Bao Giờ Con Mới Thức Thời
Tâm sự của Cao Quỳnh Tuệ Lâm
Bạn tôi tâm sự :
Tôi có một đứa con gái, được minh hệ nhập môn tại Tòa Thánh Tây Ninh, vì nó là Việt Kiều Australia nên được ân huệ nầy. Nhưng trở về Aus. Nó cứ đến Chùa Phật Đà sinh hoạt. Việc này là điều buồn bực nhứt của đời tôi !
Tôi đã từng nói : Tình thương tôi trao cho người cùng chung chí hướng, dù không liên hệ máu thịt, ruột rà. Tội đặt tên cho con : Hoà - Thuận – Đồng – Chí - Vạn - Sự - Thành, thì nay ứng hiện chăng ? !
Nếu vậy, tôi cố gắng áp dụng Tình Thương của đức Chí Tôn thêm rộng mãi.
Tôi say mê đọc Thánh Ngôn Hiệp Tuyển (TNHT) và mỗi lần đọc những đoạn như sau, tôi rơi nước mắt. Tôi khóc cho mình hay khóc cả sanh linh, còn đam mê trong tinh thẩn Nhị kỳ phổ độ.
TNHT ghi :
7. Vĩnh Nguyên Tự, 7-4-1926 (âl 25-2-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
giáo đạo Nam phương
Nhiên Ðăng Cổ Phật thị Ngã,
Thích Ca Mâu Ni thị Ngã,
Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã,
Kim viết Cao Ðài.
CHÚ THÍCH: (của HT. Nguyễn văn Hồng)
Vĩnh Nguyên Tự: Ở xã Tân An, quận Cần Giuộc, do Thái Lão Sư Lê Văn Tiểng, pháp danh Lê Ðạo Long tu theo Minh Ðường (trong Ngũ Chi Minh Ðạo) lập nên. Trước khi Ngài Lê Ðạo Long đăng Tiên, Ngài có tiên tri: " Nơi đây là Thập nhị Khai Thiên, cơ quan của ÐÐTKPÐ hoằng khai chánh giáo chơn truyền."
Ngài dạy các môn đệ phải tùng ÐÐTKPÐ. Ông Lê Văn Lịch là con ruột của Ngài, được Ðức Chí Tôn phong Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt; Thái Lão Sư Trần Văn Thụ, pháp danh Trần Ðạo Minh, là môn đệ lớn nhất của Ngài, nhập ÐÐTKPÐ, được Ðức Chí Tôn ân phong là Ngọc Chưởng Pháp.
Vĩnh Nguyên Tự trở thành một trong những Thánh Thất đầu tiên của Ðạo Cao Ðài.
Nhiên Ðăng Cổ Phật: Giáo chủ Phật giáo thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ.
Thích Ca Mâu Ni: Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni là Giáo chủ Phật giáo thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ.
Thái Thượng Nguơn Thỉ: Ðức Thái Thượng Ðạo Tổ và Ðức Nguơn Thỉ Thiên Tôn là Giáo chủ Tiên giáo vào hai thời kỳ: Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Ðộ.
Thị Ngã: Ấy là TA. Kim viết: Nay gọi rằng.
Cao Ðài: Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.
Trong tập PHỔ CÁO CHÚNG SANH, đề ngày 13-10-1926, nơi trang 4, bài Thánh Ngôn trên có thêm một câu là: "Gia Tô Giáo Chủ thị Ngã", chép ra như sau:
"Nhiên Ðăng Cổ Phật thị Ngã,
Thích Ca Mâu Ni Phật thị Ngã,
Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã,
Gia Tô Giáo Chủ thị Ngã,
Kim viết Cao Ðài Bồ Tát Ma Ha Tát."
----------------------
8. Ngày 8-4-1926 (âl 26-2-Bính Dần)
THÍCH CA MÂU NI PHẬT
giáng cơ:
Thích Ca Mâu Ni Phật
Chuyển Phật Ðạo,
Chuyển Phật Pháp,
Chuyển Phật Tăng,
Qui nguyên Ðại Ðạo,
Tri hồ chư chúng sanh?
Khánh hỷ! Khánh hỷ! Hội đắc Tam Kỳ Phổ Ðộ, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đại hỷ phát đại tiếu!
Ngã vô lự Tam đồ chi khổ.
Khả tùng giáo Ngọc Ðế viết Cao Ðài Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát.
CAO ÐÀI
Lịch! Con nghe Phật Như Lai nói chưa?
Tam Kỳ Phổ Ðộ là gì? Là Phổ Ðộ lần thứ ba.
Sao gọi là Phổ Ðộ? Phổ Ðộ nghĩa là gì?
Phổ là bày ra. Ðộ là gì? Là cứu chúng sanh.
Muốn trọn hai chữ Phổ Ðộ, phải làm thế nào?
Chúng sanh là gì?
Chúng sanh là toàn cả nhơn loại chớ không phải lựa chọn một phần người, như ý phàm tục các con tính rỗi.
Muốn trọn hai chữ Phổ Ðộ, phải làm thế nào? Thầy hỏi? Phải bày Bửu pháp chớ không đặng giấu nữa. Con phải luyện lại cho thành, nội trong tháng 5 nầy về theo Trung đặng đi truyền đạo.
Nghe và tuân theo.
Phải mặc y phục như Trung mà màu hồng.
CHÚ THÍCH: (của HT. Nguyễn văn Hồng)
Phần đầu của bài Thánh Ngôn nầy là Ðức Phật Thích Ca giáng cơ, bằng Hán văn.
Phần tiếp theo là Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy Ngài Lê Văn Lịch, và câu chót thì Ðức Chí Tôn định phong Ngài Lê Văn Lịch vào phẩm Ðầu Sư cùng với Ngài Lê Văn Trung, nhưng phái Ngọc, mặc áo màu đỏ.
Ngài Thượng Ðầu Sư Lê Văn Trung, Thánh danh là Thượng Trung Nhựt.
Ngài Ngọc Ðầu Sư Lê Văn Lịch, Thánh danh là Ngọc Lịch Nguyệt. (Ðầu Sư phái Thái, Ðức Chí Tôn chưa phong).
Phật, Pháp, Tăng: Ở đây là Tam Bảo của nhà Phật: Phật là Ðức Phật, Pháp là Giáo lý và Tăng là Giáo hội.
Chuyển Phật Ðạo, Chuyển Phật Pháp, Chuyển Phật Tăng, qui nguyên Ðại Ðạo là chuyển toàn cả Phật giáo trở về gốc là ÐÐTKPÐ.
Tri hồ chư chúng sanh? là Chúng sanh biết chăng?
Khánh hỷ! Nghĩa là: Vui mừng.
Hội đắc Tam Kỳ Phổ Ðộ: Gặp được ÐÐTKPÐ.
Ðại hỷ: Mừng lớn. Phát đại tiếu: Phát cười lớn.
Ngã vô lự Tam đồ chi khổ: Ta không lo cái khổ của ba đường. Ba đường nầy là ba đường luân hồi khổ sở (nằm trong Lục đạo Luân hồi), gồm: Ðịa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh.
Khả tùng giáo Ngọc Ðế: Khá theo lời dạy của Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế (nói tắt là Ðấng Ngọc Ðế).
Chúng sanh, theo nghĩa rộng, là toàn cả các vật hữu sanh nơi cõi trần, gồm: Kim thạch, Thảo mộc, Thú cầm và Nhơn loại. Chúng sanh có được do Ðức Phật Mẫu vận chuyển Bát hồn đầu kiếp xuống cõi trần làm chúng sanh. Trong nghĩa hẹp, chúng sanh là chỉ nhơn loại.
Bát hồn gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn. Trong bài Phật Mẫu Chơn Kinh có câu: "Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sanh."
Bửu pháp: Pháp quí báu, ở đây, bửu pháp có nghĩa là các pháp môn tu Thiền, Tịnh luyện. Các bửu pháp nầy Ngài Lê Văn Lịch học được nơi thân phụ của Ngài là Thái Lão Sư Lê Văn Tiểng truyền lại. (Thái Lão Sư Lê Văn Tiểng giáng cơ cho biết đã tu đắc quả Như Ý Ðạo Thoàn Chơn Nhơn).
--------------------------
- Chữ “luyện” ở đây, gây hoang mang, tranh cãi giữa hai khuynh hướng vô vi (chuyên luyện đạo) và phổ độ.
- Mệnh đề : “nội trong tháng năm nầy về theo Trung đặng đi truyền đạo .
Bài Thánh giáo này được giáng vào khoảng tháng 3 năm Bính Dần, tức trước ngày Khai Dạo (rằm tháng 10 năm Bính Dần). Lúc này chưa có Hội Thánh, chư vị Tiền Khai còn ở tư gia nên Thầy dạy Ngài Lịch mệnh đề trên.
12. Trường Sanh Tự (Cần Giuộc)
Chúa nhựt, 30-5-1926 (âl 19-4-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
giáo đạo Nam phương
… (…) …
Từ trước, Ta giáng sanh lập Phật giáo gần sáu ngàn năm thì Phật đạo chánh truyền gần thay đổi. Ta hằng nghe chúng sanh nói "Phật giả vô ngôn"! Nay nhứt định lấy huyền diệu mà giáo đạo, chớ không giáng sanh nữa, đặng chuyển Phật giáo lại cho hoàn toàn.
Dường nầy, từ đây chư chúng sanh chẳng tu bị đọa A Tỳ thì hết lời nói rằng: "Phật tông vô giáo" mà chối tội nữa.
Ta nói cho chúng sanh biết rằng: Gặp Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.
Tại đây là một nơi Ta khởi chế sự "Tế lễ thờ phượng" lại.
Bổn hội nghe:
Giữa chùa, gần 2 tran thờ Quan Âm Bồ Tát và Quan Thánh Ðế Quân, phải lập ra một điện để Thánh Tượng Ta ở giữa. Bên mặt Ta để tượng Quan Âm, bên trái thì tượng Quan Ðế, còn chư Tiên, chư Thánh, chư Phật, để hàng dưới.
Xưng hiệu chùa là "Ngọc Hoàng Tự".
CHÚ THÍCH:
… (…) …
Chánh truyền: Giáo lý được truyền lại một cách đúng đắn và chơn thật.
Phật giả vô ngôn: Phật không có nói.
Phật tông vô giáo: Ðạo Phật không có dạy.
Siêu rỗi: Cứu vớt linh hồn cho siêu thăng.
Khởi chế: Bắt đầu tạo ra.
Bổn hội: Những người ở trong hội của chùa nầy.
Lưu ý: Phần chót của bài Thánh Ngôn nầy, từ chữ " Tại đây là một nơi . . . . cho đến chùa là Ngọc Hoàng Tự " không có in trong các bản TNHT năm 1931, 1950, 1957.
Ngọc Hoàng Tự không lạ với những người quan tâm. Nay còn di tích là tấm hoành treo ở Vạn Pháp Cung và cũng vì ý này mà có người lầm tưởng đạo Cao Dài thoát thai từ Phật giáo. Tư tưởng này hổ trợ những người phạm thể lấy lại niềm tin, tín đồ Cao Dài / TTTN chạy theo Phật giáo. Như con gái tôi, là vô tội.
Về khoảng này có người nhầm lẫn giữa đạo Cao Dài và đạo Phật Giáo Hòa Hảo giống nhau là cùng gốc với Dạo Phật.
Trong thời Pháp thuộc, đức Hộ Pháp có dạy một số con em nhà đạo vào chân núi Bà Den, tự lực cánh sinh tu hành. Nhóm người này là tiền thân của Vạn Pháp Cung. Nay họ vẫn giữ y phục màu nâu như Phật giáo. Nghe nói nhóm người này tự xưng mình là Phật giáo chấn hung, vì Phật giáo mà tụng kinh, bài lể không giống chùa Phật chút nào !
Bài Thánh giáo sau đây rõ ràng hơn:
14.Hội Phước Tự (Cần Giuộc)
Thứ bảy, 5-6-1926 (âl 25-4-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
giáo đạo Nam phương
Cư, đọc Thánh Ngôn.
Tắc, tụng Nhơn Quả.
Thích Ca Như Lai thị Ngã, dục cứu chúng sanh, tá danh Cao Ðài Ðại Bồ Tát. Nhữ tri hồ?
Hữu Ngã đồ Thái Ðầu Sư tại thử, nhĩ vô thức luyện đạo, Ngã phái Ngọc Ðầu Sư chỉ giáo thọ bửu pháp.
Tam thập tứ vị chúng sơn bất tri chơn lý luyện thành.
Ngã vi Chủ khảo giáo hóa. Khả tuân Ngã mạng.
Nhữ đẳng tu thọ pháp, tu thọ pháp. Khâm tai!
THÍCH CA NHƯ LAI kim viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT
Chư sơn nghe dạy:
Vốn từ Lục Tổ thì Phật giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành. Chánh pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh giáo, lập riêng pháp luật buộc mối đạo Thiền.
Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã ra cho nên cam để vậy, làm cho Phật tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay. Vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thiên Ðịa hoằng khai, nơi Tây Phương Cực Lạc và Ngọc Hư Cung mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh.
Trong Phật Tông Nguyên Lý đã cho hiểu trước đến buổi hôm nay rồi, tại tăng đồ không kiếm chơn lý mà hiểu.
Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo. Ôi! Thương thay! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà Ta rất đau lòng.
Ta đến chẳng phải cứu một mình chư tăng mà thôi, vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đọa hồng trần, Ta đương lo cứu vớt.
Chư tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót, phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật.
Chư sơn đắc đạo cùng chăng là do nơi mình hành đạo. Phép hành đạo Phật giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến Tả Ðạo Bàng Môn. Kỳ truyền đã thất, chư sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào, cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây phương mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy.
Ta đã đến với huyền diệu nầy thì từ đây, Ta cũng cho chư tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền. Chư tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa.
CHÚ THÍCH:
Hội Phước Tự: Một ngôi chùa ở Cần Giuộc mà vị sư trụ trì là Yết Ma Luật (Nguyễn văn Luật). Tháng 4 năm Bính Dần (1926), Hội Phước Tự tổ chức trường hương, Hòa Thượng Thích Thiện Minh làm Thiền chủ. Chư vị lập đàn cầu cơ, tiếp được bài Thánh Ngôn nầy. Hòa Thượng Thiện Minh được Ðức Chí Tôn phong làm Ðầu Sư phái Thái, Thánh danh Thái Minh Tinh. Sau, Yết Ma Luật được Ðức Chí Tôn phong Giáo Sư phái Thái là Thái Luật Thanh. (Tài liệu của Huệ Nhẫn)
Cư: Ðức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư.
Tắc: Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.
Tắc tụng Nhơn Quả: Ðức Chí Tôn bảo Ngài Phạm Công Tắc tụng Kinh Nhơn Quả. Kinh Nhơn Quả là Kinh Sám Hối, thỉnh bên Minh Lý (Tam Tông Miếu).
Chúng sơn: Các tu sĩ Phật giáo, đồng nghĩa chư tăng.
Chủ khảo: Người chủ trì việc thi tuyển học viên.
Diễn nôm đoạn Thánh Ngôn chữ Hán:
Thích Ca Như Lai là Ta, muốn cứu chúng sanh, mượn tên là Cao Ðài Ðại Bồ Tát. Ngươi biết chăng?
Có môn đệ của Ta là Thái Ðầu Sư (Thái Minh Tinh) tại đây, nó không biết luyện đạo, Ta phái Ngọc Ðầu Sư (Ngọc Lịch Nguyệt) chỉ vẽ cho để nhận lãnh bửu pháp.
Ba mươi bốn vị tăng không biết chơn lý luyện thành.
Ta làm Chủ khảo giáo hóa. Khá tuân lệnh Ta.
Các ngươi nên thọ pháp, nên thọ pháp. Kính vậy thay!
Ðạo bị bế lại: Chánh pháp tu đắc đạo bị đóng lại, làm người tu không thể thành Chánh quả được; giống như trường thi đóng cửa, không tổ chức thi tuyển thì đâu có ai thi đậu.
Huệ Năng - Thần Tú: Hai vị nầy đều là học trò của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn của Phật giáo Trung Hoa. Thần Tú học với Hoằng Nhẫn nhiều năm nhưng chưa tỏ ngộ được Chơn tánh. Huệ năng mới học với Ngũ Tổ có 8 tháng nhưng lại ngộ đạo, thấy được Chơn tánh, đạt được trí huệ. Do đó, Ngũ Tổ truyền Y Bát cho Huệ Năng làm Lục Tổ Phật giáo, dạy xuống miền Nam hoằng pháp, truyền bá phép tu Ðốn ngộ.
Sư Thần Tú có phần buồn nên đi lên phía Bắc hành đạo, truyền bá phép tu Tiệm ngộ. Lúc bấy giờ, Phật giáo Trung hoa chia ra: Nam Tông của Lục Tổ Huệ Năng và Bắc Tông của Ðại sư Thần Tú. Nhưng Nam Tông mới là chánh truyền vì Lục Tổ Huệ Năng có Y Bát.
Mật chiếu: Mệnh lệnh bí mật của Ðức Chí Tôn.
Phật Tông Nguyên Lý: là quyển Kinh Phật viết vào thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, trong đó có nêu 6 chữ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, và viết rằng: Sau Ðức Thích Ca, sẽ có một Ðức Phật rất lớn giáng trần mở đạo." Ðó là Ðức Chí Tôn mở Ðạo Cao Ðài ngày nay đó vậy. (theo Huệ Lương)
Hiếm: Có 2 nghĩa tùy theo trường hợp: Ít có - Nhiều. Trong bài Thánh Ngôn nầy, Hiếm là nhiều (từ ngữ xưa) (theo Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của).
Giả luật: Ý nói luật tu không đưa đến sự đắc đạo. Trái với Giả luật là Chơn luật. Giả là không thật. Chơn là thật.
Tả Ðạo: Ðạo không đúng đắn. Tả là sai trái.
Bàng Môn: Cửa bên hông chớ không phải cửa chánh. Ý nói không phải Ðạo Chánh.
Tả đạo Bàng môn: Chỉ các tôn giáo không chơn chánh, đưa người tu đến chỗ lầm lạc, không thành Chánh quả, không giải thoát khỏi luân hồi.
Kỳ truyền đã thất: Cái Chơn truyền ấy đã mất. Chơn truyền là giáo lý chơn thật đúng đắn được Ðấng Giáo chủ truyền lại cho các môn đồ.
Bài này hãy chú ý đoạn : thì đương mong mỏi về Tây phương mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy.
Câu [… cửa Tây Phương vẫn cứ bị đóng …], tôi thắc mắc gần 20 năm, sau này đọc Con Dường Thiêng Liêng Hằng Sống, đoạn đức Hộ Pháp giảng về Cực Lạc Môn Ngoại, mới sáng mắt và thêm tin chắc hơn.
Khi ở Ngọc-Hư-Cung Linh-Tiêu-Điện, Bần-Đạo đặng Thánh-Lịnh của Đức Chí-Tôn sai qua mở Cực-Lạc Thế-Giới. Buổi ban sơ, tinh-thần của Bần-Đạo còn hoang mang, không có biết sao lại còn có bổn phận đi mở Cực-Lạc Thế-Giới nữa. Cực-Lạc Thế-Giới là gì? Sao lại phải đi mở? Bần-Đạo tự hỏi. Tới chừng đi rồi mới biết tình-trạng của các Đẳng Chơn-Linh đã đoạt-vị trong Càn-Khôn Vũ-Trụ chịu nạn khảo-thí do nơi Kim-Quang-Sứ. Kim-Quang-Sứ đã đặng Đức Chí-Tôn cho làm Giám-Khảo kỳ thi Hạ-Ngươn Tam-Chuyển qua Thượng-Ngươn Tứ-Chuyển này. (CDTLHS – dem 19-4-1949)
. . . khi tới cửa Cực-Lạc Thế-Giới môn-ngoại, khi gần tới thấy có hai cái chong chóng, hai cái chong chóng ấy quay tròn luôn, nếu chúng ta lấy trí tưởng-tượng chong chóng quay thì mặt dưới lên tới mặt trên ít nữa nó cũng năm mười ngàn thước đặng ngăn Cực-Lạc Thế-Giới môn ngoại như Vạn-Lý Trường-Thành không có một người nào qua lọt.
Hai cửa ấy, một cửa hóa ra hào-quang trắng, một cửa hóa ra hào-quang đỏ hồng hồng, mới ngó thấy hai cửa ấy tôi không biết gì hết. Ấy là hai cái cửa, tới chừng tôi dùng cây Giáng-Ma-Xử trong thân tôi định thần chỉ ngay vào bảo ngừng thì nó liền ngừng lại, coi kỹ vòng tròn trắng ấy là chữ Vạn. Tôi vừa biểu ngừng thì mấy người ở Cực-Lạc Môn-Ngoại chạy ùa vào, chừng vô được một mớ, tôi chỉ bên kia biểu ngừng cũng chạy vô được một mớ nữa.
Vô rồi thấy có một Vị Phật đứng ở trên hai tay bắt ấn liệng xuống chữ Vạn thì chữ Vạn quay nữa, thành thử họ vô được một mớ.
Khi tôi bắt đứng hai chữ Vạn lại, phải chăng vì nơi Cực-Lạc Môn-Ngoại có các Đẳng chơn-hồn đã đoạt-vị mà bị Pháp-Giới đã bế, khiến cho Tôi đi đến đó đặng bắt hai chữ Vạn ngừng lại cho họ vào. Tới chừng Vị Phật kia cho hai chữ Vạn chạy lại, tôi dám chắc các Đẳng Chơn-Hồn vô cửa Cực-Lạc Thế-Giới đã hết. Đó là do Thánh-ý của Đức Chí-Tôn chớ không phải theo con mắt của chúng ta tưởng, đó là sự tình cờ.
Ấy vậy, Đức Chí-Tôn sai qua mở cửa Cực-Lạc Thế-Giới:
1- Vì đường từ Linh-Tiêu-Điện Ngọc-Hư-Cung qua Cực-Lạc Thế-Giới buổi nọ bị Kim-Quang-Sứ đón đường.
2- Các vị Tăng-Đồ từ trước có tu mà thành thì không thành, vì bị thất Pháp-Bửu nên bị đồ lưu nơi Cực-Lạc Môn-Ngoại.
Đức Chí-Tôn biểu qua đó dẫn các chơn-hồn dành để cho có ngôi-vị nơi Cực-Lạc Thế-Giới. (CDTLHS – 19-4-1949).
Kết luân :
Với những lời dẫn dụ từ Thánh Ngôn Hiệp Tuyền xác quyết : “Vốn từ Lục Tổ thì Phật Giáo đã bị bế lại cho nên tu hữu công mà thành thì chẳng thành …” và Lời Tôn Sư Hộ Pháp kể việc vâng lịnh Chí Tôn mở cửa Cực Lạc Môn Ngoại, không biết có đủ khả năng đánh thức những tín đồ đang phạm thệ, trong đó có con gái tôi, mà thức tỉnh để đồng nhìn nhận như Dức Hộ Pháp dạy trong quyền Bí Pháp D.D.T.K.P.D : “Thời đại văn minh khoa học, bí pháp đơn sơ của các Tôn giáo hiện hữu không còn đủ quyền năng giúp cho nhân loại giải thoát. Vì vậy mới có Đạo Cao Đài, do chính Người (Đức Thương Đế) sáng lập qua phương pháp tân kỳ chưa từng có trong Cộng đồng tôn giáo.
Ngày nay Đức-Chí-Tôn đến, đem nền Tôn-Giáo của Ngài để tại mặt thế nầy, đặng chỉnh đốn đạo-đức tinh-thần từ thượng cổ đến giờ, bằng huyền diệu cơ bút. Ngài đến không có quyền nào ngăn cản, Ngài dạy con cái của Ngài, Ngài có quyền đem cơ bí-mật huyền vi Tạo-Đoan giáo-hóa con cái của Ngài.”
Cầu mong mọi người con em nhà Dao sáng suốt tiếp nối con đường Dạo ông cha đã chọn, cho trọn kiếp sanh, may duyên gặp Dạo Kỳ Ba./-
14: 30 pm - ngày 28-6-2012
Cao Quỳnh Tuệ Lâm
Phần liên quan cần đọc .
Tam Trấn
9-8-1926 – 1-7-BD
(chừa các phần trên)
* Lần thứ tư (12 giờ khuya), TÁI CẦU:
Trong Tam Kỳ Phổ Ðộ và qui Tam giáo nầy,
Phật thì có Quan Âm,
Tiên thì có Lý Thái Bạch,
Thánh thì có Quan Thánh Ðế Quân, khai đạo.
Vậy con lập cho đủ Ba Trấn chứng đàn, con phải lập bàn Ngũ Lôi như Thầy dạy lúc trước, phải có bùa Kim Quang Tiên, còn con viết bùa Giáng Ma Xử để bàn vọng Hộ Pháp, rồi Cư chấp bút nhang cho Thầy triệu Ngũ Lôi đến, rồi nó xuống đứng gần bàn Hộ Pháp với Tắc và Sang, còn mấy đứa phò loan đứng vòng theo đó.
Con biểu Tương, Kim, Thơ, thề y như buổi trước, chư môn đệ thề như buổi Thiên phong.
Con phải nhớ dặn chúng nó tịnh tâm mới đặng, vì có cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật chứng đàn.
Các con nghe Tịch Ðạo:
THI:
THANH đạo tam khai thất ức niên,
Thọ như địa quyển thạnh hòa Thiên.
Vô hư qui phục nhơn sanh khí,
Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.
THANH là Tịch các con.
Vậy thì, Tương là Thượng Tương Thanh,
Kim là Thượng Kim Thanh,
Thơ là Thái Thơ Thanh.
Phải dùng tên ấy mà thề.
Trong phần này cần lưu ý “Phật thì có”Quan Ấm “ cụm từ trên có nghĩa Phật giáo đã bị bế, “tu có công mà thành thì chẳng thành”.
Muốn rõ hơn vể Vai trò Quan Ấm trong D.D.T.K.P.D, Mời xem Cao Dài Tự Diễn giải thích như sau :
Trong Đạo Cao Đài, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Nữ Phật, đại diện Đức Phật Thích Ca, lãnh lịnh Đức Chí Tôn làm Đệ Nhị Trấn Oai Nghiêm, cầm quyền Phật giáo thời ĐĐTKPĐ.
Trên tấm diềm phía trước Bát Quái Đài Tòa Thánh, tượng của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen, gần bìa phía tay mặt của Đức Lão Tử, thuộc bên Nữ phái.
Nơi Thánh Tượng Thiên Nhãn thờ tại tư gia, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen, hình Ngài ở phía mặt của Thiên Nhãn, dưới hình Đức Thái Thượng Lão Quân.
Trong LUẬT TAM THỂ, Bát Nương có giáng cơ dạy rằng: "Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về Cơ Giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về Cơ Phổ độ mà Quan Thế Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu. Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại Cung Nam Hải, ở An Nhàn Động, còn Cung Diêu Trì thì ở tại Tạo Hóa Thiên." … (…)…
Nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát:
Đức Chí Tôn giáng cơ cho biết, nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là do Đức Từ Hàng Bồ Tát biến thân.
TNHT. I. 31: "Người ta gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Đạo Nhơn biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương." (Nhà Thương bên Tàu khởi đầu từ năm 1766 và dứt vào năm 1122 trước TL).
Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo nhân ngày Vía Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, tại Đền Thánh, thời Tý ngày 19-2-Kỷ Sửu (1949), cũng có nói như sau:
"Hôm nay là ngày vía của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Bần đạo đã thường nói, nơi cửa Thiêng liêng Hằng sống, Đức Quan Âm Bồ Tát là một Đấng ở trong gia tộc sang trọng và oai quyền hơn hết.
Cái nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là do nơi pháp thân của Từ Hàng sản xuất....."
Do đó, trong Kinh Đệ Bát Cửu có câu:
Cung Tận Thức thần thông biến hóa,
Phổ Đà Sơn giải quả Từ Hàng.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, Đức Từ Hàng Bồ Tát chiết chơn linh giáng trần, tu hành nhiều kiếp, cuối cùng đắc đạo tại Phổ Đà Sơn, hiệu là Quan Thế Âm Bồ Tát.
Trong con đường TLHS, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo cho biết, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát vâng lịnh Đức Phật Vương Di-Lạc "chèo thuyền Bát Nhã Ngân hà độ sanh."
"Bần đạo chỉ nói nơi xa xăm của chúng ta đi qua, chúng ta thấy hình trạng Bát Quái Đài, dưới chân có Thất Đầu Xà, và dưới mình của Thất Đầu Xà là Khổ hải, tức là cảnh trần của chúng ta đó vậy.
Bên kia, có liên tiếp mật thiết vô một nẻo sông Ngân hà, rồi Bần đạo chỉ cho hiểu rằng, từ Khổ hải về cảnh Thiêng liêng Hằng sống phải đi ngang qua Ngân hà, có một chiếc Thuyền Bát Nhã của Đức Quan Âm Bồ Tát, vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương Phật, chèo qua lại sông Ngân hà và Khổ hải đặng độ sanh thiên hạ."
Hội Thánh của Đạo Cao Đài chọn ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày thành đạo của Công Chúa Diệu Thiện làm ngày Vía Kỷ niệm Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.
Hằng năm, khi đến ngày nầy, tại Tòa Thánh và các Thánh Thất địa phương đều thiết lễ Đại Đàn cúng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, có Chức sắc thuyết đạo nhắc lại công đức và nhiệm vụ của Ngài trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
KINH CỨU KHỔ là bài kinh đặc biệt cầu nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn chúng sanh.
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có giáng cơ ban cho hai bài Kinh Thiên đạo là:
· Kinh Hạ Huyệt
· Kinh Khai Cửu, Đại Tường và Tiểu Tường.
Trong TNHT, có đăng nhiều bài Thánh giáo của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.
Dạo Bế
28. Vĩnh Nguyên Tự (Cần Giuộc)
Thứ bảy, 21-8-1926 (âl 14-7-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
… (…) …
Nguyên từ buổi bế đạo, tuy Chánh pháp ra cũ mặc dầu, chớ kỳ trung thọ đắc kỳ truyền. Luật lệ tuy cũ chớ đạo vẫn như nhiên. Do công đức mà đắc đạo cùng chăng. Nhưng có một điều là Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ, nên tu nhiều mà thành ít.
Vì vậy cho nên các con coi thử lại, từ hai ngàn năm nay, bên Á Ðông nầy đã đặng bao nhiêu Tiên, Phật. Các con duy biết có một mình Huệ Mạng Kim Tiên mà thôi.
Chu thich :
Bác luật: Bác bỏ luật pháp tu hành cũ vì không còn thích hợp với trình độ tiến hóa cao của nhơn sanh hiện nay.
Phá cổ: Phá bỏ pháp luật khắc khe cũ vì không còn thích hợp. Cổ (