Hoàng-Ân

ĐỌC QUYỂN "KINH THI VIỆT-NAM" CỦA TRƯƠNG TỬU


     Thi-ca bình-dân là văn-chương truyền-khẩu.  Một vô-danh-thị xuất-khẩu rồi những người vô-danh khác hát ngâm lên, thay đổi dần một cách ngẫu-nhiên để hợp với hiện-tình xã-hội của họ: cho đến khi nền thi-ca ấy phản-ảnh bản-sắc tâm-lý của cả một dân-tộc. Thật ra, cho dù có khác biệt ở địa-dư và phong-tục tập-quán, thi-ca bình-dân biểu-lộ tâm-lý xã-hội của trọn nhân-loài, là ý-chí muốn tồn-tại, trường-tồn.  Riêng thi-ca bình-dân Việt-Nam làm "nổi bật lên cái tinh-thần độc-lập và nỗ-lực trường-kỳ của tổ-tiên ta đã thực-hành trong bao nhiêu thế-kỷ để tránh nạn Trung-Quốc hóa."  Rồi Pháp vào và dùng mọi phương-chước phá-hại văn-hóa Việt với chế-độ ngu dân.  Qua bao dâu bể, loạn-ly, người dân Việt vẫn giữ được tinh-thần bất-khuất qua thi-ca bình-dân.  Vai trò thi-ca bình-dân rất quan-trọng như một thiên quốc-sử dân-gian, biểu-lộ tinh-chất can-trường chống lại sự phá hại nền văn-hóa dân-tộc của giặc ngoại-xâm. Để dẫn làm thí-dụ, xin mời quý-vị đọc những dòng sau, trích-dẫn từ phần "Trước Khi Vào Lời" trong quyển "Kinh Thi" do Trương Tửu viết:

     "Cách đây đã lâu, chừng mười hai mười ba năm, trong lúc dạo chơi hóng gió quanh hồ Gươm, tôi đã được hân-hạnh gặp một ông già thuộc về cái lớp người ra đời vào khoảng vua Tự-Đức băng-hà. Tóc bạc phơ, râu bạc phơ, móng tay dài, quần áo lụa nội-hóa, giầy Gia-Định, kính trắng...ông có phong-thái của một nhà nho ngàn xưa còn sót lại, đang bực-dọc vì phải chứng-kiến những cảnh giao-thời của xã-hội nước nhà.
     Sự tình-cờ đặt tôi ngồi bên ông. Phe-phẩy chiếc quạt lông hình trái đào, ông đăm đăm nhìn về phía hồ, vẻ mặt ra chiều tư-lự, và nhớ tiếc. Tôi kính-trọng thái-độ hoài-niệm của con người lạc-lõng ấy nên cũng yên-lặng ngồi nhìn khách thừa-lương qua lại.
     Bỗng có tiếng trẻ con từ mé nhà bát-giác vẳng lại...

     Chi chi trành trành
     Cái đanh thổi lửa
     Con ngựa chết trương
     Ba vương lập đế
     Ú tế đi tìm
     Hú tim bắt ập.

     Đột-nhiên, ông cụ hỏi tôi: "Thầy có nghe trẻ con chúng vừa hát chi đó không?"  Tôi ngạc-nhiên và lễ phép đáp,"Thưa cụ có. Sao ạ?"  Ông già lắc đầu mấy cái rồi nói luôn:

     "Chúng hát sai cả. Người ta dạy chúng sai cả.  Câu hát ấy không phải thế.  Nguyên nó là một câu Sấm của cổ-nhân truyền lại mãi đến gần đây mới ứng-nghiệm.  Câu ấy là: Chu Chu Rành Rành nghĩa là bá-cáo cho mọi người đều biết. Câu thứ hai là: Cái Đanh Nổ Lửa, nói về quân-đội Pháp bắn súng vào cửa Đà-Nẵng.  Câu thứ ba là: Con Ngựa Đứt Cương chỉ vào sự băng-hà của vua Tự-Đức và sự rối loạn của triều-đình lúc bấy giờ.  Hồi đó bọn Tường, Thuyết chuyên-quyền giết hại nhiều người trung-trực.
      Chúng dám làm trái cả lời di-chúc của tiên-vương, bỏ Dục-Đức vào ngục tối, lập Hiệp-Hòa làm vua.  Sau chúng lại giết Hiệp-Hòa đem Kiến-Phúc thay vào. Rồi chúng lại giết Kiến-Phúc tôn Hàm-Nghi lên ngôi báu.  Ba ông vua kế-tiếp nhau liền liền như thế nên mới có câu: Ba Vương Tập Đế.  Đến triều vua Hàm-Nghi thì Thuyết nổi lên bài Pháp bị thất-bại phải đem vua đi trốn.  Một mặt quân-đội Pháp lo dẹp loạn, một mặt tìm kế bắt Hàm-Nghi để trị yên lòng dân. Vì thế mà có câu: Cấp Kế Đi Tìm. Sau rốt vì có tên Ngọc phản-bội mà vua bị bắt ập ở rừng Tuyên-Hóa lúc ngài đang ngủ. Đó là nghĩa câu, Hú Tim Òa Ập!"
    

    


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả