Hoàng-Ân

NGUYỄN THÁI HỌC và
VIỆT-NAM QUỐC-DÂN-ĐẢNG

"Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi
 Mà khó vì lòng người ngại núi, e sông."
                       (Nguyễn Thái Học)


     Dưới chế-độ thực-dân, chính-quyền thực-dân Pháp cố công để giam-hãm người dân Việt-Nam trong vòng ngu-tối.  Một trong những biện-pháp chế-tạo ngu dân là hạn tuổi đi học: quá hạn ấy thì không được vào học ở các trường công.  Vì thế những vị phụ-huynh Việt-Nam thường khai rút tuổi cho con cái. Vì vậy ngày sinh của Nguyễn Thái Học vẫn còn chưa chắc-chắn.  Theo như giấy khai-sinh thì Ông sinh ngày mồng 1 tháng 12 năm 1904, nhưng theo truyền-thuyết thì Ông tuổi Quý-Mão tức 1902.
     Quê Nguyễn Thái Học thuộc làng Thổ-Tang, tổng Lương-Điền, phủ Vĩnh-Tường, tỉnh Vĩnh-Yên.  Thân-phụ là Nguyễn Văn Hách, một nhà tiểu-nông; thân-mẫu tên Nguyễn Thị Quỳnh làm nghề buôn vải. Nguyễn Thái Học là con trai trưởng. Nguyễn Thái Nho, em trai Ông cũng là một liệt-sĩ đã hy-sinh tính-mạng cho Dân-Quốc Việt-Nam.

     Khi Nguyễn Thái Học còn đang học tại trường đại-học Cao-Đẳng Thương-Mại, Ông cùng những bạn hữu như Nhượng-Tống, Pham Tuấn Lâm (Dật-Công) và Pham Tuấn Tài (Mộng-Tiên) vào năm 1926 thành-lập nhà xuất-bản Nam-Đồng Thư-Xã, mong nâng cao dân-trí bằng con đường văn-hóa.  Ban đầu, Nguyễn Thái Học còn tin vào chủ-nghĩa xã-hội của Pháp và các đảng quốc-tế, ông đã bao phen xin yết-kiến những quan toàn-quyền người Pháp để đề-điệu những chương-trình cải-cách; ông đã hoàn-toàn thất-vọng.  Thấy không thể nào hợp-tác với nhóm thực-dân, vào giữa năm 1927, Nguyễn Thái Học cùng các đồng-chí quả-quyết đi vào con đường cách-mệnh.

     Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng được thành-lập với mục-đích tập-hợp các anh/chị/em đồng-chí và dùng võ-lực để đấu-tranh dành độc-lập cho dân-quốc.  Cách tổ-chức phân ra làm chi-bộ, mỗi tổ gồm mười chín ngưới, vì theo pháp-luật hiện-hành, sự tập-họp quá 19 người là phải xin phép chính-quyền trước.  Mỗi chi-bộ gồm có bốn ban: tài-chính, tuyên-truyền, trinh-thám, và ban điều-hành.  Sau đó mỗi chi-bộ bầu lên một chi-bộ-trưởng và một vị đại-biểu lên tỉnh-bộ.  Tỉnh-bộ được kết-hợp các đại-biểu của chi-bộ: cũng chia thành bốn ban và bầu bộ-trưởng để dự vào đảng-bộ cấp trên.   Sau đó là kỳ-bộ, nguyên-tắc tổ-chức cũng như trên. Tổng-bộ là cơ-quan tối cao của Đảng: có thêm bốn ban: ban binh-vụ, ban ngoại-giao, ban giám-sát và ban ám-sát.
     Chương-trình hoạt-động của Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng được chia ra làm ba thời-kỳ: thời-kỳ phôi-thai, hoạt-động trong vòng bí-mật; thời-kỳ dự-bị, trong vòng bí-mật; thời-kỳ cuối là phá-hoại.  Nhưng trứng chọi đá thì sự thất-bại không có gì là ngạc-nhiên: chỉ quả-cảm thay những tấm gương bất-khuất, tinh-thần tự-tin cao những tưởng sẽ có thể xô trời, lệch đất để đem lại độc-lập cho dân-quốc.  Nhưng dù cho thất bại nhất thời, vẫn đóng góp vào cuộc đấu-tranh trường-kỳ của một quốc-gia nhỏ bé luôn bị nạn ngoại-xâm hăm-dọa.  Tinh-thần bất-khuất ấy giúp cho dân-tộc có một tinh-thần kiên-nhẫn trường-kỳ trong công-cuộc gìn dân, giữ nước.

     Ngày 17 tháng 6 năm 1929, Nguyễn Thái Học cùng 12 liệt-sĩ Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng bị lên máy chém tại Yên-Báy.  Ông là người lên máy chém sau cùng.  Ông đã hy-sinh sau khi hô to trọn-vẹn bốn chữ  "Việt-Nam Muôn Năm..!!"
    
     Sau đây là danh-sách ghi tên 13 vị liệt-sĩ Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng đã bị giết một cách man-rợ:  Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Bùi Tư Toàn, Nguyễn Hát Thân, Bùi Văn Chuân, Vũ Thích, Nguyễn Án, Lê Văn Tư, Nguyễn Đình Hiên, Nguyễn Ngọc Tập, Nguyễn Tư Dật, Nguyễn Văn Tín, Hà Văn Lao, Đào Văn Nhít, Đặng Hữu Hiến, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Văn Ông, Lê Văn Tự, Bùi Văn Du, Bùi Văn Tuyết, Cao Văn Chính, Mai Viết Chính, Hoàng Văn Vọng, Ngô Văn Đu, Lê Văn Khôi  (Thanh Giang), Hà Cập, Nguyễn Văn Tỉnh, Nguyễn Văn Tiềm,  Đỗ Văn Tư, Nguyễn Văn Kiêm, Lê Xuân Huy, Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Đắc Bằng, Nguyễn Văn Chu, Nguyễn Như Thông, Nguyễn Như Liên (Ngọc-Tĩnh), Vũ Xuân Kiểm, Trần Đức Tài, Hoàng Công Tiển,  Bùi Xuân Mai, Ngô Thanh Thuyết, Ngô Hải Hoàng, Nguyễn Văn Thinh, Nguyễn Đức Liên.


    


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả