THỪA SỬ NGƯU MA

   ● Đề Thi NHƠN NGHĨA.
  Đầu xuân Nhâm Thìn (2012), tại bàn cà phê “Tâm Đức” đối diện cửa số 12 Tòa    Thánh Tây Ninh, Thân Công Báo lưu ý câu nói của Nguyễn Công Nhuận:
  - Tôi là một con người Chơn Pháp, dám ăn, dám nói, dám làm…
  Đã trao đổi rất nhiều lần, cuối cùng Thân Công Báo hỏi Công Nhuận:
  - Mặt thế nầy không ai tròn, có người thương cũng có người ghét. Nói thì dễ còn làm thì quá khó, 10 năm rồi tôi tìm một nhân vật đại hùng, đại chí nhưng chưa hề thấy. Ai cũng bảo rằng, tôi thương ông Thượng Tám Thanh, nhưng với anh, tôi hỏi thật anh có dám lạy ông Tám không ? Nếu dám thì mình trao đổi tiếp còn không thì việc ai nấy lo.
  Anh mạnh dạn trả lời:
  - Dám chớ ! lạy trước, nói sau.
  Thân Công Báo hứa với Công Nhuận:
  - khi anh lạy ông Tám, ba ngày sau tôi theo anh về Gò Công, tôi sẽ lạy mẹ anh xem mẹ anh cũng như mẹ tôi, vì mẹ đã sinh ra một đứa con nhơn nghĩa.
  Trên 4 tháng, giúp tinh thần cho anh, đến đêm mùng 7-4 Nhâm Thìn, là giờ phút yếu trọng, một mình anh xin phép được thay mặt toàn thể môn đồ Cao Đài thi hành NHƠN NGHĨA  (em nhìn anh), bằng phương lạy Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh trước Đền Thánh, kết quả thật hoàn mỹ. Đó là giải pháp cứu thế của Đạo Cao Đài... để chuẩn bị và sắp xếp công diễn đêm ấy có tất cả là 5 người, đúng như lời Đức Chuẩn Đề định trước 28 năm (1984-2012). Muốn thêm nữa cũng không hề có, đã 87 năm Đạo chỉ vỏn vẹn có 5 người. Bởi vì buộc Phải có cùng một đức tin, một tinh thần, một căn bản, còn phải đại hùng, đại chí, đại lực, đại từ bi nữa mới hoàn thành sứ mạng mà Đức Phật Chuẩn Đề Bồ Tát giáo chủ Tây Phương Cực Lạc đã định.
  Đúng với Đức Ngài đã dạy: Chơn linh trúng là chơn, còn trật là giả. Thật vậy, đêm ấy nếu là giả chỉ cần Nguyễn Công Nhuận bước ra khỏi sân gạch cột phướng trước Đền Thánh ba bước thôi, mấy anh bảo thể ào tới giữ anh lại họ cho rằng anh phá rối; hành hung Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh thì cái oan tình nầy ai bào chửa cho phải lẽ ? trong khi họ đã lưu ý năm người ấy từ đầu rồi vì trang phục sơ mi bình thường của họ không giống ai mà ngồi vào hàng đầu tiên trên sân gạch.
  Sau bằng chứng vô đối ấy, Thân Công Báo thường nhắc Nguyễn Công Nhuận:
  - Mặt thế nầy có ai toàn đâu, nhưng khi anh đã có bằng chứng Nhơn nghĩa cao quý ấy, anh phải dẹp bỏ phàm tâm nâng cao thánh chất để làm gương sáng cho mọi người noi theo. Nếu không khéo, thể như cố trèo cao thành ra té nặng là chuyện thường tình xảy ra. Tới đây anh phải giúp ông Tám, bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần do nơi ổng định, đi thưa về trình, trước mặt sau lưng đồng một mực, đừng ỷ công khinh lịnh, không nên mượn danh nghĩa của Ngài Đầu Sư nói và làm những điều sai trái…còn phần đời Hội Từ Thiện CTĐ thi hành Nhân Đạo, anh phải giữ cho tròn, Đạo Đời tương đắc ở trong anh !
  Thật đáng tiếc, một tháng sau đã rất nhiều lần Thân Công Báo, Ngô Long, Hồ Hỉ Mị, út Ráo góp ý xây dựng, nhưng anh đã sa trận “tứ chi nộ” không thể nào thoát ra được. Ngô Long cảnh báo:
  - Anh thi hành Nhơn nghĩa đó là công đầu, hay nói cho thật dễ hiểu, khó nhứt là người mở cửa. Mà một khi anh đã mở cửa rồi, nếu anh chậm chạp, rắc rối, chàng ràng đứng trước cửa thì nhơn sanh họ sẽ xô anh tránh ra, họ tràn vô như nước vỡ bờ. coi chừng nhơn sanh, họ đoạt cả chiếc chìa khóa của anh đang cầm trên tay nữa kìa ! Bởi cái nhà đó là nhà chung chớ không của riêng ai, Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh là ông anh của tất cả môn đệ Cao Đài chớ không phải của riêng một mình anh.
  Cùng lúc ấy, tháng 5 Nhâm Thân (2012) đề tài NHƠN NGHĨA vừa xuất hiện. Nói đến thi hành Nhơn Nghĩa không phải chỉ riêng có anh Nguyễn Công Nhuận mà cả nhơn loại trên thế giới nầy, nên Ngô Long và Thân Công Báo lưu pháp hiệu là “Thanh Liên Bửu Sắc”:
  - Đó là cây cờ Thanh Liên Bửu Sắc của Tiếp Dẫn Phật Giáo Chủ Tây Phương Cực Lạc. Tiểu Phong thần cho biết, trước khi Phật Tiếp Dẫn xuống rước các chơn linh tại hướng Đông Nam, Đức Ngài đã biết và có ý sẽ đến đó từ lâu (1984). Nhơn dịp Đức Phật Chuẩn Đề đến mượn cờ Thanh Liên Bửu Sắc (1996), Tiếp Dẫn cho cờ xuống trước (đêm 7-4-2012) còn Ngài xuống sau. Đức Phật Chuẩn Đề Bồ Tát đã cấm cờ tại hướng Đông Nam trước Đền Thánh Tây Ninh Cực Lạc từ năm 1996, mãi đến đêm mùng 7- 4 Nhâm Thìn (2012) mới đúng như Đức Chuẩn Đề đã định:
  “ Tôi chỉ cần 5 người biết làm như tôi, tôi chuyển cho nó tới”.
  “ Trên trời dưới thế mấy ai,
  Hơn nhau vì chỗ trí tài sĩ mưu ”.

  Thân Công Báo giải thích cho Công Nhuận hiểu:
  - Thanh Liên Bửu Sắc là Pháp Bửu của Tây Phương Cực Lạc, nên buộc nó phải tùng  Pháp: Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng, đến Quy Y Tam Bửu thì Hội Long Hoa khai mạc.
  Do đó, Thanh Liên có nghĩa là pháp Quy Y , còn Bửu Sắc là Tam Bửu. Vậy Thanh Liên Bửu Sắc tức là sở dụng pháp Quy Y Tam Bửu (hiệp nhứt tam bửu), cấm cờ trước mặt Đền Thánh Tây Ninh nầy.
  Thế mà vài hôm sau, anh còn chấp vào mấy cái danh hữu tự giả trạng “Thanh Liên Bửu Sắc” trên quyển Nhơn Nghĩa ấy, điện thoại trực tuyến với Ngô Long, hùng hồn lớn tiếng:
  - Anh nên nhớ, Nguyễn Công Nhuận mới thiệt, còn Thanh Liên Bửu Sắc là giả ! Tôi cho công an bắt Thân Công Báo liền bây giờ.
  Ngô Long và họ Thân liền đến nhà Công Nhuận, xem còn có phương nào để cứu vãng cái trắc trở nhơn tình thế thái nầy không, chớ không phải Họ Thân sợ công an đâu…thôi đành chịu vậy ! Nhuận thản nhiên lớn tiếng:
  - Chú là Thân Công Báo xúi tôi.
  Thân Công Báo cười:
  - Anh lớn hơn tôi 6 tuổi, sao anh lại bảo tôi xúi anh. Nhưng mà dầu tôi có xúi, là xúi anh làm những điều tốt đặng tạo cái phẩm giá cho anh nhờ, phải thật như vậy không? Anh hai nè, anh có biết Thân Công Báo mấy tuổi không ? Như vậy Nguyễn Công Nhuận lớn hay Thân Công Báo lớn, hả anh hai ?
  Ngô Long nhắc lại lời anh Nhuận:
  - Anh thường nói, anh coi anh nhẹ tợ mãi lông, trọng người như trời đất. Nhưng tôi thấy ngược lại, không như lời anh nói. Chừng nào lời nói của anh thành sự thật ?
  - Không biết đến chừng nào!
  Ngô Long lắc đầu:
  - Như vậy tới đây tôi cũng tránh anh luôn.
  Thân Công Báo, nhắc lại lời của Đức Ngài Hồ Bảo Đạo Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài trong Bức Tâm Thơ. Ngày 18-3 Kỷ Mùi (dl: 14-4-1979) là bài số I trong quyển NHƠN NGHĨA cho Công Nhuận và Ngô Long cùng nghe:
  - “ Chức năng của Hiệp thiên Đài là lập vị và bảo trọng ngôi vị cho chức sắc hay chức việc là khi mình biết thì tìm cách sửa đương, nhắc nhở, khuyên dạy cách nào cho người sai lầm trở lại đường ngay nẻo chánh, chừng nào quá lắm không sửa đương đặng mới đem ra trị cho trọn câu “tiên giáo hậu trị”. Có người hỏi, nói vậy có mâu thuẫn với lời dạy của thiêng liêng là “nên thì để hư thì bỏ” hay không?
Xin trả lời không có gì là mâu thuẫn, vì trước tiên phải cố gắng dạy dỗ, sửa đương đến chừng không sửa đặng thì phải nhứt quyết hư thì bỏ hẳn chớ không nên dung dưỡng lưng chừng như trường hợp bao nhiêu người bị trục xuất ra khỏi Đạo nhưng vẫn sống phây phây trong cửa Đạo”.
  Kể từ đó việc ai nấy lo, không còn gặp mặt nhau nữa. Chân thành cám ơn anh đã chịu nhục nhã về xác thịt để làm gương sáng cho toàn thể môn đồ Đạo Cao Đài tỉnh thức, biết nhìn nhau là anh em ruột thịt, cùng đồng minh đồng thệ mà phản bổn hườn nguyên thi hành Nhơn Nghĩa tiến đến đại đồng. Qua việc của anh Nguyễn Công Nhuận làm Thân Công Báo nhớ đến 4 câu thi của Đức Chí Tôn, đặc biệt nhứt là 2 câu cuối. Chẳng lẽ do ý Trời sao ?
  “ Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ,
  Giữa biển ai từng gặp lão Tô.
  Mượn thế đặng toan phương giác thế,
  Cũng như nương viết của chàng Hồ”.
  Mượn thế đặng toan phương giác thế, là Bí Pháp của điểm nút để thực hiện bước nhảy, đặng thay cũ đổi mới thành chất mới và lượng mới.
  ● Các hình thức cơ bản của bước nhảy giữa lượng và chất.
  “Dựa trên nhịp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân sự vật có thể phân chia thành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần.
  - Bước nhảy đột biến là bước nhảy được thực hiện trong một thời gian ngắn làm thay đổi toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật.
  - Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từ từ, từng bước bằng cách tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần dần mất đi. Chẳng hạn quá trình chuyển hóa từ vượn thành người diễn ra rất lâu dài, hàng vạn năm. Lưu ý bước nhảy dần dần khác với sự thay đổi dần dần về lượng của sự vật. Bước nhảy dần dần là sự chuyển hóa dần dần từ chất nầy sang chất khác, còn sự thay đổi dần dần về lượng là sự tích lũy liên tục về lượng để đến một giới hạn nhất định sẽ chuyển hóa về chất.
  Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật thông qua bước nhảy , chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới, quá trình đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển biến đổi.
  ● Như vậy là Đạo Cao Đài sống lại rồi !
  Sau khi Đức Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài cầm Bí Pháp, ký Đạo Lịnh giải thể (01/1979) phần Thể Pháp tam lập của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tịch Đạo Thanh Hương (1926-1979) đặng thay cũ đổi mới, chuyển sang  phần Chơn Đạo tam thiện trong tinh thần Đạo Tâm Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong, hiện hữu hình tại thế là Hội Đồng Chưởng Quản (1979-2010) đến (2010-2012) là Hội Thánh. Tuy có khác danh xưng nhưng hình trạng chân tướng vẫn là một. Nay đã đến giai đoạn CHƠN ĐẠO của nền Tôn Giáo Cao Đài ĐĐTKPĐ. Chẳng riêng cả thảy môn đệ Đạo Cao Đài mà chung cho toàn thể nhơn loại trên thế giới nầy vui mừng và đón nhận một khối tinh thần thương yêu thi hành NHƠN NGHĨA từ Đền Thánh Bạch Ngọc Kinh Tây Ninh, sẽ lan tỏa hương thơm ngào ngạt khắp hoàn cầu làm sống lại trong thánh thương yêu, cùng nhìn nhau là bạn đồng sanh hiệp một trong nguyên căn bổn thiện  sanh hóa và trường tồn.
  Quả thật vậy, Cha Giáo xứ Nguyễn Đăng Hanh, đại diện toàn thể Đạo Công Giáo Tỉnh Tây Ninh vui mừng nói với Nguyễn Công Nhuận (tháng 4-2012):
  - Như vậy là Đạo Cao Đài sống lại rồi !
  Chúng ta hãy mật niệm và biết ơn Đức Ngài Bảo Đạo Quyền Chưởng Quản HTĐ Hồ Tấn Khoa đã âm thầm cầm Bí Pháp chịu nhục nhã về xác thịt, để lại cho nhơn loại một nền CHƠN ĐẠO oai quyền vinh hiển.
  Đức Hộ Pháp quả quyết:
  - “Kẻ nào bị đời biếm nhẻ, chỉ trích, chê bai sẽ được Đức Chí Tôn đặt lên một hàng thứ, oai quyền vinh hiển”.
  Sau khi ký Đạo Lịnh 01-1979, Đức Bảo Đạo phổ biến Thông Điệp qua bức tâm thư ngày 18-3 Kỷ Mùi (dl: 14-4-1979) để trấn an và báo trước cho toàn thể môn đệ Đạo Cao Đài biết rằng cơ Đạo đã chuyển sang thời kỳ Chơn Đạo lập đức, qua bài Thông Điệp :
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Ngũ Thập Tứ Niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH
---o---
BỨC TÂM THƯ

“Của Bảo Đạo Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài”
Ngày 18-3- Kỷ Mùi (dl: 14-4-1979)

         Kính gởi chư Chức Sắc Hiệp Thiên Đài.
         Kính Chư Hiền Đệ.
     Trước cuộc biến thiên trong cửa Đạo hiện nay, do ảnh hưởng của cơ Đời, có một số Chức Sắc Hiệp Thiên Đài tỏ ra hoang mang lo sợ không biết việc cải tổ cả cơ cấu tổ chức hành chánh Đạo có phạm đến luật pháp chơn truyền của Đạo hay không và làm như vậy có tội gì với Ngọc Hư Cung hay không? Đặc biệt việc giải tán Bộ Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài làm cho số Chức Sắc đó càng thắc mắc lo âu hơn, vì họ thấy từ nay cách làm việc của họ buổi trước không còn thi thố như cũ nữa và như vậy họ sẽ mất hết quyền hành đối với Chức Sắc và Bổn Đạo ở địa phương và họ không còn phương tiện bảo vệ luật pháp chơn truyền của Đạo.
  Tôi rất thông cảm cảnh thắc mắc lo âu của mấy em đó vì đây là một việc chưa từng có từ khi mở Đạo đến giờ. Nếu nói đến việc phạm luật Đạo, đặc biệt là Đạo Luật năm Mậu Dần thì điều đó hẳn có. Nhưng nói việc làm đó có tội hay không thì hẳn là không có tội với Thiêng Liêng, vì việc làm đó là do lịnh của nhà nước không thể bất tuân đặng. Chúng ta là người tôn giáo, nhưng vẫn là công dân của nhà nước thì phải tuân hành tất cả luật lịnh của nhà nước, thậm chí nếu nhà nước ra lịnh giải tán Hội Thánh đóng cửa Tòa Thánh và các Thánh Thất chúng ta có cải lại đặng không? Chúng ta không phải bạc nhược, yếu hèn nhưng chúng ta nên biết rằng dầu cho một mãnh lông, một hột cát cũng không ra ngoài luật thiên điều thì việc cộng sản về cầm quyền trị thế trong cả nước cũng không ngoài luật thiên điều.        
  Về mặt pháp lý tôi nhơn danh Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài đã chỉ rõ và quy trách nhiệm rõ ràng rồi nên ước mong rằng không còn điều chi thắc mắc. Riêng về việc thi hành nhiệm vụ của Chức Sắc Hiệp Thiên Đài thì lẽ dĩ nhiên trong việc thay cũ đổi mới của cơ chuyển thế từ thời kỳ lập công, qua thời kỳ lập đức, chức năng và phương châm hành đạo của tất cả mọi người dầu cho Chức Sắc hay Chức việc hoặc Tín Hữu cũng đều đổi mới như trong lời kêu gọi chung số 6/Hội Đồng Chưởng Quản ngày 07-3 Kỷ Mùi. (3-4-1979) của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chớ không phải riêng cho Cửu Trùng Đài và Phước Thiện đâu. Vậy thì chư Chức Sắc Hiệp Thiên Đài mấy em phải nên sớm tỉnh giác tự mình giải hết chứng bịnh trầm trọng chung hiện nay của tất cả Chức Sắc là bịnh “QUAN LIÊU” một phần không ít Chức Sắc Hiệp Thiên Đài lãnh phận sự Pháp Chánh thường coi mình như ông “Quan Tòa” ở ngoài đời và chỉ có biết “trị” bằng cách ngưng quyền giáng cấp hay trục xuất, chẳng khác nào như một cái máy chém chỉ biết sát phạt mà thôi chớ không nhớ rằng vai tuồng chánh của Hiệp Thiên Đài là lập vị và bảo trọng ngôi vị cho người khác, chớ không phải chờ có dịp để cất vị của họ. Thường khi, lại nghĩ sai ý nghĩa lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng, như câu “chẳng ai qua luật mà Hiệp Thiên Đài không biết” hoặc câu “không có điều bất công nào mà Hiệp Thiên Đài không biết” rồi từ chữ không biết rồi hiểu ra là không trị vì nghĩ rằng hể biết là phải trị liền.
   Trái lại chức năng của Hiệp Thiên Đài là lập vị và bảo trọng ngôi vị cho Chức Sắc hay Chức việc là khi mình biết thì tìm cách sửa đương, nhắc nhở, khuyên dạy cách nào cho người sai lầm trở lại đường ngay nẻo chánh, chừng nào quá lắm không sửa đương đặng mới đem ra trị cho trọn câu “tiên giáo hậu trị”. Có người hỏi, nói vậy có mâu thuẫn với lời dạy của Thiêng Liêng là “nên thì để hư thì bỏ” hay không?   
  1- Luật: là Tân Luật và Luật Hội Thánh.   
  2- Pháp: là Pháp Chánh Truyền và Đạo Nghị Định.
  Nhưng đó chỉ là những khuôn khổ những hàng rào để cho mọi Tín Hữu Cao Đài phải đi trong khuôn viên trật tự và giữ quyền hành của Hội Thánh. Ngày nay tuổi Đạo đã quá 50 rồi, trình độ học vấn phải lên cao hơn chẳng khác nào chúng ta học mãn niên học lớp một nay được lên lớp hai. Bài vở cũ không phải bỏ hết nhưng không lập lại và bắt đầu học bài vở mới, làm bài vở mới. Chúng ta không vì đó mà đòi phải làm bài cũ hoài để đứng mãi một chỗ không tiến bộ cho theo kịp trào lưu hay sao? Với nhận định đó, nếu chúng ta tìm hiểu ý nghĩa chơn truyền luật pháp một cách rộng lớn hơn thì chơn truyền của Đạo Cao Đài là lý chơn chánh của cơ tạo đoan từ vũ trụ đến nhơn sanh trong khuôn luật bác ái và công bằng. Vậy lý chơn chánh đó là gì? Chẳng có chi lạ hơn câu kinh: “Hiệp âm dương hữu hạp biến sanh” trong bài Phật Mẫu Chơn Kinh tức là chỉ có sự Hòa Hiệp âm dương mà biến ra cả càn khôn vũ trụ và chúng sanh. Chơn truyền của Đạo Cao Đài hiện nay cũng phải hiểu không ngoài lý chơn chánh đó, tức là lấy sự Hòa Hiệp trong Tình Thương mà phổ truyền đặng thiệt hiện Cơ Cứu Khổ về mặt thế và một Chánh Giáo về mặt Đạo tiến lên lập đời Minh Đức Tân Dân Huynh Đệ Đại Đồng Hòa Bình Thế Giới.
Vậy thì vai tuồng của Hiệp Thiên Đài trong tương lai đây phải làm việc gì? Hiệp Thiên Đài là chơn thần, Cửu Trùng Đài là thể xác. Chơn Thần có bổn phận phải dìu đỡ thể xác thế nào từ phàm chất cho ra thánh chất. Muốn thiệt hiện chu đáo vai tuồng đó thì chơn thần lúc nào cũng phải trong sáng, an tịnh mới đủ khả năng Hòa Hiệp với thể xác, để dìu đỡ thể xác đi theo con đường NHƠN NGHĨA chơn chánh để thiệt hiện CƠ CỨU KHỔ cho ra thiệt tướng với nếp sống Vị Tha không vị kỷ dứt bỏ phàm tâm nâng cao Thánh Đức.
  Xây dựng đời mới Thánh Đức Minh Đức Tân Dân. Cái khó khăn nhất của Chức Sắc Hiệp Thiên Đài là ở chỗ đó, vì đa số Chức Sắc Hiệp Thiên Đài mấy em còn trẻ tuổi, kinh nghiệm ở đời chưa nếm đủ mùi. Đối với Chức Sắc Cửu Trùng Đài hay Phước Thiện phần đông lại là lớn tuổi hơn về phần xác đáng là anh, chị, chú, bác của mình. Như thế muốn thiệt hành đúng chức năng của Hiệp Thiên Đài cho xứng vai tuồng chơn thần trong sáng để dìu đỡ thể xác không phải chuyện dễ đâu. không phải lấy quyền bắt buộc người khác làm theo mình chỉ biểu đặng.
  Trái lại mình phải đạo đức hơn, thánh đức hơn, trong sạch hơn xứng đáng làm gương mẫu cho người noi theo thế nào cho người thương mến mà làm theo, chớ không phải sợ mà làm theo. Không thể ngụy biện với thiên hạ đặng với câu: “Phải làm theo lời tôi chỉ biểu, chớ đừng làm theo việc tôi làm”. Bảo thủ luật pháp chơn truyền của Đạo qua thời kỳ mới nầy phải hiểu với ý nghĩa rộng hơn:
  - LUẬT: THƯƠNG YÊU là luật duy nhất của Đạo.
  - PHÁP: CƠ CỨU KHỔ để lập đời Thánh Đức là CHƠN PHÁP duy nhất, Mục Phiêu chánh yếu của Đạo Cao Đài.
  - CHƠN TRUYỀN: Lý Chơn Chánh của cơ Tạo Đoan là HÒA HIỆP Âm Dương tức là Điều Hòa xã hội trong Tình Thương Huynh Đệ Đại Đồng mới đem lại Hòa Bình Thế Giới.
  Với thời đại mới, thời kỳ mới Lập Đức, quan niệm chơn truyền luật pháp hiểu rộng thêm cộng với quan niệm chơn truyền luật pháp thời kỳ trước, mấy em Chức Sắc Hiệp Thiên Đài đừng lo không có việc làm, trái lại nên lo mình không đủ đức hạnh và khả năng thi hành sứ mạng cao trọng của Hiệp Thiên Đài mà thôi.
Hiệp Thiên Đài, ngày 18-3 kỷ Mùi. (dl: 14-4-1979).
       (Ấn Ký)
                                                               Hồ Tấn Khoa.
  ☼ THẬP TUYỆT TRẬN :
  1/- THIÊN TUYỆT TRẬN (Trận Trời giết).
  ■ -Thừa Sử Lê Quang Tấn tiếp phái đoàn OMOTO tại Tòa Thánh Tây Ninh.
  ♦ Đồng Đạo Mới…?!
  Ngày tham gia :1
  Bài viết :27
  Kính Hội Thánh Kính quý hiền.
  1/-♦ Đệ đã nhiều lần đọc được những dòng tin của một số hiền huynh tỷ muội kịch liệt lên án việc Thừa Sử Lê Quang Tấn vẫn luôn mang DÂY SẮC LỆNH là sai Hiến pháp Hiệp Thiên Đài. Nhưng thực tế xin quý hiền xem qua một vài bức ảnh trên thì có thể khẳng định nếu việc Thừa Sử không trả DÂY SẮC LỆNH cho Hội Thánh là sai thì tại sao Thừa Sử vẫn có thể mang DÂY SẮC LỆNH vào Cung Đạo bái lễ Đức Chí Tôn mà không bị sự phản đối nào của quý Chức sắc Hội thánh đương nhiệm? Kính quý hiền nếu việc Thừa Sử mang DÂY SẮC LỆNH là sai thì đệ nghĩ Ngài không dám vào Cung Đạo bái lễ vậy đâu. Vì vậy xin quý hiền đừng nên phán xét việc mang DÂY SẮC LỆNH của Thừa Sử Lê Quang Tấn là đúng hay sai theo ý riêng cá nhân nữa mà hãy để quyền Thiêng Liêng định đoạt.
  2/- ♦ Bây giờ không được sử dụng cơ bút thì Ngài Lê Quang Tấn mang dây sắc lịnh vào bái lễ nơi cung Đạo mà không ai phản đối. Thì Ngài Chưởng Quản Hội Thánh cũng bái lễ Đức Chí Tôn mà Ngài Lê Quang Tấn cũng không phản đối. Như vậy là đặng chữ Hòa rồi phải không ? Chỉ trừ khi được sử dụng cơ bút tại Cung Đạo Bát Quái Đài thì chừng đó mới rõ thôi và chớ có vội mừng trước khi các Đấng phán xét !
  - Nghĩ thật lạ, tất cả mọi người ai cũng có quyền đến viếng và bái lễ Đức Chí Tôn nơi Tòa Thánh Tây Ninh.
  - Nay Ngài Thừa Sử dẫn phái đoàn Nhật về thăm viếng và tìm hiểu Tôn Giáo Cao Đài thì chúng ta nên mừng mới phải, chứ đem ra thảo luận đặng làm gì, có gì đâu mà phải luận với thảo vậy. (?)
  ● THÂN CÔNG BÁO:
  Vậy mà còn có Ngưu Ma Vương Đại Du Ký kỳ ba  xua quân ô họp hám danh, lợi, quyền nhắm mắt loạn Thần tặc tử chạy theo ăn mót đồ bỏ của thiên hạ đặng làm của quý. họ có sứ mạng không? Họ đủ năng lực không? Họ được bao nhiêu người mà đòi đuổi cả Chức Sắc, Chức Việc và toàn thể môn đồ Hội Thánh Đạo Cao Đài ra khỏi Tổ Đình Tòa Thánh Tây Ninh và khoảng 500 Thánh Thất trong toàn nước Việt Nam. Cố Hộ Pháp của họ đâu có dạy như vậy ? Đó là những kẻ mượn danh Đạo tạo danh mình là người phạm thệ nêu tên lên bảng Phong Thánh kỳ ba này cho nhơn sanh chiêm ngưỡng. Rõ ràng họ muốn làm Trời, nếu không thì đã giành quyền Tam Châu Bát Bộ của Hộ Pháp đã tự định căn định vị cho nhau, còn bảo đã tấn hóa tới Hư Vô Cao Thiên phá trận Vạn Tiên. Họ đi cửa nào, đường nào tới đó trong Thừa Thiên, Thể Thiên Hành Hóa sao không thấy họ đi.
  ■ BÀI: I
  1/- Đệ đã nhiều lần đọc được những dòng tin của một số hiền huynh tỷ muội kịch liệt lên án việc Thừa Sử Lê Quang Tấn vẫn luôn mang DÂY SẮC LỆNH là sai Hiến pháp Hiệp Thiên Đài.
  ● THANH LIÊN BỬU SẮC :

  Họ vẫn cho rằng Đạo Cao Đài là đồng bóng cốt chàng, đám hát đình hát chợ, hát bộ hát chèo. Họ mê lên sân khấu diễn tuồng hóa trang bán nam bán nữ, áo mão cân đai, lòng thòng vài ba miếng vãi cũ mèm phế phẩm (6-2012 hát tại Tịnh Tâm Đài Đền Thánh Tây Ninh) Bà đạo diễn Hiệp Thiên (Đức Hiến Pháp) biết ý ông bầu (Đức Hộ Pháp) giao Thừa Sử lính tuần tra đi diễn thử, mang chuông (thay ý của Đức Hiến Pháp) gõ sứ người; người không nghe; họ chê chuông mà mê mỏ, vì người ta biết chuông nầy là chuông lính chớ không phải chuông Bà, đến Phật đài Ấn Độ đi có về không.
  Đã vậy, hát dỡ mà còn cố dấu (ăn cấp) mấy miếng vãi vàng, xanh, đỏ lòng thòng để ngày sau lên sân khấu diễn tuồng, áo mão vênh vang mê mắt đặng dụ đời. Bà đạo diễn lấy đồ giả để đổi đồ thiệt (Bí Pháp. HTĐ: 1964-1968), đáng thương thay họ mê cái giả dễ gạt người, thứ vật chất phế phẩm còn thay đổi được (ĐL giải thể: 01-1979) chớ thứ thiệt có một không hai (HTĐ: đàn cơ 1973). Vậy mà nó ham nó hát, muốn hát phải có chỗ có nơi, có giờ có giấc, còn hát vô giờ vô giấc là thứ “loạn thần tặc tử” bịnh hoạn Biên Hòa.
  2/- xem qua một vài bức ảnh trên thì có thể khẳng định nếu việc Thừa Sử không trả DÂY SẮC LỆNH cho Hội Thánh là sai thì tại sao Thừa Sử vẫn có thể mang DÂY SẮC LỆNH vào Cung Đạo bái lễ Đức Chí Tôn mà không bị sự phản đối nào của quý Chức sắc Hội thánh đương nhiệm?
  ● THÂN CÔNG BÁO :

  “Bọn dân địa phủ (đại hải chúng) hình đen nám”, tự diễn tuồng dưới Tịnh Tâm Đài hiện nguyên hình Tây du ký nào hay ? Dưới khán giả vổ tay tán thưởng, kìa Ngưu Ma Vương đứng giữa: đầu đội hai sừng Hỏa Diệm là ta ! Chúa trâu con, chúa các loại tà, ai dám cải có mấy miếng vãi của ta siết cổ.
  Tây du ký, Bát Giới (Pháp Giới của Bát Quái Đài) nói lớn rằng:
     - Thứ đồ chúng lột da, mà dám nói phách! đố chạy đâu cho khỏi? Coi đinh ba (tam bửu) của ta đây.
  Đức Hộ Pháp khẳn định: “Trọng giá của Tam Bửu mà Chí Tôn ưa chuộng để dâng đại để cho Ngài là nguyên nhân chấm dứt cái họa tranh thù mà gây nên trường oan nghiệt cho toàn thế giới. Ấy vậy muốn duy trì sự hòa biết đại đồng này cũng do nơi gốc Bí Pháp đó mà thôi. Dầu triết lý thâm uyên đạo đức mà tôn giáo nào cũng không qua lẽ ấy. Mà nếu không đoạt được thì toàn lẽ ấy là đệ nhị xác thân của toàn thể ô trượt tội tình thì thế giới sẽ điêu tàn tiêu diệt mà chớ”.
  Thừa Sử Lê Quang Tấn, khẳng định ông không biết tam bửu “người” của ông ? Nếu biết thì ông không hiện nguyên hình dưới Tịnh Tâm Đài (bí pháp độ hồn: 1973) Đền Thánh Tây Ninh là con trâu già cò Ngưu Ma Vương.
  Tiểu Du Ký: “Tôn Hành Giả đuổi theo, Ngưu Ma Vương biến ra con bạch hạc, ré lên một tiếng bay bổng qua hướng Nam. Tôn Hành Giả hóa ra con phụng đỏ và bay theo. Ngưu Ma Vương biết con phụng đỏ là chúa loài chim, không lẽ biến loại cầm thú mà cự lại. Liền nhào xuống hóa ra con cheo, đứng ăn ở dưới chơn núi”.
  Quả thật, Ngưu Ma Vương mượn danh Đạo tạo danh mình, muốn làm trời một cõi nhà Nam, nào ngờ gặp Tôn Hành giả, giả Hành Tôn dùng Tru Tiên Kiếm xuất Pháp Thân hiện nguyên hình con trâu già cò. Họ Ngưu tồn tại đứng ăn được là nhờ bọn dân địa phủ của ông ba Sơn. Ông nhào xuống chân núi thì con trâu già chỉ là con cheo mà thôi !
  Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh là “một mặt Tín Đồ Hội Thánh vẫn giữ bản quyền Hội Thánh”. Ông đã quy y Tăng (bí pháp giải thể:01-1979), quy y Pháp (HTĐ: đàn cơ 1973), quy y Phật (ủy quyền 1956). Đã đủ đầy minh chứng trước mắt nhơn sanh. Ông không muốn làm trời mà các Đấng Hộ Pháp; Hiến Pháp; Bảo Đạo; Đức Lý…buộc ông phải tập làm trời, chớ không như Thừa Sử 01-1979 muốn làm Vương Ma Ngưu. Dầu cố tránh “chữ” cho mấy đi nữa thì Ngưu hay Ngu cũng là trâu. Để người ta diễn tuồng cho mình coi đã mắt, phản đối làm chi để cho người phạm thệ tự lên bảng Phong Thánh trâu già cò, đeo đính bài phản thần (nghịch sư) phản bạn bấy lâu nay.
  Đức Hộ Pháp đại nộ:
  - “Dầu có lạy dập đầu bể trán mà không phụng sự cho vạn linh cũng chẳng ích chi cho Trời Phật”.
  Đức Phật Chuẩn Đề thường nhắc lại lời dạy của Tôn sư Hiến Pháp Quan Âm:
  - Họ tin vô vi chớ không tin hữu hình chờ chừng nào Qua chết đi rồi biết.
  - Thể Pháp thì hữu hình hữu hoại bởi nó là giả trạng, sở dụng thiêng liêng có nghĩa “mượn danh nghĩa” thiêng liêng vô vi đặng chỉ sở hành nơi người. Nhứt thiết chúng sanh tổng giai thành phật đạo. Tạo Đền Thánh cho người thờ người chớ phải thờ vô vi đâu! có thấy, có biết đâu mà thờ? “Cười khan mà khóc bởi thương bây, chẳng mất một con nghiệt cả bầy…”.
  Họ mê tín nhắm mắt (Chúa Jêsus Chirst gọi những kẻ ấy là đui mù) cầu nguyện, lâm râm độc thần chú (đọc kinh) suốt ngày còn thời giờ đâu mà phụng sự nhơn sanh, nên Đức Hộ Pháp mắng “dầu có lạy dập đầu bể trán”, tưởng tượng đi tự mình lạy,  dập đầu rồi bể trán thì chết còn gì? Vậy là tự vận chớ sao? Ý của ông như vầy:
 - Đã nói rồi, Thể Pháp là giả tướng, Thầy lấy những đồ chơi giả của thế gian cho chúng nó mê mà dụ chúng nó vào Đạo. Dầu các ngươi có “tự vận chết” trước mặt các Đấng vô vi (không có Đấng “vô vi”) mà không phụng sự cho anh em của bây, cũng chẳng ích chi cho trời phật, đừng có quỳ gối, cong lưng nịnh nữa ! Thi hành nhơn nghĩa mới tới còn nịnh lạy rồi lạy nịnh hoài biết chừng nào mới tới. Họ lấy cách diễn này khỏi tốn tiền, mất công phí sức dễ gạt dụ người.
  ♦ Quả thật cái dòng họ tiếc, mượn danh thiện làm ác khổ cháu con, xảy ra trong gia đình của ba Thọ vừa là anh em bạn Đạo của họ: xui vợ chồng ly tán, mẹ phải xa con khóc thầm ân hận. Tòa án Hòa Thành xử vụ ly hôn ấp Hiệp Hòa, xã Hiệp Tân: 2010. Trong khi UB. Xã Hiệp Tân đã xác nhận gia đình nghèo khó và giới thiệu đến Chùa Cẩm Phong giúp đỡ. Ba Thọ nghĩ thà mang nợ trong nhà còn nợ ngoài khó trả nên gợi ý với đứa con gái của anh, viết lá thơ ngỏ “ cứu khổ bớ tình thương” Kính gởi: “V/P. Cơ Sở Phi phàm Trung Ương” âm thầm quăng bao thơ (địa chỉ con gái ở riêng) vào V/P tin chắc có người trực sẽ gặp, tại sao không trình bày trực tiếp mà bằng phương gián tiếp?
  1- Bởi họ là mấy “ông trời tiền”, thường đối lập với ba Thọ không biết nịnh hót ngu tiền.
  2- Nhân dịp, cho lòi ra thiệt giả nên mới gởi vào V/P.CSPPTƯ để xem họ diễn tuồng.
  Kèm theo xác nhận của chính quyền địa phương xã Hiệp Tân, họ không tin địa phương nên đến bên chồng, con của ba Thọ xác nhận, gặp ổ kiến lửa cắn họ, đau quá họ nghe theo êm ẩn…mới ra cớ sự ly hôn. Chúng là bọn dân địa phủ khoát áo người khó thấy. Vậy đó, chớ đi ra mượn danh nghĩa ta đây là cơ quan cứu khổ, người của Cung HNPT rồi V/P. CSPP Trung Ương, họ có “đóng cửa tụng Huỳnh Đình” tức là “tu thân phải tề gia” được đâu? Khi Thanh Sử còn sinh tiền thường nhắc nhở mình phải giúp đỡ trả nghĩa anh em của mình rồi mới tới bên ngoài. Cái tôn chỉ của họ là lấy chữ HÒA bằng tiền để dụ người theo họ cho đông, thử hỏi có bền bỉ hay chăng?
  Họ kéo nhau đọc thần chú lạy dập đầu bể trán “đi tự vận” ! Thật đáng thương. Đến ngày giờ tới đây, khi phát hiện ra cái tinh thần lạc hậu 3000 năm trở về trước của thời Tiểu Phong Thần, chính họ là tinh thần của người dân đen nhà Thương Trung Hoa đầu kiếp lại, thì họ chắc lưỡi than : ai dè như dè cu đinh!
  3/- Kính quý hiền nếu việc Thừa Sử mang DÂY SẮC LỆNH là sai thì đệ nghĩ Ngài không dám vào Cung Đạo bái lễ vậy đâu.
  ● NGÔ LONG :

     Họ Ngưu là kẻ giã nhân giã nghĩa lén vào Đền Thánh đặng ăn thịt Đường Tăng, dù ông muốn “tự vận” chết đi nữa, Đức Hộ Pháp; Đức Hiến Pháp; Đức Bảo Đạo…dù có thương cũng không cản kịp, vì các Đấng ấy lúc đó có mặt ở đó đâu! Thừa Sử Ma Vương lạy không khí, vì giúp cho ông hít thở đặng sống, con trâu già cò lạy bàn ghế…vì bàn ghế…đại diện cho vật chất, con thú già tồn tại được là nhờ vật chất phụng sự cho trâu.
  ▪ Dây Sắc Lệnh (Thể Pháp: 1926-1979):
  - Vật chất : 3 sợi dây bằng vải, mỗi sợi một màu, gồm: Vàng, xanh, đỏ.
  - Sắc Lệnh : Ai định ? Khi nào có lệnh của hai Đấng hữu hình Chưởng Quản HTĐ là   Đức Hộ Pháp và Đức hiến Pháp mới được buộc Dây Sắc Lệnh thi hành sứ mạng, như Thánh Lịnh; Đạo Lịnh; Huấn Lịnh…kể cả Thập Nhị Thời Quân cũng không qua luật ấy.
Về việc Thừa Sử 01-1979 Lê Quang Tấn được Đức Hiến Pháp lúc ấy Quyền Chưởng Quản HTĐ, trao Dây Sắc Lệnh để thay mặt Đức Hiến Pháp đi dự Hội Nghị Tôn giáo ở Tân Đề Ly (Ấn Độ).
  Sợi Dây Sắc Lệnh nầy có huy tín và quyền hạng về mặt tinh thần để thay mặt khi hành sự theo nhu cầu cần thiết, xong nhiệm vụ với thời gian quy định thì không còn tác dụng.
  Cũng như quyền Đời, đi công tác phải có giấy giới thiệu; xác nhận…Ông Thừa Sử Tấn, đừng gạt và diễn tuồng Ngưu Ma Vương nữa! Ví dụ, năm ấy khi ông bước ra khỏi phòng hợp tại Ấn Độ trong giây phút thôi như giải lao; ăn uống; vệ sinh… thì sợi Dây ấy không còn là sắc lệnh. Chẳng lẽ ông hô to, tay chỉ vào mấy miếng vãi lòng thòng nơi bụng: cho tôi một dĩa cơm, Sợi Dây Sắc Lệnh nè ! Thế thì ông ngồi đó mà chờ đi.
Về đến nơi, ông không trả lại sợi Dây Sắc Lệnh cho Đức Hiến Pháp.
  Đức Hiến Pháp biết tinh thần của ông tin vào sự giả, nên ham đồ giả cố tình giữ lại để gạt thiên hạ sau nầy. Đức Ngài coi như không có gì xảy ra rồi êm ẩn, nhằm gián tiếp mượn cái tâm ý giả đặng khảo thí cho lòi ra kẻ giả hình.
  - “Thưa mà chẳng lọt mãi lông mày”, đúng như Đức Hiến Pháp đã biết trước. Năm 1964 Đức Hiến Pháp cầm Bí Pháp HTĐ thay cho Hộ Pháp (ủy quyền 1956) mở lớp Viện Đại Học Đạo Tâm, giải thể tinh thần Thể Pháp Thanh hương tin tưởng vô vi là giả thi hành tam lập đặng thay cũ đổi mới sang tịch Đạo: Đạo Tâm tin tưởng hữu hình là chơn thi hành tam thiện.
  Thử hỏi Thể Pháp Thừa Sử, ông có qua mặt Đức Hiến Pháp được không? Để đúng với câu “không có chi qua mặt mà Hiệp Thiên Đài không biết”. Nói riêng về tinh thần và sợi dây sắc lệnh mà ông đã êm ẩn không còn giá trị kể từ năm 1964 mãi cho đến khi ĐL:01-1979 HTĐ buộc cả toàn thể môn đồ Hội Thánh Đạo cao Đài phải giải thể phần Thể Pháp lập công đặng thay cũ đổi mới chuyển sang (bí pháp giải thể) Chơn Pháp lập đức. Cung Đạo là gì? ở đâu? ai ở đó? Hồi nào? Thấy không? Hiện tại là không khí vật chất…, khí đã nuôi cả sinh vật sống, ta hít thở, ta sống cũng do nơi đó mà bảo rằng sao không sống. Còn ai muốn đi lạy dập đầu bể trán (tự vận) là tại họ Ngưu muốn cản cũng không được, mặc họ ! muốn cái gì cho cái nấy. Để Phong Thánh tới đây “Thầy làm ra mặt các con coi !”.
  Long hoa đại hội Đức Di Lạc mới đến, ngự trên khối nguyên tử khí, chủ của nguyên tử khí là Hỗn ngơn khí hằng sống, Đức Ngài chủ tọa Đại Hội phán định ngôi thứ cho con cái của Người tại Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh.
  Huỳnh Long Chơn Nhơn nói:
  - Chừng nào nguyên tử (chiến tranh nguyên tử của đời) ở ngoài kia nổ, mình ngồi đây vuốt râu.
  Huỳnh Long Râu sạch cón, mà ra điệu bộ vuốt, hiền huynh Thanh Sử nói nhỏ:
  - Biết có nổ không mà ngồi ở đây vuốt râu.
  Đức Chuẩn Đề quả quyết :
  - phải nổ chớ ! Nguyên tử phải nổ đặng phục nguyên Thánh thể.
  Ý của Đức Ngài nói, nếu là hạng nguyên nhân phải xuất hiện sở hành thiện ngôn đem chơn pháp cho vạn linh đạt, mới hiệp tam bửu phục nguyên thánh thể.
  4/-Vì vậy xin quý hiền đừng nên phán xét việc mang DÂY SẮC LỆNH của Thừa Sử Lê Quang Tấn là đúng hay sai theo ý riêng cá nhân nữa mà hãy để quyền Thiêng Liêng định đoạt.
  ● THÂN CÔNG BÁO :
  Cá nhân là cái đơn nhất (bí pháp) còn gọi là nguyên nhân. Nhiều cá nhân tức là nhiều nguyên nhân (thể pháp) vận động và phát triển thống nhất lại hình thành kết quả là cái chung nhất (chơn pháp).
  ♦ Cho nên “Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định “cái đơn nhất” (bí pháp) có thể biến thành “cái chung” (thể pháp) và ngược lại “cái chung” (thể pháp) có thể biến thành “cái đơn nhất” (bí pháp), nên trong hoạt động thực tiễn có thể tạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất” (bí pháp) có lợi cho con người trở thành “cái chung” (thể pháp) và “cái chung” bất lợi trở thành “cái đơn nhất” (bí pháp).(Trích trong: Giáo Trình TRIẾT HỌC MÁC – Lênin).

   Chờ Thiêng Liêng nào định? Đức Hộ Pháp đã chơn truyền Chánh Pháp ủy quyền năm 1956 cho Đức Hiến Pháp, đến năm 1973 chơn khí của Đức Hiến Pháp là Đức Lý nơi Cực Lạc Thế Giới Cửu Trùng Đài, Ngài mượn danh nghĩa chấp bút định: “về phần em Tám để Lão dùng sau”. Đến năm 1979 Đức Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa, Quyền Chưởng Quản HTĐ cầm Bí Pháp giải thể bằng ĐL:01-1979. Hiện nay Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh là “một mặt tín đồ Hội Thánh vẫn giữ quyền Hội Thánh” tùng chủ quyền Đạo được chơn truyền, thay các Đấng đã giải thể quy thiên cầm quyền trị thế.
  Ngài Đầu Sư đã trục xuất và không nhìn nhận Thể Pháp Thừa Sử Lê Quang Tấn là môn đồ của Đạo Cao Đài rồi. Thừa Sử Ngưu Ma dục loạn là giả; còn Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thánh dục hòa là thiệt, vì vậy “nên để hư bỏ, thiệt còn giả mất”, nếu cố chấp không sửa cải thì Đức Hồ Bảo Đạo đã báo trước “phải bỏ hẳn không để lưng chừng sống phây phây trong cửa Đạo như bao nhiêu người khác”.
  Ngày giờ nầy Chơn Linh (Bát quái đài) và Chơn Thần (Hiệp thiên đài) được an ngự trên đài sen là do công nghiệp của Sanh Hồn (Cửu trùng đài) tạo nên. Tức hiện nay Bát quái đài là Chơn linh (Hộ Pháp Di Lạc là 1 dương; Hiến Pháp Quan Âm là 1 âm) của Cửu trùng đài (Đầu Sư Thượng Tám Thanh) Là hình trạng của Bích Du Cung tại thế. Đúng với Chánh Pháp đã định: “Ngọc Hư Cung trở Pháp (HTĐ: đàn cơ 1973 đến Đạo lịnh: 01-1979) giao cho Cửu Trùng Đài (Đầu Sư T.T.T) cầm vận mạng nhơn sanh”. Vì vậy chủ quyền Đạo hiện nay Tam Bửu hiệp nhứt có nghĩa hai Đài: BQĐ thuộc Phật và HTĐ thuộc Pháp làm Chơn Linh hiệp một nơi Chơn Khí CTĐ tức Tăng. Hiệp một là một chớ không có ba.
  ▪ Đến giai đoạn Chơn Đạo ai còn nói :”Hiệp Thiên Đài còn thì Đạo còn”, đó là những kẻ tự xưng, cái mộng đó là cái mộng đi nhà thương điên biên hòa. Bởi Hội Thánh HTĐ đã giải thể quy thiên không còn nữa. Ngày giờ nầy, Hiệp Thiên Đài là Chơn Thần của Cửu Trùng Đài ấy là thiên ý của Đức Hộ Pháp muốn cho CTĐ phải có HTĐ để thọ lãnh quyền hành trách nhiệm, đừng nên hiểu cái nghĩa nhỏ hẹp BQĐ; HTĐ; CTĐ là cái văn phòng hay là nơi làm việc, hiểu như vậy là quá tối. Một bằng chứng, Đức Ngài Hồ Bảo Đạo quyền CQ.HTĐ sau khi ký ĐL giải thể 01-1979 qua CTĐ là Hội Trưởng HĐCQ Tôn giáo, Phẩm Đầu Sư Chánh Vị kể từ đó.
  ■ BÀI : II
  1/- Bây giờ không được sử dụng cơ bút …
  ● KHƯƠNG THƯỢNG T.T :
  Chính Đức Hộ Pháp chấp bút và cũng chính Ngài cảnh báo về cái giả thiệt của cơ bút:
   “Ấy vậy, cái đức Tin của anh em ở nơi cơ bút, cũng chưa đủ giá trị cùng đời, nên tệ đệ đã dặn một lời, xin gán lấy cái quảng đại của trời mà độ chúng”.
  - Lấy đức tin do nơi cơ bút không đủ sức thu phục tâm lý tinh thần của nhơn loại đặng. Họ bảo rằng Đức Chí Tôn nhập vào cây cơ bút rồi viết ra chữ dạy họ. Chí Tôn là Thần; Thần hiệp cùng tinh, khí, mà đắc đạo. Thần hết người rồi sao mà nhập vào cây cơ dạy Đạo? Thiên Nhãn Thượng Đế của bọn dân địa phủ Ngưu Ma Vương chỉ có một con mắt mới nhập vào cây cơ để dạy họ. tới đây họ cũng nhắm mắt nhập vào cây viết làm ếch ngồi đáy giếng vẻ trời cao.
  Đức Hộ Pháp nhắc nhở đặng tầm chơn: “Chí Tôn lại nhiều phen để lời căn dặn rằng: Chúng ta phải để tâm dè dặc, cẫn thận giữ lấy trí lự tinh thần đặng biệt phân chơn giả. Thầy lại nói rằng phải có một phần của kẻ phò loan, Thầy mới gầy trọn phương mầu cơ bút”.
  Chúng ta tầm chơn qua hai chữ “cây cơ” :
  - Cây: là vật chất làm phương tiện cho ý thức của con người, cũng như cây viết học sinh.
  - Cơ: có nghĩa là cơ hội; cái cớ.
  Vậy “cây cơ” là “cái cớ”, ý nói mượn “cây cơ” để làm “cái cớ”, cái vật thế thân nói về mình, mà không muốn cho người khác biết. Hiện nay cả thảy nhơn loại trên toàn cầu không một ai đủ năng lực cầm thiên mạng thủ cơ giáo đạo kỳ ba. Bởi chính Hộ Pháp giáng trần cầm Bí Pháp, Đức Ngài mai danh ẩn tích dấu mình “mượn cớ vào cây cơ” đặng dụ ngọt nhơn sanh vào cửa Đạo. Cho nên mọi sự chi sắp đặt trong cửa Đạo Cao Đài đều do chính “bàn tay” (bàn tay của Đức Hộ Pháp cầm cơ viết) của Đức Hộ Pháp không phải các Đấng khác. Bọn chúng là họ Ngưu, mà muốn giả danh làm họ Hộ đặng cầu cơ, với kỷ nghệ thông tin, khoa học hiện đại mà còn quỳ gối đọc thần chú quảng cáo ngây ngô: gõ từ chữ, mò từ câu của cái thời nguyên thỉ con trâu già cò ăn lông ở lỗ, uống dơ lăn bùn, tắm vũng hay sao?.
  2/- Thì Ngài Chưởng Quản Hội Thánh cũng bái lễ Đức Chí Tôn mà Ngài Lê Quang Tấn cũng không phản đối. Như vậy là đặng chữ Hòa rồi phải không ?
  ● THANH LIÊN BỬU SẮC :

  Hai người cùng bái lễ:
  - Ngài Chưởng Quản Hội Thánh lạy: ký hứa với các Đấng hữu hình phụng sự nhơn sanh.
  - Thừa Sử Tấn bái: đọc “bài trù tự vận” chờ cơ hội dục loạn đặng ăn thịt đường tăng.
Như vậy là đặng chữ Hòa rồi phải không ? Bọn giả nịnh, bịnh thần kinh Biên Hòa !
  ▪ Ngài Chưởng Quản Hội Thánh, thọ lịnh Ngọc Hư Cung Bát Quái Đài cầm vận mạng nhơn sanh, nắm chủ quyền của Đạo nơi Cửu Trùng Đài tại thế. Ngài lấy chữ HÒA làm tôn chỉ, cầu nguyện cho 92 ức nguyên nhân sớm tỉnh ngộ hiệp đồng tâm. Thi hành NHƠN NGHĨA tiến đến đại đồng.
  ▪ Còn lão Ngưu Ma Vương Đại du ký cốt con trâu già đi hoang dục LOẠN, mon men giả nhân giả nghĩa vô Đền Thánh đọc bài trù, niệm thần chú, chờ cơ hội trả thù trục xuất, đặng ăn thịt đường tăng, xua Trạng Nam trâu nghé; mừng rắn lục; Kiệt bọ cạp núi; Trung heo ăn cám Trư Tử Chơn (Mai Sơn Thất Quái); được sự ủng hộ của mấy ông trời tiền :
  - ba Đó; ba De; Nguyễn Đắc Chưởng Giáo Hữu gạch men và bọn dân địa phủ chủ ý đuổi đường tăng chiếm chùa đoạt ghế. Nhắc lại Tiểu Du Ký thì sẽ biết rõ tâm ý của Họ Ngưu, Tôn Hành Giả cũng khó xử với con trâu già cò.
  Tôn Hành Giả nói:
  - Ngưu Ma Vương thần thông lắm, nay lại hóa hình cao lớn như vậy, mới tính làm sao?
  Na Tra cười rằng:
  - Có khó gì, để coi tôi bắt nó!
  Nói rồi hét lên một tiếng, hiện ra ba đầu sáu tay, cầm sáu món binh khí, nhảy lên lưng trâu, rút gươm trảm yêu, chém đầu trâu rụng xuống!
  Khi ấy Lý Thiên Vương mừng rỡ, bước lại ra mắt Tôn Hành Giả, xảy thấy trong cổ con trâu ấy mọc ra một cái đầu nữa, con mắt sáng giới, miệng phun khói đen thui. Na Tra nổi giận chém một gươm, đầu trâu rụng nữa! Tức thì mọc đầu khác, Na Tra chém mười mấy lần, cũng mọc đầu mãi! Na Tra nổi giận, xin Lý Thiên Vương soi kiến chiếu yêu e nó biến hóa.
   Dặn rồi lấy bánh xe hỏa luân máng trên sừng trâu, hét lên một tiếng lửa cháy rần rần, con trâu ấy giậm chơn la dãy, nóng quá nên chịu phép năn nỉ rằng:
  - Xin đừng giết, tôi chịu quy y theo Phật.
  Gươm Trảm yêu không thể chém chết Ngưu Ma Vương được, bởi Họ Ngưu không phải là yêu tinh. Ngưu Ma Vương là Thiên binh trên Thiên Đình (Thể Pháp Thừa Sử HTĐ), phải dùng bánh xe Hỏa Luân tức Pháp Luân Thường chuyển là cơ vận hành tùng thị Pháp điều ĐĐTKPĐ gọi là Đại Du Ký  trãi qua nhiều giai đoạn mới trị được. Phải "máng trên sừng trâu", ý của Đức Lý Thiên Vương nói: nó ngu như trâu mà muốn làm vua!
  ● THÂN CÔNG BÁO :
PHÁP LUÂN THƯỜNG CHUYỂN:

TÙNG CHỦ QUYỀN ĐẠO ĐƯỢC CHƠN TRUYỀN.

THẾ ĐẠO

I ■ THỂ PHÁP HTĐ: Đức Hộ Pháp chủ quyền Đạo: Phật (BQĐ), Pháp (HTĐ), Tăng (CTĐ): gốc là LỬA (1926-1959),
II ▪ BÍ PHÁP HTĐ: Đức Hiến Pháp Từ Phật (BQĐ: 1926…ủy quyền 1956…) tùng Pháp (HTĐ: 1964-1968) ra Tăng (CTĐ: 1968-1969 xuất hiện Cung Phật Hạo Nhiên Pháp Thiên): LỬA sanh NƯỚC (Hiến Pháp: 1969-1976),
III ▪ CHƠN PHÁP :
A - Dương quyền: Chuẩn Đề Bồ Tát, Từ Phật (BQĐ: 1926-1964) tùng Pháp (HTĐ 1964-1968…) ra Tăng (CTĐ: 1969-1986…) Nước Chơn Truyền sanh KHÍ. Cung Phật Hạo Nhiên Pháp Thiên là Cửa BQĐ:1969-1985…,
■ HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN (1979-2010), HỘI THÁNH (2010-2012…)
♦ - BÍ PHÁP HTĐ: Ngài Hồ Bảo Đạo: Từ Phật (BQĐ: 1926- ủy quyền 1956…) tùng Pháp (Bí Pháp HTĐ: 1964-1968 và đàn cơ 1973…) ra Tăng (CTĐ: Đức Hồ Bảo Đạo ký ĐL: 01-1979 giải thể Tịch Đạo: Thanh Hương tam lập chuyển sang Tịch Đạo: Đạo Tâm tam thiện (1979-1981).
♦ - Ngài Thượng Tám Thanh: Từ Phật (BQĐ: 1926-1973) tùng Pháp (HTĐ: Đàn cơ 1973 Đức Hiến Pháp chấp bút, Đức Lý Giáo Tông về cơ định: “về phần em Tám để Lão dùng sao” 1973-1979…) ra Tăng (CTĐ: Đức Hồ Bảo Đạo Q.CQ.HTĐ: ký ĐL giải thể 01-1979 vận hành từ 1979 - 2012…)
B - Âm quyền : Phổ Hiền Bồ Tát: Từ Phật (BQĐ: 1983-1984) Tùng Pháp (HTĐ: 1984-1985) ra Tăng (CTĐ: 1985-1986)…Cung Pháp Hạo Nhiên Pháp Thiên (HTĐ: xuống thế độ tận vạn linh 1986),
IV ☼ HIỆP Tam Bửu: TẠI THẾ: LỬA (Phật) + NƯỚC (Pháp) + KHÍ (Tăng) hiệp tại THỔ tức BQĐ. (Cung Tăng Hỗn Ngươn Thượng Thiên 1985-1986… 2003).
- Đôi liễn trong, Cung HNPT: 
                                          “Hạo Pháp du hành an Võ Trụ,
                                  Nhiên Thiên vận chuyển tịnh Càn Khôn”.


                                                         THIÊN ĐẠO

- Đôi Liễn ngoài, Cung HNPT:
                      “ Chơn Giáo Cao Đài Cứu Khổ vạn linh qui Đại Đạo,
              Pháp Khai Ngươn Thượng Nguyên Nhân tỉnh ngộ hiệp Đồng Tâm”.

I - THỂ PHÁP : CTĐ: Vạn Linh từ Tăng (CTĐ: Phi Tưởng Diệu Thiên, phát tiết Chơn Khí: 1986-1996),
♦ Giải Thể, thay cũ đổi mới chuyển qua Bí Pháp (1996),
II - BÍ PHÁP : HTĐ là cửa BQĐ : (1996-2006) :
1/ -  Âm quyền : phải tùng Pháp (HTĐ : Tạo Hóa Huyền Thiên 1996-2001…),

♦  Thân Công Báo: Từ Tăng (CTĐ: 1992-1996) tùng Pháp (HTĐ: 1996-2001) qui Phật (BQĐ: 1998-2006). Trả về vì gốc ở Hạo Nhiên Pháp Thiên, Đức Chuẩn Đề định căn: Thân Công Báo. Thuộc Cung Tăng Hạo Nhiên Pháp Thiên tại thế (CTĐ: 2006 -2012…),
2/ -  Dương quyền : đặng qui Phật (BQĐ: Hư Vô Cao Thiên 2001-2005…),
♦ Ngô Long :Từ Phật (BQĐ:1984-1985-1986) qua Pháp (HTĐ:1986-2004) ra Tăng tại thế (CTĐ: 2004 -2012…), Đức Chuẩn Đề định căn: Ngô Long, Pháp hiệu: Thanh Công.
III ● Vạn linh đến đây đã Hiệp Tam Bửu, HƯ VÔ TỊCH DIỆT là Niết Bàn hay Cực Lạc Thế Giới, chuyển  Phật ra Tăng (2005):
                     Đề Thi : “Thiên Quân diêu động linh phang,
                                   Cả miền Thánh vức nhộn nhàng tiếp nghinh”

IV ☼   HỘI LONG HOA BẠCH NGỌC KINH THIÊNG LIÊNG Tại thế (13-4-2005).
V - CHƠN PHÁP :  CTĐ : Ra Tăng Hỗn Ngươn Thượng Thiên (2005-2006).

CHƠN ĐẠO

“ PHONG THÁNH XUẤT HIỆN KỲ BA ”
Đề Thi  NHƠN NGHĨA

“THẬP TUYỆT TRẬN”

1/- Đầu Sư Thượng Tám Thanh Chưởng Quản Hội Thánh Đạo Cao Đài, từ Tăng (CTĐ: 1979-2012) tùng Pháp Đức Hiến Pháp Quan Âm (BP. HTĐ: 1964-1968) Qui Phật Đức Hộ Pháp Di Lạc (BQĐ: ủy quyền 1956) Lấy chữ HÒA làm tôn chỉ, thi hành NHƠN NGHĨA tiến đến đại đồng (mùng 7-4 Nhâm Thìn tại Đền Thánh Tây Ninh, Bạch Ngọc Kinh tại thế 1979-2012…).
2/- Ngô Long : Từ Tăng (CTĐ: 2004 – 2006) tùng Pháp Đức Hiến Pháp Quan Âm (BP. HTĐ: 1964-1968 và Pháp: 1986-2006) qui Phật Đức Hộ Pháp Di Lạc (BQĐ: ủy quyền 1956 và Pháp: 1969-1986) Lấy chữ HÒA làm tôn chỉ, thi hành NHƠN NGHĨA tiến đến Đại Đồng (mùng 7-4 Nhâm Thìn tại Đền Thánh Tây Ninh, Bạch Ngọc Kinh tại thế 1979-2012…).
3/- Thân Công Báo : Từ Phật (BQĐ: Hư Vô Phật 1992-1998-2006) tùng Pháp (HTĐ: Tạo Hóa Pháp 2006-2009) ra Tăng (CTĐ: Hạo Nhiên Tăng 2009-2012…) thi hành NHƠN NGHĨA trước Đền Thánh Tây Ninh, Bát Quái Đài tại thế.
I - THẬP TUYỆT TRẬN (ĐẠI HỘI : NHƠN SANH :2012…),
II - TRU TIÊN TRẬN (ĐẠI HỘI : HỘI THÁNH…).
III- VẠN TIÊN TRẬN (ĐẠI HỘI : THƯỢNG HỘI…)

IV● TÀN TRẬN VẠN TIÊN – PHONG THÁNH KỲ BA : HỘI LONG HOA KHAI MẠC.
V ☼ ĐẠI HỘI LONG HOA tại ĐỀN THÁNH BẠCH NGỌC KINH hữu hình. Chơn Đạo thành Hội Long Hoa khai mạc. Sớm hay muộn còn tùy thuộc vào đại gia đình Thiêng Liêng của con cái Đức Di Lạc định quyết : Thương yêu và Công Bằng qua “bộ công Di Lạc Tam Kỳ độ sanh”.
***********************
  ▪ Ngài Thừa Sử Lê Quang Tấn, ông có tùng chủ quyền Đạo được chơn truyền chưa ?
  Trong khi Đức Hộ Pháp đã cho biết Đạo Cao Đài lấy tinh thần làm căn bản. Theo sự tiến hóa vận hành của cơ Đạo gọi là Pháp Luân Thường Chuyển, còn Tây Du Ký Đức Lý Thiên Vương gọi là bánh xe Hỏa Luân. Tinh thần của Thừa Sử Lê Quang Tấn đã dặm chân đứng chựng thắng gấp ở giai đoạn Thể Pháp đầu tiên (1926-1956) trong Pháp Luân Thường Chuyển của Đạo.
  1 - ông hoàn toàn không biết tại sao Đức Hộ Pháp ủy quyền chơn truyền Bí Pháp 1956 tại Campuchia cho Đức Hiến Pháp ? rồi tự xưng ta là Trung kiên mà không nắm chặc và biết ý của Ngài? Chỉ mê đồ giả hít khí đen ô trượt Thể Pháp không chịu tầm khí trắng thông sáng, thanh sạch Bạch Y Bí Pháp chơn truyền của Hộ Pháp.
  2- Đến năm 1964-1968 Đức Hiến Pháp mở lớp Bí Pháp Viện Đại Học Đạo Tâm, chính Đức Hiến Pháp cầm Bí Pháp thay Hộ Pháp giải thể Tịch Thanh Hương chuyển sang Tịch Đạo Tâm từ lúc đó, chớ không phải chờ đến ĐL:01-1979 buộc nhơn sanh phải tin, rồi sanh loạn.
  3- Mãi đến khi ĐL giải thể 01-1979 ra đời nhằm mục đích công bố cho toàn thể nhơn loại trên thế giới này, biết rằng nền Đạo Cao Đài ĐĐTKPĐ đã giải thể phần Thể Pháp đặng chuyển sang Chơn Pháp. Ông hít thở toàn là khí đen Thể Pháp nên sanh lòng dục loạn tương tranh.
   Thể Pháp Thừa Sử đã bị "ngợp hơi" qua ba giai đoạn: thứ nhứt, ủy quyền năm 1956; thứ hai: Bí pháp HTĐ 1964-1968; thứ ba: ĐL: 01-1979. Bởi ông mê hít khói đen Thể Pháp nên đen thủi đen thui hiện nguyên hình dưới Tịnh Tâm Đài là con trâu già cò Ngưu Ma Vương ăn cấp quạt ba tiêu giả (bí pháp HTĐ: 1964) đặng gạt người. Nhắc lại Tây Du Ký để cho chúng ta rút kinh nghiệm cho thời buổi hôm nay:
  “Khi ấy Lý Thiên Vương (chơn khí Đức Lý) mừng rỡ, bước lại ra mắt Tôn Hành Giả (mai danh ẩn tích), xảy thấy trong cổ con trâu ấy mọc ra một cái đầu nữa, con mắt sáng giới, miệng phun khói đen thui. Na Tra nổi giận chém một gươm, đầu trâu rụng nữa! Tức thì mọc đầu khác, Na Tra chém mười mấy lần, cũng mọc đầu mãi! Na Tra nổi giận, xin Lý Thiên Vương soi kiến chiếu yêu e nó biến hóa.
  Dặn rồi lấy bánh xe hỏa luân máng trên sừng trâu, hét lên một tiếng lửa cháy rần rần, con trâu ấy giậm chơn la dãy, nóng quá nên chịu phép năn nỉ rằng:
  - Xin đừng giết, tôi chịu quy y theo Phật.
  5/- Nghĩ thật lạ, tất cả mọi người ai cũng có quyền đến viếng và bái lễ Đức Chí Tôn nơi Tòa Thánh Tây Ninh…
  ● NGÔ LONG :

  Cửa Cực Lạc thinh thinh rộng mở. Quả thật, từ khi khai Đạo đã 87 năm chưa có một hành tàng Nhơn Nghĩa nào trước Đền Thánh, thể hiện đức tin có bằng chứng vô đối như thế. Với cử chỉ cao thượng tôn sư trọng Đạo giữ nghĩa đồng sanh của vị ấy, đã làm rung động hàng trăm tín đồ phật tử có duyên may tận mắt chứng kiến  một chiếc chìa khóa thương yêu, tin chắc nó sẽ hóa thân ức vạn để mở cửa Thiên Đàng tại thế.
     ■ QUỐC ĐẠO NAM PHONG 4000 NĂM VĂN HIẾN
                   TỪ TRUNG-HIẾU-NGHĨA.
  Vị ấy là Nguyễn Công Nhuận, anh lạy Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh, bởi vì anh kỉnh Đạo trọng Người, Đạo dạy người nên hiền; còn trọng người vì Ông cũng bình thường như mọi người; Ông không kiếm tìm chi vô ích, chỉ cần đồ theo nẻo thẳng cứ đi, bảo thủ và gìn giữ tại Tổ Đình Đền Thánh vẫn lập được đại kỳ công.
  Chẳng những riêng Ngài Đầu Sư Đạo Cao Đài mà cả thảy những vị đại diện, những nhân chứng sống của các Tôn Giáo, chi phái…cũng khôn ngoan sáng suốt, hy sinh can đảm, vững tâm bền chí nhẫn nại, dìu dắt môn đồ trên con đường: Minh Đức, Tân Dân, Chí ư Chí Thiện.
  Tóm lại, anh lạy Ngài Đầu Sư là anh biết kính Phật trọng Tăng đó là Đạo. Còn kỉnh Đạo trọng Người đó là Đời. Đạo Đời tương đắc ở trong anh.
  “ Tôn trọng Người như Trời với Phật,
  Thương yêu cả hết chúng sanh thành”.
  Thử hỏi, với kỷ nguyên hiện đại nầy cả thế giới có mấy ai làm được như anh? Thế nên thiên hạ đại loạn là vậy. Nước Việt Nam nhỏ nhít của chúng tôi làm được, rồi đây tin chắc thế giới cũng vẫn làm được. Mong rằng với gương sáng 4000 năm văn hiến của Tổ Quốc Việt Nam sẽ bắt cầu Trung, Hiếu, Nghĩa cho thế giới đồ theo mà giữ nước và dựng nước. Thống nhất thành một khối thương yêu, công bình tiến đến đại đồng thiên hạ.
  Đó là giải pháp cứu thế của Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam. Duy chỉ có chủ quyền Đạo trong nhân quyền tự do Tôn Giáo Việt Nam mới có! Hiện đã có và đang có!
  Ban sơ, khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Chí Tôn chọn giống dân Việt Nam làm cơ quan cứu thế, Đức Ngài đem cho lại, nhắc lại cái tủ thuốc trường sanh của Tổ Phụ là đạo NHƠN LUÂN, để làm giềng mối kết liên 92 ức nguyên nhân thiệt hiện Đạo Đời tương đắc vạn linh hiệp chí linh quy hồi bổn thiện. Đức Hộ Pháp quả quyết: “ Một nước nhỏ nhen trong vạn quốc, ngày sau làm chủ mới lạ kỳ” qua bài thi:
  QUỐC ĐẠO NAM PHONG

“ Thượng hạ nhị Thiên xử địa hườn,
Việt Nam nhứt quốc nhứt giang sơn.
Hoàn đồ toàn bảo Thiên thi định ,
Đảnh tộ trường lưu Tổ nghiệp tồn.
Quốc Đạo kiêm triêu thành Đại Đạo,
Nam Phong thử nhựt biến Nhơn Phong.
An bang liệt Thánh tùng Nghiêu Thuấn,
Văn hóa tương lai lập Đại Đồng”.
  Anh lạy tam tài Thiên, Địa, Nhơn tức tam bửu hiệp nhứt trong thể hình của Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh. Anh rất hãnh diện và tự hào cố tình lạy người anh thiêng liêng của mình khi Ông còn sống, anh không muốn quỳ gối với bài kinh “ Em Tế Anh” bằng những giọt nước mắt ân hận đau thương. Anh lạy cái đại công mà người anh của chúng ta đã và đang gìn giữ nghiệp Đạo, rạng danh Thánh địa Tam Kỳ.
Từ khi Đạo Lịnh 01/1979 xuất hiện, chúng ta cứ mãi nghe Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc và các nước phương tây bảo rằng nước Việt Nam “không có nhân quyền tự do tôn giáo”, cũng bởi người Việt Nam trong và ngoài nước tác động và yêu cầu. Nhà nước Việt Nam có cấm đâu? Phải chăng:
  1- Họ còn phân biệt đảng phái, đa số là tín đồ tôn giáo Việt Nam. Trái với lời dạy của Đức Hộ Pháp Giáo Chủ Đại Đạo Tam Kỳ: “ không phân biệt đảng phái, chủng tộc, tôn giáo…”
  2- Vì quá tự do, mà họ chê bỏ món thức ăn tinh thần Nhơn nghĩa 4000 năm văn hiến của dân tộc Việt Nam, họ chê món thức ăn Nhơn Luân của mình là cổ phẩm. Cố tìm món thức ăn hiện đại loạn luân, rướn cổ ráng nuốt còn khen ngon quá! Mình chê mình mà biểu thiên hạ khen mình sao đặng?
  Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn báo trước rằng nước Việt Nam chúng ta có một tủ thuốc trường sanh, đó là cái đạo Nhơn Nghĩa 4000 năm văn hiến, Đức Ngài bảo hãy đem vị thuốc ấy cho cả nhơn loại trên hoàn cầu nầy uống đặng hằng sống. Thế nên trước mặt Đền Thánh đề hai chữ NHƠN NGHĨA là vậy, áp dụng nho tông chuyển thế làm sống lại trong thánh chất thương yêu: Trung với Cha; Hiếu với Mẹ; Nghĩa với anh em. Đã là anh em chỉ có thương đừng ghét, mình không thương mình biểu thiên hạ thương mình sao đặng? Được vậy, thì nước thiên đàng tại thế sẽ đến trong tầm tay chúng ta không xa vời lắm.
  Thuyết đạo tại Đền Thánh, thời Tí mồng 1 tháng 6 năm Mậu Tí (7-7-1948) Đức Hộ Pháp khẳn định qua đề tài “ PHONG HÓA NHÀ NAM”:
“ Văn hiến bốn ngàn năm có sẵn
Chi cần dị chủng đến dâng công”
  Đã 87 năm, có được mấy ai dám lạy người còn sống, dám lạy cái đại công vì Đạo tức vì thiên hạ? anh lạy người anh còn sống  khéo gìn giữ và phát triển nghiệp Đạo Cao Đài, anh lạy cái Đạo Nhơn Luân trung, hiếu, nghĩa 4000 năm Văn hiến của dân tộc Việt Nam mà Đức Hộ Pháp đã lấy tinh thần đó làm căn bản đặng khai mở Đạo Cao Đài.
  Đức Phật Chuẩn Đề Bồ tát cũng phải tùng theo chủ quyền Đạo được Chơn Truyền từ Đấng đầu tiên Đức Hộ Pháp Di Lạc ban bút hiệu Phi Phàm là ông cha tức Chơn Linh của Ngài (ủy quyền 1956), Đấng thứ hai là Đức Hiến Pháp trực tiếp truyền Bí Pháp định căn Chuẩn Đề là bà mẹ tức Chơn Thần của Ngài (1964-1968). Đức Ngài Khai mở Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên để chứng chắc rằng Bí Pháp của Đạo Cao Đài ra thiệt tướng (1969), dạy các môn đồ (1984):
  - Nữa Ngũ Châu về đây mình dạy người  ta những gì?
  Tất cả đều im lặng, Thanh Sử trả lời:
  - Dạ thưa ông, mình dạy người ta về trung, hiếu, nghĩa, tâm, đức, hạnh…
  Đức Phật Chuẩn Đề, chuẩn (chỉnh) lại:
  - Đừng có nói lòng dòng. Sau này người ta về mình dạy người ta 4 đề tài:
  1- Phong Hóa Nhà Nam từ trung, hiếu, nghĩa.
  2- Di Lạc Chơn Kinh 5 Cung.
  3- Bí Pháp lấy ếm Long Tuyền Kiếm.
  4- Nguyên Tử Khí.
  Đặc biệt đề tài thứ tư (Nguyên Tử Khí), ông bảo phải tách riêng nó ra làm một đề tài.
  Đức Chuẩn Đề muốn trước tiên mình tiếp chuyện với ai thì phải lấy tinh thần Phong Hóa Nhà Nam làm căn bản. Vì vậy Kính Phật có nghĩa muốn biết ơn những công đức của người đi trước đã chết rồi thì phải trọng Tăng tức lạy người còn sống đã kế thừa đại nghiệp NHƠN LUÂN của toàn nhơn loại được trường tồn.
  Nếu điểm lại cái tinh thần Nhơn Nghĩa của dân tộc Việt Nam, thì bọn dân địa phủ đã Thừa hành và Sử lý theo sự dục loạn của Quang Tấn họ Ngưu, cái hồn Phong Hóa Nhà Nam đã tiêu tàn ám muội trong bộ não bịnh hoạn của họ.
   ▪ Có lạ gì đâu, người ta lạy cái đại hùng, đại chí, đại lực, đại từ bi của nhơn loại, người ta lạy cái hằng sống Nhơn Luân Chi Đạo được chơn truyền tại thế mới thiệt là Quốc Đạo Nhà Nam. Chớ không như con trâu già Ngưu Ma Vương  mượn áo màu cò (trắng) xúi giục bầy trâu con; trâu nghé ngọ Trạng Nam thay mặt trâu già cò làm trưởng đoàn, Tấn Kiệt bọ cạp núi phó đoàn và con rắn thuồng luồng lục lạo Huỳnh Văn Mừng thơ ký đoàn đặc trách nam phái và Thông Sự Nguyễn thị Mỹ Nga đặc trách nữ phái. Đáng tiếc cho những kẻ hữu danh vô dụng được sự hùng vốn của mấy “ông trời tiền”: Hà Văn De; Trần Văn Dũ (cháu ba De) dọa giết chết ba Thọ bởi mang cái tội nghèo, mà dám nói thật phải mất lòng; Đổ Văn Đó; Nguyễn Đắc Chưởng Giáo Hữu gạch men (khi xây cất V/P.CSPP ông hùn vốn lót gạch men yêu cầu Thanh Sử ban cho chức Giáo Hữu, kỳ nầy ba De nói ông theo họ Ngưu thì ông đắc rồi đó); đặc biệt bảy Của bỏ con trâu nước theo con trâu già cò, cái bản chất của anh là muốn giúp trời tức giúp người chớ không muốn làm “trời tiền”.
  Họ hiện nguyên hình dưới Tịnh Tâm Đài, họ nịnh hót đọc thần chú lạy dập đầu bể trán “tự vận” với người đã khuất bởi cái tội phạm thệ ngu trung, bất nhân bất nghĩa, loạn hàng thất thứ, đi ngang về tắc với người còn sống được chơn truyền kế chí. Đã 33 năm, đợi đến ngày giờ dựng bảng Phong Thánh Kỳ Ba trước Đền Thánh, khi họ đứng dưới Tịnh Tâm Đài mới biết tự hỏi mình “nghĩ thật lạ”? Có gì lạ đâu? Thú mới bái trâu làm thầy làm quan tể tướng, còn người ta là người, mới lạy người: vì thầy, vì anh em của người ta cũng là người.
  6/- Nay Ngài Thừa Sử dẫn phái đoàn Nhật về thăm viếng và tìm hiểu Tôn Giáo Cao Đài thì chúng ta nên mừng mới phải, chứ đem ra thảo luận đặng làm gì, có gì đâu mà phải luận với thảo vậy. (?)
  ● THÂN CÔNG BÁO :
Biết đâu, Đoàn OMOTO Giáo có duyên may lập công đầu với Bảng Phong Thánh Kỳ Ba của nền Tôn Giáo Cao Đài ĐĐTKPĐ dưới Tịnh Tâm Đài Tòa Thánh Tây Ninh (2012).
  Mừng lắm chớ ! Chúng ta nên mừng mới phải ! Nhờ có đoàn OMOTO Giáo, thì “bọn dân địa phủ hình đen nám” phạm thệ kia mới đúng ngày giờ hiện nguyên hình dưới Tịnh Tâm Đài lên bảng nêu tên. Họ hám danh, lợi, quyền tối mắt; dục loạn phân phe chia phái; bới lông tìm vết; xúi anh em bạn đồng sanh, đồng minh đồng thệ thù ghét;  tàn hại lẫn nhau…Bởi cái thú tính đội lớp người của họ.
  Phải chi trước kia Đức Hiến Pháp Quan Âm thu dây Sắc Lệnh thì Thừa Sử không có hiện nguyên hình là con trâu già cò Ngưu Ma Vương dưới Tịnh Tâm Đài như ngày hôm nay, ông làm sao biết được cái bí pháp khó nói của Ngài Hiến Pháp? (1964-1968). Một buổi sáng Tháng 6-2012, trên đầu họ có một Đấng đủ quyền năng trụ tinh thần của họ sống lụng lại cái nguyên sanh căn cốt trước kia của họ, dấu mình đội lớp người đặng gạt gẫm qua mặt thiên hạ. Đấng vi chủ Tịnh Tâm Đài trụ tinh thần của họ lại là Đức Hiến Pháp Quan Thế Âm Bồ Tát đó vậy.
  Với Thể Pháp Thừa Sử giả trạng trước ĐL:01-1979 đối hàm Cửu Trùng Đài là Giáo Hữu, vậy ông có lào thông Chơn Đạo chưa mà muốn làm quan tể tướng? Nếu sánh với Ngài Thượng Tám Thánh thì phẩm giả trạng của ông mãi mãi vẫn là đàn em là lính của Ngài. Nói về chơn truyền chánh pháp nắm chủ quyền Đạo hiện nay thì Ngài Thượng Tám Thanh là “một mặt tín đồ Hội Thánh vẫn giữ bản quyền Hội Thánh” (1973).
  Còn ông chỉ là một diễn viên nghiệp dư hát bộ; đồng bóng cốt chàng đội mão hai sừng trâu già cò trắng, điệu bộ hai tay cứ chỉ chọt cho khán giả lưu ý mấy miếng vãi màu mè buộc lòng thòng nơi bụng (01-1979), hát bài Ngưu Ma Vương cướp quạt Ba Tiêu của bà vợ Ngọc Diện Công Chúa, nhằm quạt giả đã bị Tề Thiên tráo đổi thiệt ra giả đặng quạt những ai nhẹ dạ chạy theo trâu: Trong số ấy còn có 14…tên phạm thệ cũng mượn mấy món đồ giả của cái thời Thể Pháp Tiểu Phong Thần lên sân khấu diễn tuồng “loạn Thần tặc tử” : Luật Sự; Sĩ Tải; Truyền Trạng; Thừa Sử; Giám Đạo; Cải Trạng…”
  Khẳn định qua việc làm bấy lâu của ông, thì ông không phải là một nguyên nhân. Nhưng nếu muốn làm Lãnh Đạo Tinh Thần Tôn Giáo, trước tiên phải biết tam bửu “người” của ông là gì? Hỏi vậy, chớ dứt khoát ông không hề biết, nếu biết ông không thể là Ngưu Ma Vương con trâu già cò thời buổi Tây Phương Cực Lạc Đại du ký Tam Kỳ. Con trâu cũng có tam bửu của nó chớ, nếu không có thì làm sao có nó bởi tam bửu là cái Đạo nhơn luân. Vậy tam bửu của con trâu già cò Ngưu Ma Vương là gì? Ông không biết ông thì không còn ai biết hết, mà mình không biết mình còn thua cỏ cây vật loại kia sống ấy vô giá trị.
  ■ Đức Hộ Pháp khẳn định: “Trọng giá của Tam Bửu mà Chí Tôn ưa chuộng để dâng đại để cho Ngài là nguyên nhân chấm dứt cái họa tranh thù mà gây nên trường oan nghiệt cho toàn thế giới. Ấy vậy muốn duy trì sự hòa biết đại đồng này cũng do nơi gốc Bí Pháp đó mà thôi. Dầu triết lý thâm uyên đạo đức mà tôn giáo nào cũng không qua lẽ ấy. Mà nếu không đoạt được thì toàn lẽ ấy là đệ nhị xác thân của toàn thể ô trượt tội tình thì thế giới sẽ điêu tàn tiêu diệt mà chớ”.
  Tam Bửu hóa nhân của Thừa Sử trâu già Ngưu Ma Vương:
  - Thần (Thầy): Đức Hiến Pháp Quan Âm.
  - Khí: Đức Hiến Pháp dạy, và giao thay mặt Đức Ngài (HTĐ) đi hợp Ấn Độ.
  - Tinh: mượn mấy miếng vãi lòng thòng nơi bụng để làm bùa hộ mạng.
  ▪ Nhục thể: Lê Quang Tấn.
  Vậy Tam Bửu: Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt nơi nhục thể của Thừa Sử giả trạng: Lê Quang Tấn là Con trâu già cò Ngưu Ma Vương.
  Thanh Hương Thừa Sử Lê Quang Tấn đã hiện thú hình con trâu già cò dưới Tịnh Tâm Đài, đeo đính bài “Loạn Thần tặc tử”. Nếu ông biết “ăn năn sám hối tội tình , xét câu minh thệ gởi mình cõi thăng”, lập công bồi đức tùng Pháp của Bích Du Cung (Chơn Khí Đức Lý) là thiệt tướng Cửu Trùng Đài Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh tại thế, để đoạt phẩm vị người giải kiếp thú hình, tấn hóa lên Thần, Thánh, Tiên, Phật kể cả Trời nữa mà chớ !
  Đến giai đoạn Chơn Đạo, Đức Chuẩn Đề đã cấm cờ Thanh Liên Bửu Sắc trước Đền Thánh, đêm mùng 7-4 Nhâm Thìn (2012) với Đề Thi : NHƠN NGHĨA dựng Bảng Phong Thánh xuất hiện Kỳ Ba. 
  Thừa Sử Lê Quang Tấn và bọn dân địa phủ hữu võng thất trí vô mưu (đại hải chúng) đã sa trận thứ nhứt (1) trong THẬP TUYỆT TRẬN (ĐẠI HỘI NHƠN SANH) là THIÊN TUYỆT TRẬN (Trận Trời giết). Sao gọi Thiên Tuyệt Trận là Trận Trời giết? Thử hỏi Trời nào giết người? Cha nào giết con bao giờ đâu? Chính họ tự giết họ, họ lạy “dập đầu bể trán” họ muốn “tự vận” cho chết ! Vì họ cải trời tức phản Thầy, tự họ đào thảy và tự diệt lấy họ.
  Đức Hộ Pháp cũng dành riêng một cõi Phong Đô còn gọi là UỔNG TỬ THÀNH để cho những kẻ phản thần tặc tử dục loạn tương tranh; lạy dập đầu bể trán “tự vận” cho chết, có nơi họ tu dưỡng “ăn năn sám hối tội tình, xét câu minh thệ gởi mình cõi thăng”. Cũng là nơi giam giữ những kẻ “tự vận” chết một cách oan uổng; lầm lạc; tội tình.
  ▪ Kinh Qur’an :
  - “Linh hồn của họ sẽ bước sang một thế giới vô hình gọi là Barzakh nơi đây họ sẽ được cung dưỡng và sống để chờ đến ngày phục sinh tiếp đó, được xét sử về hành động tốt và xấu, và sau đó họ sẽ được lên thiên đàng hoặc sẽ sa hỏa ngục tùy theo việc thiện và ác của họ trên thế gian”.
  Đôi Liễn Bích Du Cung

  - “Đóng cửa tụng Huỳnh Đình, thiệt cố thành ngôi Chánh Quả,
- Tách mình qua Tây Thổ là người tên đứng bảng Phong Thần”.
Thiệt nghĩa :
- Tu Thân phải tề Gia, rồi trị Quốc mới bình Thiên Hạ,
- Mượn danh Đạo tạo Danh mình là người Phạm Thệ lên bảng nêu tên.

  ● Nếu quý vị không tâm phục khẩu phục đặng sửa mình, cần chất vấn công khai trực tiếp khách quan trước dư luận…phổ biến bằng nhiều hình thức theo nhu cầu của quý vị, thì quý vị phải tự thân đứng ra chủ động xin phép; tổ chức; mời gọi tùy ý… khi nào quý vị thông báo cho chúng tôi có giấy mời ngày giờ… hợp pháp. Chúng tôi rất vui mừng và cảm ơn, sẵn sàng chấp nhận lời đề nghị chất vấn trực tiếp của quý vị mà chúng tôi đã chờ lâu lắm rồi !
  Chi chi cũng tại Đền Thánh Tây Ninh nầy mà thôi. Phải là địa điểm tại GIẢNG ĐƯỜNG nội ô Tòa Thánh Tây Ninh, dưới sự có mặt của Hội Đồng Giám Sát làm nhân chứng sống, gồm :
  1- Ban đại diện thay mặt Hội Thánh Tôn Giáo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh.
  2- Ban đại diện thay mặt: không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, đảng phái, tổ chức quốc tế nào...
  3- Ban đại diện các cấp, các đoàn thể… Chính quyền địa phương Tỉnh Tây Ninh.
  4- Đại diện Ban Tôn Giáo Tỉnh Tây Ninh.
  5- Đại diện Sở Nội Vụ Công An Tỉnh Tây Ninh.
  6- Theo nhu cầu, Hội Thánh Đạo Cao Đài Tây Ninh sẽ bổ sung thêm…
  ▪ Chúc quý vị dồi dào sức khỏe, vạn an !
  ■ Tây Phương Cực Lạc : Đền Thánh Tây Ninh, ngày 10 – 8 Nhâm Thìn (2012).

-  THANH LIÊN BỬU SẮC –
(  BÁO TRUNG )





Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả