ý định của Hiệp thiên Đài đã kế thừa đại nghiệp, được sự cộng hiệp hết thảy bạn đồng sanh trong và ngoài nước, chung một tinh thần giúp cho Thể Pháp chơn truyền biến tướng ngày thêm xinh lịch, đẹp đạo tốt đời.
Cả thảy chúng ta đề cử Ngài, khác chi trước đây (Đàn cơ 1973) một mình Đức Lý đã buộc Ngài, thử hỏi Đức Lý lầm sao? Nếu Đức Lý lầm thì Hiệp Thiên Đài thành ra giả tướng? Trọng quyền ắt trọng phạt đó chớ ! Ngài Đầu Sư muốn lắm sao? nhiều điều trái hẳn với thế tình: có những kẻ muốn thì lại khác, mà không muốn thì lại khác là vậy.
Hãy thương lún thương càn đi coi ngày kia có lầm chăng.
“Giáo Tông đến hội Trung Thu,
Phản hồi nguyên bổn đông du chín vì”.
Hẹn gặp nhau, ngày lễ tấn phong Quyền Giáo Tông tại Đền Thánh Tây Ninh. Đó là một ngày vui, mừng, thương (tức con đường Thánh Hỉ-Lạc- Ái nơi Tây Phương Cực Lạc) không tỏa được.
“Về bến Tây Ninh Cực Lạc Đài”.
■ Đức Hiến Pháp Quan Âm, giáo hóa lớp Bí Pháp Hiệp Thiên Đài có giao phận sự cho các Tín Đồ qua bài thi:
SỨ MẠNG
“Sứ mạng làm xong mới nghĩ an,
Dầu phần lớn nhỏ cũng Trời ban.
Lớn thì lao trí vì vai gánh,
Nhỏ lại sức mòn bởi sở năng.
Lớn nhỏ thi đua thành đại nghiệp,
Nhỏ to quyết chí định an bang.
Hiền tài nhân sĩ ưu thời thế,
Sớm hiệp cùng nhau tạo Niết Bàn”
Ngày 3/6 Nhâm Thìn (21-7-2012)
- Thanh Liên Bửu Sắc -
(đồ phi)