ÂM HƯỞNGTỪ ÐẢO CORSE (PHẦN 7)
Thằng Chuối ở nhà bác Ba Trê sốt ruột chờ đợi chú Năm Ðằng trở lại để rước nó vào mật khu. Tác phong và hành động của chú Năm Ðằng rất nghiêm túc, cẩn trọng đã gây sự tin cậy trong lòng nó. Nhưng nỗi lo âu vẫn đến với nó. Bóng đêm như một màn đen mờ bao trùm thôn xóm nhỏ. Nhà nhà đều cửa đóng, then gài kín mít. Nó nhìn đồng hồ. Ðã mười giờ tối rồi mà chú Năm Ðằng vẫn chưa thấy đến. Vợ bác Ba Trê đã mỏi mệt, đi vào trong buồng ngủ trước. Còn bác Ba Trê ráng thức với thằng Chuối. Bác không làm việc gì khác hơn là im lặng ngồi chờ, trong lòng thoáng chút lo âu. Nhưng rồi, có tiếng động nhẹ bên ngoài, và tiếng chú Năm Ðằng gọi khẽ:
- Anh Ba ơi ! Năm Ðằng đây. Tui đến trễ ...
Bác Ba Trê lập tức mở cửa. Chú Năm Ðằng thở hồng hộc, áo quần, mặt mũi ướt đẫm mồ hôi. Chú hấp tấp bước nhanh vào:
- Tình hình hơi căng. Phải đổi lộ trình cho an toàn. Vì vậy đánh đường vòng rất xa. Phiền anh chờ đợi ...
- Không sao đâu. Chỉ ngại có chuyện gì rắc rối xảy cho chú thôi.
Chú Năm Ðằng quay qua thằng Chuối:
- Thay đồ dạ hành màu đen. Lẹ lên cháu.
- Dạ.
Bác Ba Trê mang ra một bao đồ ăn:
- Còn có đồ ăn, lương khô gói gọn trong bao này. Hai chú cháu chịu khó mang theo, phòng khi đói.
Chú Năm Ðằng khoát tay:
- Bữa nay kẹt lắm. Không thể mang theo cái gì được hết. Ðịch đột nhiên đóng quá đông ở làng Tân Ðịnh. Phải đi vòng qua ngã Phú Giang để đến nơi. Tay chân phải thảnh thơi. Cám ơn anh đã quá chu đáo cho cháu.
Bác Ba Trê quay qua nhìn thằng Chuối, nói với giọng xúc động:
- Chú đừng có khách sáo. Cháu Hai mới ở đây có một ngày mà bà xã tui thương cháu như con. Còn tui, cái nghề hốt thuốc Nam gia truyền này cũng muốn truyền hết cho cháu.
- Anh Ba! Tui phải đưa cháu lên đường gấp. Nếu anh và cháu có duyên lành thì sau này sẽ gặp lại nhau. Xin kiếu.
Chú Năm Ðằng nhẹ nhàng mở hé cửa, đưa mắt nhìn ra ngoài, nghe ngóng cẩn thận. Chú nói nhỏ với thằng Chuối:
- Nhớ im lặng theo chú. Lần này hai chú cháu đi xa và nguy hiểm hơn vừa rồi. Phải cẩn thận. Ðừng hấp tấp hay nông nổi khi có chuyện bất ngờ xảy ra.
Thằng Chuối gật đầu, nhanh nhẹn bước theo chú. Cảnh vật bên ngoài chìm đắm trong bóng đêm và sự lạnh giá. Nhưng lửa đỏ và khói cuồn cuộn bốc lên xa xa ở hướng Ðông của làng lân cận Tân Ðịnh đã gây nên sự kinh hoàng. Chú Năm Ðằng và thằng Chuối di chuyển ngược lại về phía làng Phú Giang. Họ lầm lủi, âm thầm đi trên các bờ mẫu, băng qua nhiều ruộng lúa, thay vì thong thả đi trên con đường cái. Cũng may là chú Năm Ðằng rất quen thuộc đường lối và thằng Chuối theo chú như hình với bóng, nên không gặp trở ngại nào. Một lúc sau, họ đến một vườn dừa đủ các loại như dừa Xiêm, dừa ta, dừa lửa, mương được đào thẳng tắp, bờ dừa rộng lớn. Cuộc hành trình của họ bây giờ đỡ khó nhọc hơn lúc đi qua cánh đồng lúa trong đêm trăng khuyết như hôm nay. Chú Năm Ðằng dự định tạm dừng chân ở nhà một gia đình mà chú quen trong khu vườn dừa này để thằng Chuối có dịp nghỉ ngơi. Từ đàng xa, chú ngạc nhiên tại sao giữa đêm khuya khoắc mà cửa mở, đèn đuốc sáng choang, và đông đảo bóng người qua lại. Chú quay lại ra dấu cho thằng Chuối và thì thào:
- Cẩn thận nhen cháu. Khom người xuống. Từ từ đi tới.
- Dạ.
- Nhớ đừng làm gì hết khi mình chưa chuẩn bị hay tính toán trước.
- Dạ.
Một cảnh tượng đầy kinh hãi và nham nhở hiện ra trước mắt. Hai vợ chồng bác Ba Ðê bị kềm chế, ngồi bất động trên ghế. Mấy tên lính làng lục xét, phá phách. Ngửa đầu, đưa chai rượu lên, một người Pháp có vẻ là tên chỉ huy nhóm biệt kích, uống ừng ực một hơi dài. Hắn cười khoái trá khi một tên lính biệt kích gốc Phi Châu lôi kéo một cô gái trốn ở nhà sau lên. Cô này là Nhung, con gái của bác Ba Ðê. Tóc rối xoã dài sau lưng, mặt đầy nét sợ hãi, Nhung đang vùng vẫy dữ dội. Hai vợ chồng bác Ba khóc rống lên, mặc sức van lạy, nhưng bọn ác ôn mặc kệ, không một chút xúc động nào. Tên biệt kích người Pháp đưa bàn tay thô bạo lên vuốt nước mắt trên mặt Nhung. Nhung né đầu tránh sang một bên, bị hắn nắm tóc kéo trở lại. Hắn nhìn sòng sọc vào thân hình cân đối, da trắng mịn màng trước mặt hắn, đưa tay sờ soạng, mò mẫm ở ngực, vuốt từ từ xuống bụng, rồi vòng eo của Nhung. Hai bàn tay đen thui của tên biệt kích sau lưng Nhung vẫn kềm chặt nàng. Nhung la hét lên, giọng pha lẫn nỗi tuyệt vọng lẫn căm thù. Nổi hứng, tên biệt kích người Pháp rút con dao găm bên hông ra, rọc đứt các khuy áo của Nhung từ trên xuống dưới. Tiện tay, hắn cắt đứt giây thắt lưng quần, rồi điên cuồng xé rách quần áo của Nhung, liệng sang một bên. Cô gái xinh đẹp bây giờ trở thành một bức tượng khỏa thân của thần vệ nữ, hai núm hồng, nhỏ phô ra nét hấp dẫn trên đôi vú đầy đặn, căng đầy nhựa sống của tuổi dậy thì. Say sưa mân mê khắp nơi trên người cô gái, rồi gạt hai tay tên biệt kích Phi Châu ra, hắn đè cô gái xuống nền nhà. Một người lính trẻ trong làng còn nhân tính, động lòng trước cảnh cưỡng hiếp cô gái cùng quê với mình, đưa hai tay lên trời, la to lên:
- Xin đừng! Xin đừng!
- Ðừng gì?
Một tên biệt kích tặng một phát đạn vào đầu người lính trẻ. Người này ngã gục xuống chết, không còn kịp thắc mắc lôi thôi gì về thân phận của người dân mất nước. Bất ngờ, thằng Chuối không dằn nỗi cơn tức giận, nắm tay đấm mạnh vào thân cây dừa gần bên nó. Chú Năm Ðằng hết hồn, đến gần bên thằng Chuối, nắm lấy cánh tay nó nói nhỏ:
- Cháu! Từ từ xuống mương dừa, rồi chú cháu mình đi ngay. Bây giờ không kiên nhẫn, chạy vào đó sẽ bị mất mạng. Lúc đó, làm sao trả thù nhà, nợ nước?
- Chú Năm à! Ở dưới mương dừa, nước lạnh và bùn lầy lắm. Sao mình lại xuống đó?
- Chú biết! Nhưng nếu mình cứ tiếp tục đi trên bờ, rủi như còn một toán nào khác của quân địch rình rập, giăng bẫy thì nguy to. Nếu đám lính kia không vào trong nhà đó cướp giựt, hãm hiếp thì mình đã bị lâm nạn rồi.
Chú Năm Ðằng và thằng Chuối bước xuống mương, nước không lạnh lắm, nhưng chân bị lún sâu trong bùn đến gần một tấc. Tránh lưu lại dấu vết trên bùn và gây ra tiếng động, họ phải đi vào giữa mương, nơi có nước lẫn bùn để di chuyển. Với sự thận trọng, hai người lom khom bước từng bước một. Dẫn đầu trong bóng tối lờ mờ, chú Năm cố gắng tối đa quan sát hai bên trái và phải của mương dừa, đề phòng có địch mai phục. Ðàng cuối của mương dừa, một rặng tre thưa thớt che khuất nửa kín, nửa hở một con đường mòn rộng lớn, mà phía bên kia con đường là vườn chuối cau sai trái. Ðom đóm lập lòe, lượn quanh nơi này. Chú Năm bò lên trước, núp vào một góc kín đáo nghe ngóng. Có tiếng chân người và tiếng nói chuyện huyên náo trên con đường mòn. Chú nhanh chóng bò trở lại, bước xuống mương dừa chỗ cũ:
- Có lính đi tuần tiểu trên đường. Núp xuống. Chờ chúng vừa đi xong thì mình băng qua đường ngay.
Thằng Chuối thì thào:
- Từ đây đến chỗ cuối cùng còn xa không chú?
- Không xa lắm đâu cháu. Phải kiên nhẫn ... À nầy ...! Chúng sắp tới kìa. Im lặng!
Ánh đèn pin vàng vọt quét qua, quét lại trên con đường mòn. Bốn người lính làng theo ánh đèn đó di hành về hướng đồn bót. Bóng của mấy cây tre khẳng khiu theo ánh đèn hắt xuống mương dừa, xoay qua, xoay lại rợn người. Người lính cầm đèn pin nói:
- Ngồi nghỉ mệt chỗ tảng đá này một chút. Ðêm nay mệt và xui xẻo quá!
Cả bọn dừng lại, ngồi xúm xít xung quanh một tảng đá lớn ở ven đường. Người nọ tiếp tục:
- Quan chủ Quận làm việc gì cũng tính toán cao quá. Không ai hiểu nỗi. Lộn xộn ở làng Lộc Thuận mà đem lính biệt kích Pháp và Lê Dương tấn công các cha nội kháng chiến ở làng Tân Ðịnh. Cùng lúc đó, cho một toán biệt kích khác mai phục ở làng Phú Giang.
Một người lính khác chen vào:
- Muốn chắc ăn, quan chủ Quận còn nhờ thầy Quản đưa tụi mình ra phụ giúp toán nầy nữa chớ.
Người lính ngồi ở góc cuối cùng cũng góp lời:
- Quan chủ Quận nghiêm lắm! Bảo đi mai phục thì mai phục là chính. Còn chuyện vào nhà dân lấy đồ, hãm hiếp đâu được lấy đó làm chính. Không chừng tụi mình bị vạ lây.
- Thầy Quản dặn rằng, họ ở đâu thì mình phải theo đó. Không sao đâu. Tội cho thằng Lương, thấy con Nhung đẹp quá, la bậy la bạ bị chết. Hai vợ chồng bác Ba Ðê chạy tới cứu con cũng bị tên Congo bắn chết luôn. Ghê quá!
- Toán biệt kích đi với tụi mình đâu ngờ quan chủ Quận lại bí mật cho một toán biệt kích thứ hai đến đây tuần thám. Toán này nghe tiếng nổ, chạy đến thấy hết mọi chuyện. Họ trói thằng Tây và mấy thằng Lê Dương đi với mình, dẫn về trình Ngài Le Roi. À! Nhờ vậy, con nhỏ Nhung hên, khỏi bị hãm hiếp. Mà con nhỏ lẹ quá, nó chuồn trốn đi đâu hồi nào không ai hay biết gì hết.
- Thôi khuya quá rồi. Gần hai giờ sáng. Về nhắm mắt một chút, sáng sớm tui ra báo cáo thầy Quản để người ta lo chôn cất bác Ba Ðê và thằng Lương.
Rồi cả bọn đứng dậy tiếp tục lên đường, bước chân họ xa dần, xa dần. Chú Năm Ðằng và thằng Chuối ở dưới mương dừa, chui rúc khá lâu, đầu gối bị tê nhức, chân bị lạnh cóng. Nhưng chú mừng thầm vì việc phục kích và tuần tiểu của quân địch có thể đã chấm dứt bởi những đột biến vừa rồi. Bây giờ là lúc phải băng qua con đường mòn thật nhanh và thật an toàn. Chú và thằng Chuối bò qua bụi tre, núp trong một lùm cây rậm sát bên đường. Chú Năm Ðằng rất cẩn thận, nghiêng đầu quan sát bên trái và bên phải của con đường mòn, rồi thì thào:
- Bây giờ chú qua bên kia. Nếu tình hình bên kia tốt, chú sẽ giả tiếng chim. Khi cháu nghe "Cúc cu ... cúc cu ...", cháu nhìn kỹ trên con đường mòn. Nếu không có ai, cháu qua bên đó cho lẹ nhen.
- Dạ.
Sau khi chú Năm Ðằng qua được phía bên kia đường và ra hiệu cho thằng Chuối, nó cẩn thận quan sát, rồi băng mình qua đường nhanh nhẹn, gọn gàng, bình tĩnh, không thua chú chút nào. Các tàu lá chuối um tùm che khuất chỗ họ đang tiếp tục đi. Chú Năm Ðằng thở phào nhẹ nhõm. Hai người đã vượt qua được những chỗ hiểm nguy đầy tai mắt của địch. Rột ..! Một con chuột đồng to tướng chạy vụt qua trước mặt chú, lay động mạnh tàu lá chuối khô trên mặt đất, làm chú giật mình ngó theo. Vì vậy, chú lại vấp phải một thân cây chuối mà ai đã đốn, bỏ bừa bãi dưới đất. Chú bị mất thăng bằng, suýt té xuống. Nào ngờ thằng Chuối từ sau lưng chú, bước tới thật nhanh, đưa tay gọn gàng đỡ chú. Chú Năm buồn cười nhớ lại lời của một người bạn trong kháng chiến thường hay nói đùa: "Cẩn thận. Anh hùng hay chết lỗ chân trâu lắm. Trong mọi tình huống, phải đề cao cảnh giác." Chú rất vui được đi chung với thằng Chuối, đứa nhỏ mới mười lăm tuổi mà đầy tình cảm, tâm cơ linh mẩn, tay chân lanh lẹ. Chú nghĩ lẽ ra thằng Chuối đi chỗ lạ bị té, mình đỡ nó, chớ đâu phải nó đỡ mình! Hai người lại tiếp tục đi. Chẳng bao lâu họ đến một lạch sông nhỏ, hai bên bờ mọc đầy dừa nước. Trước khi trở lại đón thằng Chuối, chú Năm Ðằng đã chặt vài cây dừa nước, bỏ lá, đóng xuyên qua thân dừa nước bằng hai cây nhỏ để làm phao nổi. Chú đã làm hai cái phao, để gọn vào một nơi, chớ không cần phải giấu vì biết không ai đánh cắp những đồ vật thường làm bởi trẻ con ở đồng quê lúc mới bắt đầu tập lội.
Chú bảo thằng Chuối:
- Từ đây đến trạm ngoài của kháng chiến chỉ có khoảng mười lăm phút nếu đi ghe tam bản. Chú biết cháu khỏe và bơi lội giỏi, có thể đến đó mà không cần phao dừa nước nầy. Nhưng dại gì không chịu dùng nó để dưỡng sức cho đường dài. Có khi gặp ruồng bố, ngậm cọng bông súng để thở, núp phía dưới phao tiếp tục bơi để thoát thân.
- Dạ. Ý của chú rất hay.
Thằng Chuối ngoan ngoãn mang hai phao dừa nước, bước xuống lạch sông, chờ chú Năm Ðằng cùng đi. Nơi đây gần biển, nước còn phù sa nhưng hơi mặn. Lục bình không có nhiều, chỉ bềnh bồng vài bụi nhỏ gần các cây dừa nước sát bên bờ. Mỗi người bám vào một phao, chú Năm Ðằng phía trước dẫn đường, thằng Chuối bám sát phía sau, lội thoải mái trong sự im lặng. Hai bên bờ càng lúc càng hiểm trở hơn. Những cây dừa nước lần lần không được thấy nữa, thay thế bằng những cây đước rậm rạp, rắn chắc. Ðến chỗ một cây đa mà cành nhánh nhô cao vượt khỏi rặng đước, chú Năm Ðằng và thằng Chuối tấp vào. Một chiếc ghe tam bản đậu gần bờ, được buộc sơ sài vào cây đước nhỏ gần đó. Chú Năm Ðằng mò mẫm vào một ngăn nhỏ ở phía mũi ghe, lấy ra một cái đèn pin nhỏ. Chú Năm Ðằng lại giả tiếng chim:
"Cúc cu ... cúc cu ... cúc cu ... cúc cu ..."
Từ căn nhà lá ở sâu phía bên trong, đèn được thắp sáng lên, một người mở cửa bước ra, rồi khép cửa lại. Sau khi người ấy dùng đèn pin, hướng về phía cửa, chớp tắt ba lần, chú Năm Ðằng cũng lại ra dấu bằng đèn pin nhắm vào thân cây đa, chớp tắt năm lần. Thằng Chuối buồn cười nhưng không dám nói ra. Nó không hiểu tại sao chú Năm Ðằng thích dùng tiếng chim "cúc cu..." gây sự chú ý trước khi chớp tắt đèn làm ám hiệu. Không biết có loài chim nào kêu như vậy ở vùng nầy không ? Nếu không có loài chim nầy mà địch rình rập ở đây thì có kẹt không? Hay là ở đây hoàn toàn thuộc lực lượng kháng chiến rồi nên không sao? Nó đang miên man suy nghĩ thì người trong nhà đã đến gần cây đa và hỏi mật khẩu:
- "Mây ngũ sắc?"
Chú Năm Ðằng trả lời:
- "Ðang bay."
Người nọ nói:
- Trong nầy chờ chú rất lâu. Biết chú bị kẹt nhưng vẫn chờ. Thôi đưa cháu vào nhà rồi nói chuyện sau.
Nói xong, người đó quay lưng lại, thong thả đi về phía căn nhà. Chú Năm quay sang thằng Chuối dặn:
- Cháu phải theo gần đúng lối đi của chú và bác nầy đi vào nhà. Ðừng ra quá xa về phía bên trái hay về phía bên mặt. Ở đây có rất nhiều chông tre chôn dấu dưới đất. Nên nhớ ở tất cả trạm đầu của lực lượng kháng chiến, các chông tre đều có tẩm thuốc độc.
Thằng Chuối nghe dặn như thế cũng phát ớn, cẩn trọng từng chút một, theo sát chú Năm Ðằng. Trong bóng tối mờ mờ, bác dẫn đường không cần rọi đèn pin, chỉ nhắm ánh sáng nhỏ nhoi lọt qua khe cửa mà cất bước đi không nhầm lẫn. Vừa vào trong nhà, bác dẫn đường lập tức đóng cửa lại. Trong cái lồng gần cửa, một con két lông xanh mượt, mỏ vàng như nghệ, chợt thức giấc, la lên làm thằng Chuối giật mình:
- Có người lạ đến! Có người lạ đến!
Bác dẫn đường nhìn con két, đưa tay ra dấu, bảo con két không được ồn. Con két riu ríu nghe lời, co cổ, xếp cánh, nhắm mắt lại nằm yên. Người dẫn đường cầm cái đèn dầu hỏa đi vào trong. Chú Năm Ðằng và thằng Chuối nối gót theo sau. Mùi thơm của thức ăn quen thuộc như xôi đậu, bánh lá dừa pha lẫn mùi thịt gà rừng kho xả ớt trong nhà bếp bay ra hấp dẫn. Thằng Chuối lấy làm lạ. Căn nhà quá vắng vẻ, bây giờ chỉ có ba người, không một ai khác. Sau khi con két ngủ trở lại, không còn tiếng động nào ngoài tiếng gió vỗ nhè nhẹ vào phên nan. Dưới ánh đèn, gương mặt chữ điền của người dẫn đường hiện rõ ra nét cương nghị với vầng trán thông minh và đôi mắt rất sáng. Bác ta hướng về phía thằng Chuối nói:
- Bác là Tư Tài. Bác chờ chú Năm và cháu ở đây để đưa vào mật khu an toàn. Bác biết hai chú cháu có gặp khó khăn ngày hôm nay, nhưng tin tưởng cả hai có thể vượt qua, nên chờ. Bây giờ là ba giờ rưỡi sáng rồi.
Thằng Chuối kính cẩn đứng dậy:
- Chuối kính chào và cám ơn bác Tư.
Bác Tư Tài nói:
- Ngồi xuống đi cháu. Từ nay trở đi, chú Năm, bác, và cháu đều là thành viên của gia đình kháng chiến. Bây giờ chú Năm và cháu đi vào phòng tắm trước mặt đây, tắm rửa, thay quần áo khô ráo. Còn bác sửa soạn lương thực, nước mưa cho hai chú cháu lên đường. Ðồ ăn đây do các cô làm nhiệm vụ giao liên nấu. Rất ngon.
Sau đó, ba người ngồi vây quanh một bàn tròn, cái đèn dầu hỏa được đặt ở chính giữa. Lương thực lên đường được đặt ở một góc. Chú Năm Ðằng nói:
- Anh Ba ơi! Thằng Tây lai Le Roi nầy mưu trí, gian trá, nguy hiểm gấp mấy lần cha của nó là Léon Le Roi. Ngày hôm nay, nếu không may mắn, tui và cháu đây không gặp được anh.
Bác Tư Tài tiếp lời:
- Cha của nó chỉ là một tên hiếu sát, nhưng từ khi gặp bà Ngọc Trân thì thay đổi tâm tánh. Còn thằng Tây lai đẹp trai nầy sinh ra nhờ vào bẩm tính thông minh của mẹ là bà Ngọc Trân. Nhưng lòng ham danh vọng, giàu sang thúc đẩy nó tàn bạo gấp mấy lần cha nó. Do đó, nó tàn hại kháng chiến rất nhiều. Bởi vậy nó đã được Phủ Toàn Quyền của Pháp chỉ định làm quan chủ quận của Quận Bình Ðại nầy.
Chú Năm Ðằng phân trần:
- Anh Tư biết không, ngày hôm nay nó chỉ huy tấn công kháng chiến ở làng Lộc Thuận, đồng thời đánh phủ đầu làng Tân Ðịnh và mai phục làng Phú Giang. Nó phối hợp cả lính làng với commando (biệt kích) ở dưới tay điều động của nó.
Bác Tư Tài thở dài:
- Các anh chỉ đạo kháng chiến ở trên cũng có nghĩ đến giải pháp địch vận bằng mỹ nhân kế, hy vọng giống như bà Ngọc Trân năm xưa đã lung lạc cha nó là Léon Le Roi. Lan Hương và Phi Yến là hai cô gái tuyệt đẹp, học trường Marie Curie ở Sài Gòn, nói tiếng Pháp lưu loát, dễ thương còn hơn đầm, đã lần lượt được đưa vào công tác này.
Chú Năm Ðằng nóng lòng hỏi:
- Kết quả ra sao anh Tư?
Bác Tư Tài gằn giọng tức tối:
- Thất bại. Thằng Tây lai Việt Le Roi nầy tỏ ra là một tay trí thức lỗi lạc, sành sỏi chuyện đời, mồm mép trôi chảy. Cộng thêm cái mã đẹp trai và thông thạo chẳng những ngôn ngữ mà còn phong tục Việt Nam nữa. Cho nên hai cô Lan Hương và Phi Yến không hoàn thành công tác địch vận được giao phó, mà còn yêu đương say đắm thằng đó nữa. Họ trở thành vợ yêu quý của nó. Cũng may hai cô này không phản bội kháng chiến, không chỉ điểm những gì có hại cho kháng chiến.
Bác Tư Tài và chú Năm Ðằng nói chuyện đến đây bỗng ngưng bặt, mặt có vẻ trầm ngâm, tuyệt vọng. Ðể phá tan không khí yên lặng đó, thằng Chuối bắt đầu thắc mắc:
- Chẳng lẽ Le Roi giỏi như vậy mà lực lượng kháng chiến chịu bó tay sao?
Như trở về thực tại với niềm hy vọng mới, bác Tư Tài nói:
- Ðâu có bó tay cháu. Các anh chỉ đạo kháng chiến nói phải đào tạo nhân tài để lãnh đạo kháng chiến. Trường hợp của cháu đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Năm nay cháu mới mười lăm tuổi. Các anh không muốn cháu được huấn luyện gấp rút để thành du kích xã. Mà lực lượng kháng chiến sẽ bỏ nhiều năm huấn luyện cháu để cháu đủ sức đương đầu với bọn nầy.
Thằng Chuối nói:
- Cháu sẽ học hỏi. Mong được sớm quét bọn cướp nước nầy ra khỏi bờ cõi ...
Bác Tư Tài nói:
- Bác Tư phải rời khỏi nơi đây sau khi đón chú Năm và cháu. Chú Năm và cháu cũng nên lên đường ngay. Mặc dầu chỗ nầy được bố trí chặt chẽ, nhưng biện pháp an toàn là không được tập họp đông và lâu. Trời gần sáng rồi.
Chú Ðằng nói:
- Chuối! Hai chú cháu mình mang lương thực và nước mưa lên đường.
Bác Tư vói tay mở cánh cửa mật nằm ở sân sau nhà. Cánh cửa này ngụy trang cỏ ở phía trên, nằm giữa hai hầm chông tre, thông với đường hầm phiá dưới. Chú Năm Ðằng và thằng Chuối bước xuống đường hầm, vẫy tay chào từ biệt bác Tư Tài trước khi bác đóng cửa hầm lại. Con đường hầm này đầy thoáng khí, được xây chênh chếch lên cao. Hai người đi khoảng chừng hai mươi phút đã lên trên một khu đất không hẹp lắm, nằm giữa những cây gỗ rừng cao bao quanh. Một cái nhà nhỏ cất thụt sâu vào bờ đất, phía trước được các loại dây leo và hoa lan rừng do người trồng làm thành một màn thiên nhiên che kín bên trong. Chú Năm Ðằng rọi đèn pin cho thấy đường, rồi chú và thằng Chuối đem đồ mang theo cất vào trong nhà. Có ba cái giường tre thấp, mỗi cái chỉ rộng đủ cho một người nằm. Quá mỏi mệt sau một đêm căng thẳng và di chuyển không ngừng, mỗi người uống vài hớp nước mưa, rồi lên giường tre, dùng cái khăn mỏng và nhẹ phủ toàn thân mình, nhắm mắt ngủ mê mệt.
Khi giựt mình thức dậy, thằng Chuối nhìn ánh nắng xuyên qua qua kẽ lá thì biết trời đã gần trưa. Chú Năm Ðằng vẫn còn nằm ngủ say, cất tiếng ngáy đều đều. Biết chú quá vất vả ngày hôm qua, nó không muốn đánh thức chú dậy. Nó bước xuống đất, đi ra ngoài. Không khí ở đồng ruộng trong lành hơn ở thành phố nhiều, nhưng có vẻ không bằng ở đây. Những hoa lan rừng đưa mùi hương thoang thoảng thật dễ chịu. Con sóc vừa rời một nhánh cây gần đó, chạy xuống nhìn nó không chút sợ sệt, rồi vụt chạy đi. Chú Năm Ðằng đã thức dậy, thò đầu ra ngoài kêu nó:
- Cháu vô đây ăn trưa. Mệt quá, chú ngủ quên. Cháu chắc thức sớm lắm.
- Dạ cháu cũng vừa bước ra ngoài.
- À! mình ăn cơm với gà rừng kho xả ớt đi. Chà, anh Tư Tài gói khéo quá. Nhưng ở rừng, không tự tiện đốt lửa được. Một là sợ máy bay đầm già L19 khám phá căn cứ. Hai là sợ cháy rừng.
- Thưa chú, mình mang đồ ăn vào đây có mấy tiếng đồng hồ. Có lẽ không cần hâm, cũng ăn được.
Trong khi ăn, chú Năm Ðằng vui miệng kể những quy luật an toàn khi sống ban đêm trong rừng ở vùng kháng chiến. Chú cho biết dọc theo dãy Trường Sơn có nhiều cọp, chớ rừng Cái Muồng này thì không có con cọp nào. Chú chỉ dẫn những mẹo để đối phó với rắn, rít, đỉa, vắt ... Hai người ăn xong, uống nước mưa đem theo, cảm thấy rất khoan khoái. Chú Năm Ðằng nói:
- Có lẽ đói nên hai chú cháu mình ăn ngon quá phải không cháu? Hay là tài của người đầu bếp?
- Theo cháu nghĩ, cả hai đều đúng.
- À, cháu! Chiều nay sẽ có người đến rước cháu vào căn cứ huấn luyện chính thức của lực lượng kháng chiến. Chú phải trở ra ngoài vì còn công tác khác được giao phó.
Sau khi chú Năm Ðằng từ giã ra về, thằng Chuối còn lại một mình trong khu rừng xa lạ, chờ đợi một cuộc hành trình khác. Nhìn những cây gỗ quý rắn chắc vươn mình lên cao một cách hiên ngang, nó cảm thấy một tình cảm hào hùng đang dào dạt trong tâm hồn nó. Bên tai nó bây giờ là tiếng vang vọng của rừng thẳm như một nỗi phẫn uất ngấm ngầm, ngày nào đó sẽ bùng lên như sấm sét, như cuồng phong quét tan quân thù xâm lược. Trời chiều sắp chuyển qua tối, không còn một giọt nắng vàng nào nằm trên kẽ lá. Nó kiên nhẫn chờ đợi rất lâu nhưng chưa có ai đến đón nó đi nơi khác. Nó ăn một vắt xôi, từ từ uống một ngụm nước mưa, vẻ mặt trầm ngâm. Nó nhớ bác Còn và thằng Chét vô cùng, nhưng nó không thể về và cũng không muốn về trong lúc này. Tâm tư nó đang dâng tràn lên biển lửa căm thù đối với những kẻ tàn bạo đã chà đạp lên nhân phẩm và tính mạng con người trên quê hương đau khổ của nó.
---------------------- CÒN TIẾP PHẦN 8 -----------------------
Nơi ngõ xưa, tâm thức gợn mây.
Một vùng u tối thoáng sương phai.
Nghe tiếng thời gian chìm hư ảo,
Nghe sóng biển khơi gọi lưu đày.