CHƠN KHÍ BÁT NHÃ THUYỀN
(trích trong quyển Đôi Liễn: Ngọc Hư Cung)
Thuộc Chơn Khí tức Cửu Trùng Đài: 1 dương, 3 âm.
Đồ Pháp Chánh, Tùng chủ quyền Đạo được Chơn truyền.
Đường Pháp Chánh từ Đức Chí Tôn truyền lại cho các bậc nguyên nhân tỉnh ngộ, hiệp đồng tâm thực hiện ra thiệt tướng, để Đức Chí Tôn đến cầm chủ quyền Chơn Đạo quy hiệp vạn linh.
Trước khi mở Đạo tại thế, Đấng A Ă Â (khó nói thật) là Đức Di Lạc Vương Phật có hỏi Hộ Pháp:
“Con phục lịnh Thầy xuống thế mở Đạo, con mở Thể pháp trước hay bí pháp trước?”
Hộ Pháp rả lời: “Con xin mở bí pháp trước”.
Đức Di Lạc rầy: “Nếu mở bí pháp trước, đời sẽ thấy cơ mầu nhiệm của Đạo mà xúm nhau dành giựt tàn hại thì cơ đạo phải thế nào? Còn Thể pháp là hữu hình hữu hoại, miễn mặt bí pháp còn thì đạo còn”.
Như thế Đức Chí Tôn đã định trước sẽ có ngày giải thể phần Thể pháp Thế đạo (1979).
Qua ý trên, ta đã hiểu từ Hỗn Ngươn Thượng Thiên, Đức Di Lạc đến Hư Vô Cao Thiên thuộc Bát quái đài vô vi (mai danh ẩn tích), phân ra Lưỡng nghi: Đức Di Lạc là Chí Tôn ẩn thân (vô vi) không cho người ngoài thấy, Hộ Pháp là Phật mẫu hiện thân (giáng linh Hộ Pháp Di Đà).
Đức Phi Phàm Chuẩn Đề cho biết: “Đức Di Lạc chơn linh của Hộ Pháp”.
Đạo lịnh giải thể khi Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa quyền Chưởng quản Hiệp Thiên Đài đã ký, là cặm bảng chỉ đường giao nhau giữa thể pháp và bí pháp, nói rõ hơn là báo dứt Thế Đạo. Qua bí pháp Thiên đạo để đi bằng Chơn Thần trên đường hằng sống, đúng với Thánh ý của Đức Chí Tôn. Nếu không nhận xét , ngỡ như nền đạo đến đây mất lối giả tướng hay sao? Thì làm sao truyền lại Pháp chánh đến thất ức niên.
Qua bao thăng trầm cơ đạo, đoàn Ngự Mã Quân của Đức Di Lạc đã có nhiều Thời Quân thay thế cầm quyền Chưởng quản Hiệp Thiên Đài, nhưng riêng Đức Hiến pháp, năm 1956 có lịnh Đức Hộ pháp triệu qua Kim Biên (Campuchia) trao lại chủ quyền đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh, lúc đó có Ngài Bảo Đạo làm chứng. Nếu qua 1959, sau khi Hộ pháp triều thiên thì Hiệp Thiên Đài không giá trị vì mất chủ quyền hữu hình tại thế. Năm 1964 Đức Hiến pháp chưởng quản Bộ Pháp Chánh có dạy lớp Bí pháp để chuẩn bị cho Hiệp Thiên Đài chuyển qua thực hiện phần bán lý tức Ngọc Hư cung Bát quái đài. Tất cả giáo sinh được Đức Hiến pháp cho biết căn cùng bút hiệu. Nhưng chỉ có nhìn nhận riêng đệ tử số một truyền lại bí pháp, dù cho Thập Nhị Thời quân cũng không biết.
Đức Hiến pháp định căn đệ tử số một là Chuẩn Đề Bồ Tát, còn bút hiệu được chơn linh Hộ pháp ban cho là Phi Phàm. Khi đã đủ căn cùng bút hiệu; Phi Phàm Chuẩn Đề Bồ Tát, được Đức Hiến pháp giao quyền khai mở Bí Pháp Hạo Nhiên Pháp Thiên, rồi lo thực hiện đúng lời dạy của Đức Hộ Pháp: “Dầu cho còn một mặt Tín Đồ thì Hội Thánh cũng vẫn giữ bản quyền Hội Thánh”.
Kinh thất cửu: Đức Phi Phàm Chuẩn Đề Bồ Tát nắm cung Chưởng Pháp xây quyền Tạo Hóa và lên ngôi Giáo Tông từ lịnh phê 67/ HNPT ngày 15-7 Ất Sửu (1985), mà còn trọng hệ hơn là vì người thay mặt cho Hộ Pháp bên Cửu Trùng đài tức đã nắm chủ quyền Đạo thay cho Hộ Pháp tại Bát quái đài hữu hình, ở dưới thù lù trồi lên trước mặt chúng ta.
Phổ Hiền Bồ Tát được Đức Chuẩn Đề giao cầm chơn pháp lo về Pháp, giúp cho Phật ra Tăng: Hạo Nhiên là Phật – Phi Tưởng là Pháp - Hỗn Ngươn là Tăng.
- Thế đạo: Cung nắm quyền hành tạo-đoan loài- người, đồng thể đồng tánh với Phật, thuộc Phật, đã lãnh phận sự nơi Đức Chí-Tôn, cầm nguơn-khí của con người giữ sanh mạng vạn-vật kêu là vạn-linh. Nên khi ta được vào đây phải tùng- lịnh Từ-Hàn Bồ-Tát. Chính là Quan-Thế-Âm Bồ-Tát vâng mạng lịnh Đức Di-Lạc Vương-Phật chèo thuyền bát-nhã qua lại sông ngân-hà rước người từ khổ-hải về Bát-Quái-Đài.
Và nơi đây thi- pháp hộ- trì vạn-linh sanh chúng. Đức Hiến-Pháp lúc sanh tiền có dạy: “Người ta tin Quan-Âm chớ, nhưng tin Quan-Âm vô-vi, chớ không tin Quan-Âm hữu-hình. Chờ chừng nào Qua chết đi rồi biết.”
- Thiên đạo: Ngày giờ nầy, Đức Ngài đã trở về cảnh thiêng-liêng hằng-sống, tiếp tục phận-sự do chính Hộ-Pháp đã giao, chưởng-quản Hiệp-Thiên-Đài vô-vi (ẩn thân), chuyển- pháp cho kịp lời hứa của Đức Ngài: “Chừng nào rước liên-đài của Đức Hộ-Pháp chính Qua đi rước mới là thiệt đa nghe.” Giai đoạn nầy Đức Ngài không có giáng trần (không xuất hiện), chỉ có Long Nữ là người đòi của Ngài thay ngài xuống thế (xuất hiện) tương liên cùng Hộ Pháp; những đại diện của Ngọc Hư cung và đến các cung các động để tạo hình thể của Đức Di Lạc tại thế.
- Thuyền Bát nhã là đấng giúp cho đạt trí huệ (1983-1986), có nghĩa đem chơn pháp cho bát hồn: vật chất, thảo mộc, thú cầm, nhơn hồn đạt phẩm vị người nhìn nhận Thiên phụ Hộ pháp là Di Lạc Vương và Thiên mẫu Hiến pháp là Quan Thế Âm hữu hình tại thế, được gọi là bậc nguyên nhân. Bởi thuyền bát nhã xuống thế độ hóa nhân và quỷ nhân, mở cơ đại ân xá kỳ ba Đức Di Lạc cho hai hạng nầy đạt vị nguyên nhân mới được bước lên Thiên Đạo vào cửa Bát Quái Đài là cung phật Hạo Nhiên Pháp Thiên.
- Vừa mượn bàn tay của hai hạng nầy làm đề thi cho nguyên nhân đi ra từ Bát Quái Đài đạt vị (1986-2009).
- Cuối năm 1995 giai đoạn Thể pháp Thiên Đạo, Đức Hiến pháp Quan Âm tạm ngưng thuyền, đưa 21 người về Bát quái đài để “thiệt chiến Đức tin tại cung Hiệp Thiên Hành Hóa trước Diêu Trì cung (bà mẹ sanh).
Hình trạng Thể Pháp của Thuyền Bát Nhã như vầy:
Trên Thuyền Bát Nhã có :
1- Tổng lái đại ca: Chơn khí Hộ Pháp, từ Bát Quái Đài đến Hiệp Thiên Đài, mà phẩm vị tại Cửu Trùng Đài cầm quyền Thượng Đầu Sư là Phật thuộc 1 dương, Hắc sắc Tinh. “Chưởng Pháp cũng là Giáo tông” chính Ngài chủ quyền Đạo. Đức Hộ Pháp là Di Lạc Vương chủ thuyền bát nhã.
Phụng thừa Phật sắc, Tam Kỳ Phổ Độ
Vận chuyển Thái Bình Giáng hạ trần gian
Trên Chí Tôn rưới đức nhiêu sinh Thủ Bát Nhã Thoàn
Dưới tôi nguyện tận tâm kiệt lực Tầm nguyên nhân tận độ
2- Tổng mũi nhị ca: Chơn khí Thượng Phẩm, đi ra từ Bát Quái Đài là người của Hiệp Thiên Đài mà phẩm vị tại Cửu Trùng Đài cầm quyền Thái Đầu Sư là Pháp thuộc 1 âm, Bạch Hổ Tinh.
Tổng mũi bạch :
Khổ hải ngân hà thủ bửu chu
Ta bà thế giái độ nhơn cầu
Nguyên nhân liệt Thánh hồi thiên vị
Vọng khán Niết Bàn vạn lý thâu.
Viết:
Phò thuyền phụng mặc dầu may rủi,
Hương mũi rồng chẳng dám đơn sai,
Nay có lịnh triệu lai,
Âu ta kiếp vào hầu Ca Trưởng
3- Tổng thương tam ca: Chơn khí Thượng Sanh, từ Bát Quái Đài là người của Hiệp Thiên Đài mà phẩm vị tại Cửu Trùng Đài cầm quyền Ngọc Đầu Sư là Tăng thuộc 1 âm. Xích Long Tinh. Tổng Thương bạch :
Hiển Thánh vạn linh hữu thọ sinh
Tùng y Phật Pháp tại Thiên Đình,
Trung Thuyền Bát Nhã hầu chơn tánh,
Qui vị hồi chầu Bạch Ngọc Kinh,
Viết :
Thừa Phật Gia chỉ giáo,
Trấn thủ Bát Nhã Thuyền,
Thọ sắc mạng triều Thiên,
Ngã Xích Long thị viết,
Di Lạc Vương chỉ giáo,
Tùng Giáo Chủ lịnh ban,
Quyền trấn thủ trung thoàn,
Ngã Tổng Thương chữ đặt,
4- Tổng khậu tứ đệ: Chơn khí Đức Lý. Dưới Bát Quái Đài cũng là người của Hiệp Thiên Đài mà phẩm vị nơi Cửu Trùng Đài, là Nhơn sanh tức nhân chứng sống thuộc Phật (BQĐ), tùng Pháp (HTĐ) ra Tăng (CTĐ). Cầm quyền Thượng Chánh Phối Sư là Tăng thuộc 1 âm. Tương liên cùng chính phủ khi đạo loạn.
- Tổng Khậu là nhơn sanh, trung gian giữa đời trước và đời sau, vừa là một nhân chứng sống cho Từ phụ Di Lạc và Từ mẫu Quan Âm trên thuyền Bát Nhã, cũng làm nhiệm vụ một nhân chứng cho thuyền Bát Nhã khi xuống thế.
- Đặc biệt Tổng Khậu biết tất cả những sở hành về mặt trí thức tinh thần của 3 ông anh họ Tổng và 12 đứa em họ Trạo. Cho nên Khậu có thể thay thế những vị ấy khi vắng mặt.
Tổng Thương: “Vả chăng trong Thuyền có ba anh em tôi lớn, nhỏ. Lại đằng sau hậu thuyền còn có thêm một em tôi nữa, đó là Tổng Khậu, giờ này khi nó cũng rảnh, vậy tôi kêu lên đây, cậy nó sắm sửa hoa mới tiện”.
5- Mười hai bá trạo: là sự biến tướng của Thập Nhị Thời Quân nơi Chơn thần Hiệp Thiên Đài mà phẩm vị tại Cửu Trùng Đài, xuất hiện sở hành phát tiết Chơn khí là “Thập Nhị Bảo Quân”. 12 vị nầy là người dân của thế giới đang cầm quyền trị thế là những bậc thiên tài, anh hào tuấn kiệt đứng ra thành tâm giúp đạo, đến nay vẫn còn mai danh ẩn tích chưa xuất hiện. Khi nào có Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong là Cửu Trùng Đài tịch Đạo Tâm hiện tướng, những đấng ấy mới quy hồi cựu vị.
Cuối năm 2001 cho đến giữa năm 2008, Đức Phổ Hiền bồ Tát xác nhận “không có ai trên thuyền Bát Nhã. Ý của Ngài nói riêng về hậu tấn đời sau của tịch Đạo Tâm từ lịnh phê 67 trong những năm 1986 đến 2009, ý nói:
1- không có ai tin và không biết Quan Âm đang vâng lịnh Đức Di Lạc Vương Phật (15-7-1985) chèo bát nhã thuyền rước người từ khổ hải về Bát quái đài chính là Đức Hiến pháp Quan Âm (1985-2005). Hoặc ý của Ngài xác nhận mãi đến nay trên thuyền vẫn không có “Thập Nhị Bảo Quân”. Chưa đến ngày giờ Đức Di Lạc phân định, chư vị đó chưa xuất hiện.
- Nếu nghĩ rằng không có ai trên thuyền Bát Nhã, thì lễ thành phật Chuẩn Đề Chơn linh nhập thể ngày 11-4 Giáp Tý (1984) là giả tướng hay sao? Nhờ kỉnh lễ hữu hình 1984 Đức Phi Phàm cho biết: “Chơn linh của Đức Hộ Pháp là Di Lạc” thuộc Thể pháp thiên đạo. Ông dạy: “kể từ nay mình phải học Thiêng Liêng hằng sống tại thế”. Quả thật, Đức Hộ pháp dẫn thiêng liêng hằng sống, nếu Đức Di Lạc dẫn TLHS vậy ông tự xưng sao?
- Năm 1983 Chơn linh Hộ Pháp không giao Viện Đại Học cho Chơn Linh Hiến Pháp tại cung phật Hạo Nhiên Pháp Thiên, thì nhơn sanh làm sao biết được Đức Hộ Pháp giáng linh tại Hạo Nhiên Pháp Thiên nắm cung Chưởng pháp xây quyền Tạo hóa?
- Nếu Quan Âm không vâng lịnh Đức Di Lạc chèo bát nhã thuyền (1983-1985), thì làm sao Đạo tâm chứng kiến tận mắt sự chơn thật nghe và thấy Đức Phi Phàm cầm quyền Chưởng Pháp lên ngôi giáo tông từ lịnh phê 67 vạn linh hiệp chí linh ngày 15-7 Ất Sửu (1985), tam bửu hiệp nhứt là Đức Di Lạc Vương phật chủ cung Hỗn Ngươn Thượng Thiên?
- Đến năm 1986 Đức Di Lạc không xuất pháp: “giao Chơn Pháp cho Ba Sơn”. Thì với Chơn pháp Hỗn Ngươn tức Cửu Trùng Đài hiện tướng 2005 là Chơn khí thuộc Tạo Hóa thuộc Tăng, để đủ đầy chơn pháp minh chứng trước nhơn sanh Đức Di Lạc “tái sanh sửa đổi chơn truyền” điểm đạo tại Hội Ngươn Thiên 2006?
- Nếu 1996 Đức Di Lạc không giao thuyền bát nhã cho Quan Âm thì 4 anh em: Tổng Lái đại ca, Tổng Mũi Nhị ca, Tổng Thương nhị ca và đứa em út chót Tứ đệ Tổng Khậu, tạo điều kiện đưa anh chị em về Bát Quái Đài thiệt chiến đức tin bằng lập ngôn, trước Diêu Trì Cung nơi cảnh thật thiêng liêng hằng sống tại thế?
▪ Tổng lái : Mặt đen rắn nịch mang khôi giáp vô tư vô vị. Đó là chủ nhơn, Linh hồn của chiếc Thuyền Bát Nhã thuộc Phật. Linh hồn điều khiển giác hồn đặng chế ngự sanh hồn đó vậy. hay nói rõ Chơn linh và Chơn thần được an ngự trên đài sen là do công nghiệp của sanh hồn tạo nên. Tam bửu của Tổng lái là: chơn linh Di Lạc; Chơn thần Quan Âm; Chơn khí Hộ Pháp, Tam bửu hiệp nhứt trong thể hình tức Tăng với hình ảnh và tên tuổi của người tại thế, thi hành sứ mạng Tổng Lái cầm chánh pháp.
▪ Tổng mũi : Mặt trắng, là người dẫn đạo đầu thuyền, định phương hướng, vạch đường chỉ lối bằng phương giáo hóa, Tổng mũi thuộc pháp Đạo giúp cho Pháp Chánh tức giáo hóa cho đạo tâm biết Phật mẫu cầm quyền Chưởng Pháp ngự tại Hiệp Thiên Đài.
Tam bửu Tổng mũi: chơn linh Di Lạc; chơn thần Quan Âm; chơn khí Thượng Phẩm, tam bửu hiệp nhứt trong thể hình gọi Tăng của sứ mạng Tổng Mũi, thay thế ngôn ngữ cho đại ca Tổng Lái.
▪ Tổng thương : mặt đỏ là người lo việc tát Nước Non tức lo về tinh thần Cực Lạc Quốc, biểu hiện quyền hành tại hữu hình thuộc Pháp Thế. Tổng thương là một đại diện đứng đầu nhơn sanh tại của Cửu Trùng Đài cầm chắc pháp quyền Thương yêu và Công bằng.
Tam bửu Tổng Thương: chơn linh Di Lạc; chơn thần Quan Âm; chơn khí Thượng Sanh, tam bửu hiệp một trong thể hình của Tổng Thương là thương hết cả chúng sanh.
Thuyền Bát Nhã là Bí Pháp chơn truyền của Đạo thay cũ đổi mới (1956-1964-1968), sau khi đoàn tiền khai đại đạo đã giải thể nơi chơn thần Hiệp Thiên Đài (1926-1981), những chơn linh (xuất hiện sở hành hay nói rõ làm theo gương của các bậc tiền bối) ấy mới giáng linh chuyển kiếp đặng phát tiết Chơn khí tại Cửu Trùng Đài gọi là thuyền Bát Nhã (1969-1996-1998). Vậy chơn khí thuyền Bát Nhã là tướng diện căn bản của chơn thần Hiệp Thiên Đài phục sinh xuất hiện sở hành tại Cửu Trùng Đài. Có nghĩa người chết (1926-1981) chớ thiên mạng phụng sự cho đời của các đấng thiêng liêng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, Trời nào chết, cái tánh đức ái truất quần sanh sống mãi với người đặng phụng sự cho người, nhơn loại không tuyệt ắt Hiệp Thiên Đài vẫn hằng hữu. Các đấng ấy giải thể tức chết đời sống đạo hay nói cho dễ hiểu phế đời hành đạo ý như vậy mới là chánh đáng. Chớ không phải về thiêng liêng sau khi bỏ xác đâu, có rất nhiều câu pháp độ sanh được trích ra để làm bằng chứng:
“Vào Lôi Âm kiến A Di,
Bộ công Di Lạc Tam Kỳ Độ sanh”
“Tùng theo Chơn pháp độ lần chúng sanh”
Thuyền Bát Nhã vừa độ tử và độ sanh:
- Độ tử, mượn người chết răn người đang sống, mượn thế đặng toan phương giác thế là vậy, ý nói sống không lo tu đợi chết thì quá muộn. Quả thật, sau khi bỏ xác thì phần Tinh bất động nhục thể thổ sanh hườn tại thổ, lẽ đương nhiên Khí đã dứt phải tản Thần. Tam bửu phân ly, Tinh xác còn đâu mà âm (Khí) dương (Thần) hữu hiệp biến sanh?
Kinh Cửu Cửu độ người sống thi hành đủ tam lập: lập công, lập đức, lập ngôn, đạt vị nguyên nhân, thuộc Thể pháp Thế đạo.
- độ sanh: Dục tấn tinh thần trên Cửu Thiên Khai hóa thi hành tam thiện vào bậc trọn lành, Kinh Cửu Thiên độ 92 ức nguyên nhân đoạt phẩm vị Thiêng Liêng: Thần, Thánh, Tiên, Phật xuống thế mang xác phàm đang thi hành phận sự, chờ ngày phản hồi nguyên bổn.
Kinh Giải oan
Nhập Thánh thể dò đường cựu vị,
Noi chơn truyền khử quỉ trừ ma.
Huệ quang chiếu thấu chánh tà,
Chèo thuyền Bát Nhã Ngân hà độ sanh.
Kinh Tắm Thánh
Đại Từ Phụ từ bi tạo hóa,
Tượng mảnh thân giống cả Càn Khôn.
Vẹn toàn đủ xác đủ hồn,
Xây cơ chuyển thế bảo tồn vạn linh.
Độ sanh là độ người còn sống có đủ tam bửu: Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt, đạt phẩm vị một chơn hồn mới tấn hóa lên từ phàm dĩ chí Thần, Thánh, Tiên, Phật vị kể cả Trời, muốn cùng chẳng muốn. Vậy gốc của Thần là thương, Khí phải nói, Tinh là làm xuất hiện sở hành, đó là Tam bửu của một nhơn hồn, đứng làm người trong xã hội nếu thiếu một trong ba điều ấy thì không sống chung với ai bền bỉ cả. Thế gian có câu “hùm chết để da, người ta chết để tiếng”, để tiếng thơm là chơn linh nêu gương cho hậu thế; còn để tiếng xấu ngàn đời nhơn sanh chê trách thì giả linh.
▪ Tổng lái viết : Này nhị đệ (Mũi dạ).
“Nay có lịnh Phật gia chỉ giáo (Đức Di Lạc giao Viện Đại Học chơn pháp Đạo Tâm); bảo ta phải đem Bát Nhã Thoàn lai đáo trần gian; rước chư linh trở lại Niết Bàn; đưa Thánh Vị qui hồi Ngọc Lộ (truyền bá Đức tin thờ Hộ Pháp). Vậy qua truyền cho Nhị đệ; em tua khá vâng lời; dẫn bá trạo nhập thoàn; đáo trần gian rước khách”.
(Chơn Đạo: Sau lễ thành Phật Đức Phi Phàm Chuẩn Đề Bồ Tát chơn linh Hộ Pháp nhập thể sáng ngày 11-10 Giáp Tý (1984). Đức Phi Phàm ra lịnh có rất nhiều chư vị Đạo Tâm cùng nghe: “Giao Viện Đại Học cho ba Sơn; ba Sơn không tạo đầu óc của anh chị em được đâu, phải chính Đức Chí Tôn, chính Đức Chí Tôn mới tạo nên đầu óc”. Ngưng một hồi lâu Ông dạy tiếp: “con phải dạy cho thấy Ông; giảng 5 cung Di Lạc, giảng được bao nhiêu thì giảng. Phải làm Hớn Bái Công thắng danh nhơn nghĩa; còn phải làm Lê Lai liều mình cứu Chúa nữa! Kể từ nay mình phải học thiêng liêng hằng sống tại thế.
- Đức Phi Phàm định căn của Phan Văn Sơn là Dương Hiển; pháp hiệu Thanh Sử. giao làm Khương Thượng.
- Đầu năm 1985 Đức Chuẩn Đề cho biết “Phổ Hiền ở ngoại quốc, nữa về đây giúp mình”. Ý của ông nói Đức Chuẩn Đề chủ Cực Lạc môn nội đôi liễn trong cung Hạo Nhiên Pháp Thiên: “Hạo Pháp du hành an võ trụ; Nhiên Thiên vận chuyển tịnh Càn khôn”.
Còn Phổ Hiền Bồ Tát trấn thủ Cực Lạc môn ngoại (1986) đôi liễn ngoài HNPT: “Chơn giáo Cao Đài cứu khổ vạn linh qui Đại Đạo; Pháp khai Ngươn Thượng nguyên nhân tỉnh ngộ hiệp đồng tâm”.
- Cuối năm 1984 Đức Phi Phàm xuất pháp tại Cực Lạc môn nội: “Đấng làm chủ cung ấy ra lịnh vị cầm đầu chỉ hướng, giáo hóa dìu dắt anh chị em nam nữ cho rõ thông chơn lý đặng giải thoát đạt đạo, được đưa lên Cung Phi Tưởng Diệu Thiên kiến diện Đức Từ Hàn”. Đấng làm chủ Cung ấy là Đức Di Lạc; ra lịnh vị cầm đầu chỉ hướng là Thanh Sử; kiến diện Đức Từ Hàn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Đã đủ đầy minh chứng ở giai đoạn bí pháp chơn truyền tại cung Phật Hạo Nhiên Pháp Thiên năm 1984 và năm 1985. Nếu Đức Hiến pháp không tùng lịnh Hộ Pháp thì làm sao biết được bí pháp lấy yếm Long Tuyền Kiếm (1956); Quan Âm không vâng lịnh Đức Di Lạc Vương Phật (1985) thì Pháp Chánh đâu rước người từ khổ hải (1986-1996) về Bát Quái Đài.
Đức Chuẩn Đề dạy: “không phải tự xưng hay vạn linh tôn mà thiêng liêng cho xuất hiện do sở hành, hữu hình nhìn nhận”. do vậy sở hành xuất hiện của Thanh Sử là Đại ca Tổng Lái, chơn khí Hộ Pháp chủ thuyền bát nhã lo về Pháp Chánh).
▪ Tổng mũi nói lôi : “ Trên đã bày lễ điếu; dưới tôi kính lời trình; nay ông đã an trí thoàn linh; vì nghĩa cũ sớm dâng yết hỉ; trên đã thưởng phụng nghinh thần vị; dưới tôi toan kíp sửa trạo bày (day qua kêu trạo) ( trạo dạ):
Thuyền quý em đẳng cộng hoà khai, Nhơn nhơn đồng cử trạo hà……….(trạo dạ)”.
(Mũi đứng dậy sắp trạo đứng hai hàng rồi kêu trạo: trạo dạ)
- (chơn đạo: Đức Phi Phàm Chuẩn Đề cho căn của Nguyễn Trung Trực là Kim Đại Thăng, pháp hiệu Thanh Nhơn, được Thanh Sử chủ cung Thừa Thiên hành hóa giao làm trưởng ban giáo hóa năm 1993. Thanh Nhơn đã thay thế ngôn ngữ và là người anh đầu đàn giúp cho ông Pháp chánh đại ca Tổng Lái Thanh Sử về phần giáo hóa (mũi là phương tiện hít vào thở ra giáo hóa thay thế ngôn ngữ cho Tổng Lái). Anh đã hoàn thành sứ mạng ở giai đoạn Thể pháp Thiên đạo.
- Đến Bí pháp Thiên đạo, Pháp chánh Tổng lái đại ca đưa Tổng mũi nhị ca ra ngoài “đầu thuyền” nhưng Thanh Sử buộc “không để mất từ trường” tức không mất đức tin và phải xuất hiện sở hành giúp bằng cách gián tiếp “chống mũi chịu sào”. Nhưng Tổng mũi Thanh Nhơn không đạt ý của đại ca, cam đành thất phận bỏ thuyền từ ấy.
1- Thanh Nhơn nói với Tổng Thương: Đức Cao Thượng Phẩm qui thiên rất sớm ở giai đoạn thể pháp Thế đạo, thôi tôi không dám dính líu với ổng đâu!
2- Cái mộng làm Quan Âm đã ấp ủ từ khi Đức Chuẩn Đề xuất pháp “hiệu kinh cứu khổ tụng bền dai” năm 1985-2013 đến nay, đã 28 năm (bền dai) anh cứu anh còn chưa được thì đi cứu ai.
Thanh Nhơn cũng vì danh, lợi, quyền giả tướng ấy không chịu lo xuất hiện sở hành được chơn truyền, mê sự giả đành để thất phận đầu thuyền giáo chơn. Buộc Tổng Khậu đứa em út chót phải thay thế trách nhiệm đầu thuyền Tổng Mũi (1998-2005), giúp cho Đại Ca cầm Pháp Chánh thương yêu; công bằng; vô tư vô vị, cầm chơn pháp (chèo thuyền bát nhã) đưa các nguyên nhân về đến Hư Vô Tịch diệt tức Niết Bàn hay Cực Lạc thế giới tại thế năm 2005, Đại Ca Tổng Mũi vui mừng xác nhận “Ngày hôm nay trọn vẹn”. Trong Tế pháp chiếu duyên Tổng Lái Đại Ca đã điểm Nhị Ca Tổng Mũi: “Đạo Tâm được đưa ra đã làm trái ngược lại, chỉ có lo kết khối tinh thần mượn đạo tâm đặng chuyển về Hạo nhiên pháp thiên là điểm thứ nhứt. Điểm thứ hai kết hợp để gieo rắc tinh thần đạo tâm tin căn Hộ Pháp, đã ở Thể Pháp Thiên Đạo tức muốn nói Hộ Pháp cũng bị luân hồi để chuyển tinh thần đạo tâm về Bát Quái Đài. Ý như vậy là chưa hiểu Bát quái đài, vì Hộ Pháp đang làm chủ bốn cách dương từ Hạo Nhiên đến Hư Vô”. Như vậy bước vào cửa bí pháp thiên đạo Thanh Nhơn đã rớt từ đầu của phần Thiên đạo phận sự Tổng Mũi đầu thuyền. Còn phần Nhơn đạo 4 cánh âm Thể pháp Thiên đạo, Đại Ca đưa Nhị Ca ra, Nhị Ca giận và thú thật với Thân Công Báo: “ổng đưa tao ra cũng vì tiền” (1998).
Khi giải thể phần Thể pháp Thiên đạo chuyển lên bí pháp Thiên đạo, đã nhiều lần Thân Công Báo cho biết sở hành Thể pháp thiên đạo trên thuyền bát nhã của Thanh Nhơn là Nhị ca Tổng Mũi chơn khí Thượng Phẩm, Tam Ca Tổng Thương là Thanh Công, còn Thanh Sử là Tổng Lái Đại Ca, họ Thân đã xác nhận trước mặt Thanh Sử rất nhiều lần để làm bằng chứng. Đến bí pháp Thiên đạo Thanh Nhơn đã rớt, kể cả đề thi nhơn đạo bởi sa trận tứ chi nộ, thoái bộ từ Dục, ai, ố, nộ.
▪ Thương bạch : “Hiển Thánh vạn linh hữu thọ sinh; tùng y Phật Pháp tại Thiên Đình; trung Thuyền Bát Nhã hầu chơn tánh; qui vị hồi chầu Bạch Ngọc Kinh”.
(Chơn đạo: Năm Bính Dần (1986), 7 anh em phục lịnh Đức Di Lạc xuống thế. Nguyễn Văn Sang được Đức Phi Phàm cho căn là Ngô Long, bút hiệu Thanh Công rồi ông dạy “Thanh là xanh; công là công bằng, tới đây con phải làm cho công bình nghe chưa!”. Cũng trong năm ấy, khi nhắc đến Tiếp Dẫn, ông cho biết “Phật Chuẩn Đề và Phật Tiếp Dẫn là hai vị giáo chủ Tây Phương Cực Lạc; tuy hai mà một; Chuẩn Đề và Tiếp Dẫn có cùng một nguyên căn”. Ông nhìn Thanh Công nghiêm nghị: “Con là cây cờ Thanh Liên Bửu Sắc của Tiếp Dẫn”.
- Thanh Công chủ cơ sở Cẩm Giang, năm 1992 anh độ dẫn Hoàng Thọ con của bà hai Quãng đệ tử Phật Chuẩn Đề, Thọ đang thất thời lỡ vận nghe qua Phật Pháp, anh chịu thọ giáo quy y, phế đời hành đạo. Ba ngày sau, Đức Phi Phàm Chuẩn Đề định căn của Thọ là Thân Công Báo.
- Nương theo căn của Thọ, 7 ngày sau Thanh Sử đến cơ sở Cẩm Giang với sự có mặt của chủ cơ sở Thanh Công và 6 anh chị em, Thanh Sử vui mừng tỏ ý quan trọng nhìn thẳng vào mặt Thọ biểu quyết: “giao cho Thọ làm Hàn Tín chịu không? Anh hoàn toàn có biết làm Hàn Tín là làm sao? Vì sợ quá nên khoanh tay đáp lại cho qua, rồi học sau: “dạ chịu”. Thanh Sử bảo Thanh Công về hướng dẫn cho Thọ biết sở hành Hàn Tín. Đến đây chúng ta đoán được người độ dẫn Hàn Tín phải là Trương Lương, chính Thanh Công rồi đó vậy!
Thể Pháp Thiên Đạo.
- Năm 1995, Hàn Tín (Thân Công Báo) do Hớn Bái Công (Phổ Hiền) giao thay mặt làm sứ giả, được sự đề nghị của Sở Bá Vương (Phi Phàm Chuẩn Đề). Hàn Tín đến giúp Sở Bá Vương mượn danh nghĩa mua bán đất của họ Sở, được sự giúp sức về tài lực của hai tướng quân Trương Lương (Thanh Công) và Phàm khoái (Thanh Nhơn), ông tướng Phàm khoái vẫn còn cái phàm tánh nên thấy ai ngang hàng hoặc sáng giá hơn thì anh tìm mọi cách khảo thí ngay. Xét kỷ người khảo ta là thầy của ta vậy, nên mang ơn họ. Còn Bá Vương cũng mượn danh nghĩa bán đất trước mắt thiên hạ ai cũng đều nghe thấy, đó là con đường “Minh Tu Sạn Đạo” thuộc về mặt trận hình thức vật chất.
Bí Pháp Thiên Đạo.
- Nhưng cả thảy người của Sở Bá Vương có ai ngờ và biết rằng ông đã mượn thế đặng toan phương giác thế, với chủ ý quan trọng là giao chủ quyền đạo hữu hình cho Đức Ngài Phổ Hiền Bồ Tát kể từ ấy. Mặt trận trí thức tinh thần gọi là con đường “Ám Độ Trần Thương”. Hai con đường nầy cũng nhờ Trương Lương hướng dẫn Hàn Tín từ lúc ban đầu. Ý nói sứ mạng của Trương Tử Phòng lo việc tát nước non; thủ vai Nhị Ca Tổng Thương lo việc quốc đạo trên thuyền Bát Nhã về vật chất và tinh thần.
Cuối năm 1996 Đức Phi Phàm nhìn nhận Thanh Công về phần Nhơn Đạo: Trung, Hiếu, Nghĩa, đúng như lời dạy của Đức Ngài trước khi cho xuống thế năm 1986: “Ngày hôm nay Thầy ban cho mỗi đứa con một chung tiên tửu, uống vào cho hết phàm, hể làm được thì thất Thánh còn không làm được thì thất quái”. Anh Đã đủ đầy bằng chứng “bí pháp lấy vạn linh làm căn bản” lo việc tát nước non giúp cho Thuyền Bát nhã về vật chất lẫn tinh thần trọn phần Nhơn Đạo (1996) và Thiên đạo hội Long Hoa tại Bạch Ngọc Kinh Thiêng liêng (2005) mà Đức Di Lạc Vương Bồ Tát tái sanh sửa đổi chơn truyền (2005) xác nhận: “Ngày hôm nay trọn vẹn”. Đúng như lời hứa của Đức Phi Phàm Di lạc Giáo tông (1985) Đức Ngài giải thể năm 2003 “còn phần Thiên đạo sau nầy ông về ông định cho” (1995-2005).
2006 Đức Di Lạc Vương Bồ Tát đến với Hội Ngươn Thiên bổ sung những gì còn khuyết điểm về mặt tinh thần tại “cung lập khuyết tìm duyên định ngự” để được toàn chơn.
- Anh đã qui y Phật Di Lạc Vương (1985); qui y Pháp Quan Thế Âm Bồ Tát không có giáng trần, đoạt phẩm vị Phật nơi Bạch Ngọc Kinh Thiêng liêng tam bửu hiệp nhứt là Di Lạc Vương bồ tát (2005); qui y tăng Địa Tạng Vương Bồ Tát (2012) cấm cờ Thanh Liên Bửu Sắc Tại Bạch Ngọc Kinh hữu hình Đền Thánh Tây Ninh, Tây Phương Cực Lạc. Thi hành Nhơn Nghĩa đêm mùng 7-4 Nhâm Thìn (2012), Thích Ca Đại Đàn – O giờ tin mừng.
Thiêng liêng cho xuất hiện do sở hành, có hữu hình hội công đồng nhơn sanh làm vi chứng, Thanh Liên đã “thất Thánh” rồi vậy là nhờ lo việc tát nước non).
Nên Viết : “Thừa Phật Gia chỉ giáo; trấn thủ Bát Nhã Thuyền; thọ sắc mạng triều Thiên; Ngã Xích Long thị viết; Di Lạc Vương chỉ giáo; tùng Giáo Chủ lịnh ban; quyền trấn thủ trung thoàn; Ngã Tổng Thương chữ đặt”.
Lái viết : “Thu qua đông chí, Nguyệt sắc dương huy, Chong nhan đèn chỉnh túc lễ nghi” (chơn đạo: lễ thành Phật Chuẩn Đề chơn linh nhập thể 11-10-1984), Ngoài bổn đạo kỉnh dâng bá trạo.. a…. Sao hôm đà lố mộc, Bá trạo kíp gay chèo” (chư vị Đạo Tâm truyền cho nhau biết xuất hiện sở hành để sau nầy người ta trách).
Nhị đệ (Mũi dạ). “Trước em khá lấy neo” (thay thế ngôn ngữ, trưởng ban giáo hóa), “Sau lái lèo qua nắm giữ” (Tổng Lái cầm Chánh Pháp là cầm quyền chơn pháp tối cao nơi Ngọc Hư Cung không để sái loạn chơn truyền).
Mũi viết : “Đại ca đà lịnh dạy, Chúng ta kíp thi hành, Xếp hàng đôi sau trước đành rành, Gay chèo quế thuyền rồng lướt sóng à…” (phổ độ mở cơ sở Phi Phàm, để đạo trễ một ngày thì hại nhơn sanh).
Mũi viết : “Mấy em khá cầm chèo cho vững” (đừng để sái loạn chơn truyền chánh pháp Thương yêu và công bằng), “Lóng tai nghe qua kích cổ tam thinh” (câu kinh vô tự độ người thiện duyên, tin nhau nói thật với nhau dễ hiểu hơn; hữu tự để dùng cho những người chưa tin) “Dưới bộ chơn ký lấy chữ đinh” (nói thật làm thật, chỉ cho thấy sự chơn thật, càng ngắn gọn chừng nào dễ hiểu chừng nấy) “Mấy em khá chèo cho êm rập à…” (phải qui Pháp như một; nhớ đừng để sanh ra loạn pháp có nghĩa ở đây nói vầy; nơi kia nói khác) “Nay quí khách thuyền rồng an toạ, Vậy thì trương bườm loan tách đậm dòng hà, Gay chèo quế bôn ba. Chỉ Tây Phương trực đáo hồ” (Chuẩn Đề định: “về bến Tây Ninh Cực Lạc Đài”).
Mũi xướng : “Kim triêu nghinh lễ, Thuyền nghinh tiếp tôn linh”.
Bắc bài : “Nam sơn trường bất lão, Đông hải tịnh vỏ ba, Thanh phong lai bồng địa, Minh nguyệt chiếu sơn hà, Minh nguyệt chiếu sơn hà” (Quan Âm lo việc Quốc Đạo).
▪ (Chơn đạo: Sau khi Đức Hộ Pháp triều thiên năm 1959, Đức Ngài có cho 2 bài thi, nhưng lấy bài thứ hai để làm bài thày, thể luật “thất ngôn bát cú” dành để hành lễ vía Đức Ngài mãi đến sau nầy bài ấy có hai câu cuối như vầy:
7- “Rồi đây ai đến cầm Chơn pháp?
8- Tô điểm non sông Đạo lẫn Đời.
Hiệp Thiên Đài là Đạo; Cửu Trùng Đài là Đời. Nếu nói Đạo thì phải Âm Dương hiệp nhứt. Nơi Hiệp Thiên Đài có hai đấng Chưởng quản Chánh vị HTĐ.
- Thứ nhứt là Đức Hộ Pháp thuộc Dương, Chơn linh Di Lạc tức Đức Hộ Pháp là Di Lạc Vương. Cầm quyền Chưởng Pháp có nghĩa chủ về Pháp thuộc phái Thượng, là người của Hiệp Thiên Đài mà phẩm vị nơi Cửu Trùng Đài. Đúng với Pháp Chánh: “Hộ Pháp hữu hình, Giáo tông vô vi” (Di Lạc chơn linh). Hay Di Lạc hữu hình, Hộ Pháp vô vi (Hộ Pháp chơn linh).
- Thứ hai là Đức Hiến Pháp thuộc Âm, Chơn linh Hộ Pháp tức Hiến Pháp là Quan Thế Âm nắm Mật Pháp, tức những gì yếu trọng về việc đạo và đời từ ý của Đức Hộ Pháp (1926-1956) cho biết, Hiến Pháp bảo mật tùy cơ ứng biến, đến năm 1964-1968 mở lớp bí pháp HTĐ. Mãi đến năm 1959 Đức Hộ Pháp qui thiên, nhân chứng sống những sự kiện trọng hệ giữa Hộ Pháp và Hiến Pháp 1956 có mặt Đức Hồ Bảo Đạo. Ông út chót 13 chấp bút bài thày của Đức Hộ pháp đặng đố nhơn sanh: “Rồi đây ai đến cầm Chơn pháp?” Thể pháp là Hộ Pháp; đến Hiến pháp nắm Mật pháp giúp cho Đức Hộ pháp cầm “bí pháp” Hiệp Thiên để thay cũ đổi mới, duy vật biện chứng gọi là “quy luật phủ định của phủ định”. Giúp Thể pháp tác thành “Chơn pháp” đặng tô điểm non sông đạo lẫn đời. Do vậy, sau Đức Hộ pháp là Đức Hiến pháp cầm quyền Chơn pháp, cho nên từ lớp bí pháp HTĐ kể cả Thập Nhị Thời Quân cũng không biết (1964-1968). Hiến Pháp Quan Âm giao cho đệ tử số 1 khai mở cung Hạo Nhiên Pháp Thiên chủ trương đường lối Chơn pháp là Đức Chuẩn Đề Bồ Tát, được Đức Hộ Pháp ban bút hiệu Phi Phàm.
1984 Đức Phi Phàm cho Thanh Sử 3 bài thi, trích ra một bài pháp hiệu Thanh Sử:
“SƠN hà xã tắc lúc nguy vong,
HIỆU triệu dân ta giống Lạc Hồng.
THANH quang rọi khắp nơi trần thế,
SỬ sanh tuấn kiệt giúp non sông”.
Sở hành tam bửu hiệp nhứt của Thanh Sử tại Cung Phật Hạo nhiên Pháp Thiên, từ ngày 11/10 Giáp Tý (1984):
Tinh thần:
- Chơn linh: là Hiến pháp mới biết chơn linh Hộ Pháp phục sinh.
- Chơn Thần: Phi Phàm Chuẩn Đề Bồ Tát giáo hóa Thanh Sử.
- Chơn Khí: Phổ Hiền Bồ Tát, mới biết Chuẩn Đề Bồ Tát.
- Hữu hình: Phan Văn Sơn.
+ Tam bửu do sở hành xuất hiện hiệp một với hữu hình là: Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tuồng hát thuyền bát nhã của Đức Di Lạc, đề “Minh Nguyệt chiếu Sơn hà” ý nói Quan Âm vâng mạng lịnh của Đức Di Lạc năm 1986 xuống thế rước người từ khổ hải về Bát Quái đài. Để “có một cuộc đàm luận hữu ích về đạo đức rất hữu tình, rất may duyên” bằng giải pháp cứu thế “tô điểm non sông đạo lẫn đời”…)
Lái giảng viết : “Sơn hà nước chớn chở, Thuyền nghinh Thần rực rỡ dòng châu. Vong linh Thần giáng hạ linh cơ” (đàn cơ ngày 11-12/3 Bính Dần 1926 Đức Chí Tôn trục Thần Đức Hộ Pháp, có nghĩa ngày ấy chơn linh Hộ Pháp nhập thể).
Trạo bắc bài : “Lễ bái phụng thánh ân, Lai qui ngự Thiên tân, Giang sơn Thiên cổ tú, Vạn vật tứ thời Xuân”.
Lái giảng viết : “Thời Xuân vật lạc nhơn đồng, Tất thành ngưỡng vọng Thánh công” (Thánh Chúa Cứu thế Jêsus Chrits phục sinh khai Tam Kỳ Đại Đạo).
Lái giảng viết : “Lộng khơi sóng gió ngất trời” (khổ hải; hay là đại hải chúng; cõi phong đô cũng cùng một ý.), “Mình làm bửu phiến vớt người trầm luân” (Đức Chuẩn Đề dạy: “phải học của mình nó mới tới, còn học của người ta hoài biết chừng nào mới tới”. Bửu phiến là Bửu Pháp đó, mỗi khi xử dụng bửu pháp phải biết tùy người rồi tùy thời… cho phù hợp đúng người đúng việc…mới có kết quả tốt đẹp; đạo học bảo rằng linh là đó vậy).
Lái giảng viết : “Chơn mây người đã lìa đời, Thuyền rộng một chiếc đưa người biệt ly”.
Mũi bắc mái một : “Cả kiếp sống chịu sầu bi, Thảm cơn tử biệt sanh ly sự đời, Gió trăng mây nước chơi vơi, Tưởng cơn tạo hoá luỵ rơi không ngừng”.
Mũi viết : Bá trạo à…( Trạo dạ); “Thuyền gần miền Tiên cảnh” (nơi đây gần đến Tây Phương Cực Lạc Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh), “Đến xem hãy còn khuya, Truyền mấy em sau trước nghe qua, Đình thuyền neo an nghỉ à”.
Mũi viết : “Huý a, Thuyền rồng đà neo nọc, Cớ sao vắng dạng Tổng Thương, cũng lạ!”
Thuyết : “Thuyền đi thì về phần tôi hành thuỷ. Còn thuyền đậu thì phận sự của Tổng thương sao thấy vãng lai hay là gả ngủ say nên bỏ phế phận sự từ bao giờ tôi vào kêu nó thức dậy, chi cho nó khỏi dễ ngươi, Vậy để tôi vào báo với Đại ca đặng ảnh rầy một trận cho tởn, cái tật của nó biếng nhác đã quen thường bỏ phế phận sự ấy là một bài học hay đặng nó làm hư thanh danh cửa Đạo”.
“Vậy thì sửa đai cân thấu nhập hậu thuyền, Tỏ hư thiệt cho người tường tận”.
Quỳ viết : “Dạ hậu thuyền thân đáo, Kính bẩm Đại ca”.
Lái viết : “Nhị đệ (Mũi dạ ), Thuyền đà neo nọc, Sao em không an nghỉ tiền thuyền, Vào đây có chuyện chi, Nói cho Qua rõ với”.
Mũi viết: “Dạ bẩm Đại ca, thuyền rồng đà neo nọc, mà cớ sao không biết vắng dạng Tổng thương, em trình lại anh trưởng kêu Tam đệ “canh thuyền tát nước” đó Đại ca”. (chơn đạo: Nhị Ca Tổng Mũi rất xấu tính, thấy ai có sơ thất gì bẩm báo với đại ca. nhứt là nhị Ca Tổng Thương và Tổng Khậu thường bị Nhị Ca khảo thí trước mặt Đại ca để lấy điểm, nhưng nào ngờ giúp cho Thương – Khậu dễ dàng đoạt vị thiêng liêng).
Lái viết : “Nếu Tổng thương phế phận, tội ấy ắt về ta, Nhị đệ (Mũi dạ) Tiền thuyền quay trở lại, mà canh giữ nọc neo, Để cho qua tuần thám thuyền môn, Thử như hà cho biết à”.
Bá trạo …(Trạo dạ). “Trưởng hoả đăng” (thấp sáng lên, ý nói chơn khí Đức Lý Thái Bạch xuất hiện khi thuyền đạo loạn; tối tăm) …(trạo dạ)
Thoán loạn : “Hắc dạ tuần du Nam Bắc, Sơ canh mật thám Đông Tây hồ”.
Viết : “Tuần khắp Đông Tây Nam Bắc, Do hà nào chẳng thấy Tổng thương, Ồ còn một chỗ trung ương, Mau đến đó thì tường tự sự nào, Quả Tổng thương an giấc trung thuyền, Mau kêu gả đặng ta vấn tội à….
Cả tiếng kêu Tam đệ Tổng thương, Mau định tỉnh cho ta hỏi việc.
Thương viết : Nơi bệ thuyền nghỉ mỏi, Tiếng ai kêu văng dõi bên tai, Mau bước tới vội vàng, Thử như hà cho biết a …
Lái vấn : Tổng thương do hà ngươi phế nhận, Khá nói cho ta tường hắc bạch.
Thương viết : Dạ thưa anh , trót đêm ngày em canh giữ trung thuyền nào đâu dám bỏ phế phận sự đó Đại ca.
Lái viết : Xảo ngữ chơn xảo ngữ, Hoặc ngôn thị hoặc ngôn; Tội phế thuyền luật pháp khó dung, Thêm xảo ngữ tội kia không thứ,
Vậy, chấp thủ thần đao bất dung tha Tam đệ.
Thương viết : Để Tiểu đệ thuyết lại, thuyết lại cho mà nghe.
Loạn viết : Bảo thủ thuyền trung thừa mạng lệnh, Hà do phế nhận tố nhơn duyên” (chơn đạo: mỗi khi Thanh Công vắng mặt có anh em nào vô tình hỏi tới, Thanh Sử trả lời: “bảy Sang lo bán bột”. Có nghĩa vì việc riêng lo bán bột, bởi nhà anh sản xuất bột nếp; mà không lo việc nước non canh tuần đặng tát, như vậy là phế phận. Thanh Sử mượn thế để ngụ ý cho mọi người đoán xét rằng, thiêng liêng cho xuất hiện qua sở hành của Thanh Công là Tổng Thương lo việc tát nước non).
Thương loại viết : “Bán dạ thâm canh đa phận sự, Thân tâm Hiền đệ quá hôn mê.
Lái viết : Bất thính, bất thính, Ngoạ ngôn thị ngoạ ngôn, Chấp thủ thần đạo bất dung tha. Tam đệ. (Múa chém 3 bộ mủi vào can).
Mũi viết : Đại ca tua giảm nộ, đình đao vọng đình đao,
Lái viết : Hà nhan lại đáo đoạn đao, Nói lại cho ta đặng biết
Mũi loạn viết : Hữu thệ a, Đệ huynh đồng huyết khí, Cô mà hay, tình huynh nghĩa đệ, Ca ca hà đoạn tuyệt nhơn luân.
Lái viết : Bất thính, bất thính, mạc ngôn, mạc ngôn; Nhị đệ nghe ta nói đây. Bất thứ a, Tổng thương can trọng tội, trọng tội Nan dung nghiêm, pháp nan dung.
Mũi viết : Vậy thì Tổng thương phải chết.
Ai viết : Tam đệ ôi ! Qua những tưởng tìm mưu dạy bạn, nào hay qua lại hại bạn đồng thuyền, Nghĩa hữu kết giao Qua đã phạm lời nguyền, Em tử tội, qua cũng cam đồng chung thác.
Hát khách : Đoạn đạo a, phế can phân ngủ tạng, Trùng chiêm Tam đệ ly triêm y.
Than viết : Đại ca ôi ! nhứt thứ xin anh dung chế; Mới một phen xin lượng cả bao dung; Tình Đệ Huynh xin anh đoái đến nghĩa đồng; Đâu nở để Đệ huynh ly biệt.
Lái viết : Lỗi ấy luật hình khó chế Còn tội này Pháp Chánh không dung.
Mũi viết : Đại ca ôi ! Xin anh tưởng tình huynh nghĩa đệ; Nới một phen xá tội cho Tổng thương; Mang thi hài mệt nhọc vốn lẽ thường; Tội ngủ không chi rằng phế phận.
Lái viết : Một không tha, hai ta cũng không tha Nếu Đại ca hẹp lượng Không tha tội Tổng thương Lời nguyện xưa em quyết giữ một đường Can trọn thệ đồng sanh đồng tử.
Lái viết : Khoan thác, khoan thác, qua tha hứa qua tha; Một hai ba bốn qua cũng tha, tội 7,8,9, 10 qua cũng thứ; Huý a, có ra sức đá, mới biết được tuổi vàng; Này Nhị đệ, chẳng qua là qua thử bụng em cho biết nghĩa đá vàng, Chớ đâu nỡ đem Tổng thương xử tử; Khi nghe bạn báo Tổng thương tự sự; Qua cho rằng giận dữ không thương; Nên qua cầm bửu đao qua cắt thử tấm can trường, Của Hiền đệ đường bao cho biết vật thôi chớ
Lời dặn : Khi nói qua cầm bửu đao thì Tổng lái rút cây gươm ra đưa ngay mặt của Tổng mũi làm lấy có rồi day cáng đao vẽ chữ thập trên bụng Tổng mũi (khảo thí, thử nghĩa đồng sanh) mới hát câu : Của hiền đệ dường bao cho biết vậy thôi chớ, Đoạn dang ra ngó ngay Tổng mũi làm cho Tổng mũi phải thẹn, rồi đi ra sau lưng của Tổng mũi chấp tay sau lưng bước qua bước lại gầm gừ và nói riêng rằng : Bạn kiếm thêm không hết có đâu dư giết bỏ cho đành, Khi thấy Tổng mũi ra chiều hổ thẹn thì gạn hỏi lại một lần nữa : Này Nhị đệ, bạn kiếm thêm không hết có đâu dư giết bỏ cho đành phải không Nhị đệ. Rồi cười cho ngon, đoạn muốn an ủi thêm mới ra lịnh tha tội ….
Mũi viết : Đại ca xá tội Tổng thương à.
Nói : Đại ca đã xá tội đệ thân; Vậy em khá đê đầu cảm tạ đi.
Lái viết : Nhị đệ việc thủy trình qua giao lại cho em; Nếu sơ thất tội kia bất thứ đa nghe Giả từ Nhị đệ ,qua trở lại hậu thuyền; Em dạy dỗ Tổng thương mọi việc à.
Mũi viết : Nầy Tam đệ, em đã phạm tội, Đại ca khó thứ dung; Nhưng Qua vào lạy lục khẩn cầu; Ca Trưởng mới tưởng tình dung chế đó đa.
Thương viết : Té ra nhờ Nhị ca xin tội; Nên Ca trưởng thứ dung; Em đê đầu bái tạ trọng ân; Của Ngu đệ tồn sanh nghĩa trọng.
Mũi viết : Tam đệ, Qua cho miễn lễ, vậy em khá bình thân; Khuyên Đệ thân canh giữ trung thoàn; Phải coi lấy nước non mà tát à (Thương dạ). Vậy thì mặt từ giã Đệ thân nơi tiền thuyền Qua trở gót (Dặn Tổng thương tát nước).
Thương viết : Thú giang hồ bầu bạn, Miền hạ thủy ngao du; Tuy bất tài cũng dự trượng phu; Song có chí lo về việc nước.
Lái viết : Bớ Tổng thương, phải coi lấy nước nôi mà tát à …
Giảng viết : Tát nước giữ gìn sau trước; Việc thủy trình sơ lược sao nên.
Thuyết : Thật là thân tôi rất khổ, khó nhọc trăm đường, Nào gạo cơm neo nọc chăm nom; Nào gìn giữ thuyền trung thiếu thốn.
Giảng viết : Khó mới khôn, khôn đừng sợ khó; Khó ta từng lắm mực dấy than.
Viết : Nay đã nhàn hạ, rảnh việc nước non; Chạnh thương thay kẻ mất người còn; Khiến chi cảnh sinh ly tử biệt.
Lái viết : Bớ Tổng thương (Thương dạ), Truyền Đệ thân sắm sửa đèn nhang, Nơi hương án, em khá tua đảnh lễ à.
Thương viết : Dạ em phụng mạng!
Than viết : Đại ca ôi ! Việc canh tuần em chưa có hãn; Lịnh nọ lại vừa sang; Bảo rằng em sắm sửa đèn nhang; Trước linh cửu phòng toan kỉnh lễ; Lịnh trên xuống là không phải dễ; Với phận mình khá nệ nhọc lao; Giữa bể khơi ta mới biết liệu làm sao; Sắm hoa quả phòng toan cúng tế; Âu là ta lai đáo thị trung; Tìm lễ vật hầu toan kỉnh lễ; Nhưng mà đi cũng không dễ; Mà ở lại cũng khó bề; Đi thì ai canh giữ trung thuyền; Còn ở thì quả hoa đâu có; Khó liệu chơn khó liệu; Khôn toan thiệt khôn toan Làm sao cho trọn đủ đèn nhang; Nếu chẳng có ta mang trọng tội; Thật là khó cha chả nầy (suy nghĩ gật đầu); Ớ phải rồi tôi nhớ lại Vả chăng trong Thuyền có ba anh em tôi lớn, nhỏ; Lại đằng sau hậu thuyền còn có thêm một em tôi nữa, đó là Tổng Khậu, giờ này khi nó cũng rảnh, vậy tôi kêu lên đây, cậy nó sắm sửa hoa mới tiện.
Húy a ! Đắc kế chơn đắc kế, thành mưu thị thành mưu. Âu là, bắt mặt để đời. thuyền trở lại.
Viết : Cả tiếng kêu Tứ đệ hậu thuyền, mau thân đáo cho qua dạy việc. Bên này mầy không nghe tao qua bên kia. Cả tiếng kêu Tổng Khậu hậu thuyền, mau thân đáo cho Qua cậy việc bớ em.
▪ Khậu viết : Ai kêu Khậu đó, đã có Khậu đây. Muốn nói chuyện chi mà kêu đến Khậu?
Thương viết : Qua là Tổng thương đây em Khậu.
Khậu viết : Anh ba đó phải không ?
Thương viết : Phải bò ra đây mau bớ em
Khậu viết : Đêm khuya canh chầy, kêu em có việc chi anh Tổng Thương ?
Khậu ngâm : Sông Mê bể khổ dập dồn; Khách trần lặn hụp giữa dòng chơi vơi; Sẵn dây níu chiếc Thuyền trời; Đưa qua bỉ ngạn lánh đời mê tân”. (chơn đạo: bể đời khổ não thân xác rã rời; đất nước trùng phùng đem thân ở rể; oan nghiệt đeo mang 10 năm chất chứa, lỡ mang tiếng nữ sanh ngoại tộc; mới rày đây mai đó; sống đậu ở nhờ, 13 lần thay đổi cơ ngơi; nơi chót hết, Bàu năng vâng Thiên lịnh: Đức Quan Âm cầm cân giác thế; chủ Bát nhã thuyền Di Lạc truyền giao. 1992 Thân Công Báo hồi trào; căn của Thọ một đầu hai mặt, Đức Phi Phàm định dạy: “con phải giúp, anh em đừng bỏ một ai; phế đời hành đạo trăm đường chỉ một”. Chán đời mới tu, những tưởng tu là cội phúc; ai dè nhập trường tu còn khổ hơn đời, nội khảo ngoại khảo dập dồn đời đạo song tu, tu sửa; tu học; tu hành rồi tu đắc. Bên nây bờ, Tử Nha câu thời câu vận nước (1986); bên kia bờ Cứu Khổ Phật triệu hồi, năm 1995 Đức Di Lạc mai danh; ẩn tích đặng mượn thế toan phương giác thế: mang đầu kiến diện; hai cửa nhập trào, Minh Tu – Ám Độ; thắng bảng kỳ ba, truyền giao mật pháp; vô tự 5 điều: “bây giờ người ta chê mình không chịu học; sau nầy học đệ tử chót” mới lạ kỳ. Ông mượn đời khảo thí “con không phải là nhơn sanh à! Không phải nhơn sanh chết sao? Nhơn là người; sanh là sống, nhơn sanh là người sống, nhơn sanh nói bậy tức hại người thì đừng nghe; còn nói đúng thì lợi cho người phải nghe chớ!”. Đầu năm 2005 Đại ca Tổng Lái; chủ bát nhã thuyền, lịnh út chót tiên phuông: “đệ là Tổng Khậu lo kiếm tiền đổ đất; xây cất văn phòng cơ sở Phi Phàm”. Anh em thì đông; ông không giao ai lại cứ bảo mình, Thọ thối thác trình lên Ca Trưởng: thân của Thọ lo còn chưa xong, tài đức đâu mà xây cung cất điện. Quyền huynh thế phụ; thế ngôn nhứt quyết: “Ta định vậy tùy em toan tính”. mượn pháp đạt ý; hễ biết ý cần quên lời.
Đức Di Lạc dạy: “các con lo cho Thầy, thì Thầy lo lại cho các con”. Quả thật, Thầy ban cho chúng ta một khối óc sáng suốt vô giá, lấy của cải vật chất, phú hữu ở thế gian không thể nào đánh đổi mà có được. Không tin cứ thử đi, “mặt thế nầy chưa biết ai cao hay thấp phải vào cung Hạo Nhiên Pháp Thiên rồi mới biết” sự chơn thật là lẽ nào!
Hể phế đời hành đạo thì cân phân đâu đặng hưởng hai bên. Nhưng về phần đời khổ lắm ai ơi; ráng làm gương cho đáng mới nên trò, cam chịu cảnh thanh bần khổ hạnh trường công quả, giàu mà chi phải lo toan xạo sự; nghèo mới trống không đầu óc để cho Thầy, thà bụng rỗng óc no; còn hơn theo đạo mà chi, lại mê mẫn bụng no óc rỗng.
Thật vậy, được đạo mất đời; nhìn lại thế cũng tủi thân cho thằng con trai một, 35 tuổi Ất Mùi dầu giãi; lê kiếp nghèo phụng dưỡng song thân, giữa chợ đời chen lấn nghĩa nhân; ai dám gã con gái mình vào cảnh khổ. Tuy họ biết mình giàu đạo đức; có mấy ai lấy đạo đức đổi được tiền? Nhở họ kêu gã tiền đâu mà cưới ? “Lo cho Thầy thì Thầy lo lại”; Thầy không lo nào dám trách ai đâu, cam phận nghèo một kiếp tằm dâu; đành lột xác thay đời Thánh Đức).
Loạn viết : “Vâng thừa a, Tam ca truyền mạng lịnh; Hải biên lai đáo đến chợ đông; Vọng khám a, con buôn xạo sự” (chơn đạo: năm 2006 Tam Ca Tổng Thương hỏi Đại Ca, chơn khí của Tổng Khậu là ai? Đại Ca cho biết: là chơn khí Đức Lý, do vậy mới “vâng lịnh Ngọc Hư nay xuống thế Tam Kỳ độ rổi ức nguyên nhân”).
Vậy thì ta sắm hoa, sắm quả sắm trà nhang.
Thương viết : Nầy Tứ đệ, vì có lịnh Đại ca truyền xuống; Bảo anh rằng sắm lấy hương đăng; Trước linh cửu lễ bày trình diện đó em.
Khậu viết : Biểu anh thì anh làm, chớ kêu tôi ra làm chi.
Thương viết : Tứ Đệ ôi ! Nếu Qua đi thì ai canh giữ nội thuyền còn Qua ở lại thì ai đi thế. Nên Qua kêu Tứ đệ xin cho anh, hầu sắm hoa quả hương đăng mới cậy em đi thế đó .
Những tưởng việc chi rằng khó; Chớ chuyện đó tôi dưng; Song tôi phải dặn chừng, cúng rồi để tôi dọn kiếm ăn.
Thương viết : Uý a, vâng lời Tam Ca lịnh dạy, Khậu trở lại hậu thuyền; Sắm quả hoa lai đáo linh tiền; Đặng giúp sức Tam ca kỉnh lễ; Nhưng mà đường đó đây không dễ, có nhiều khúc quanh co; Âu là , mượn chèo loan khoá thuỷ lần dò; Nơi Thuyền hậu mặt ta khoái bộ;
Loạn viết : Vâng thừa a, Tam ca truyền mạng lịnh; Hải biên lai đáo đến chợ đông; Vọng khám a, con buôn xạo sự; Vậy thì ta sắm hoa, sắm quả sắm trà nhang.
Viết : (Bá trạo)…mấy em đem chiếc xuồng thúng (chiếc thuyền nan) để xuống nước dùm Qua (Vừa chèo thuyền vừa hò theo điệu chèo ghe, ra sau khuất mặt hát nghêu ngao câu đầu):
“Trăng thanh mặt biển lào xào,
Nhạn rơi giỡn sóng, cá nhào hớp châu”
Thương viết : Từ ta sai Tứ đệ trở lại hậu thuyền; Sắm hoa quả lai đáo tiền bàn; Sao chẳng thấy phản hồi; Ta những ngồi trông đợi; Cả tiếng kêu Tứ đệ hậu thoàn; Trương tế vật cho qua kỉnh lễ; Mau đi bớ Khậu ôi!”
Khậu viết : (Cầm chèo theo điệu chèo thúng bơi ra nhưng cứ ngồi chèo quay tròn mãi; Tổng Thương hối nữa). “Tôi đây bị nước xoáy hay sao mà bị quay tròn mãi đó anh Ba ôi!
Bá trạo đều cười rộ lên, Anh Khậu không biết chèo xuồng thúng nên quay chớ nước xoáy gì ở ngoài biển, Khậu vẫn chèo quay mãi”. (chơn đạo: chèo xuồng nan, có nghĩa khi nào cơ đạo loạn; nan giải khó khăn là việc của Khậu hay đã đến lúc thi hành chơn pháp thiện ngôn trên bát nhã thuyền không còn ai có thể thay thế ngôn ngữ cho 3 ông anh, hơn nữa lúc ấy cũng “không có ai trên thuyền” như lời của Đại Ca xác nhận. Bởi tinh thần của đàn em hậu tấn mê mẫn học cái của người ta hoài nên làm sao biết được cái của mình là chơn nhứt khí, họ đói về thức ăn tinh thần chơn thật. Tuy biết rằng lo việc hương đăng hỏa phẩm là trách nhiệm của Tam Ca Tổng Thương, anh mượn cớ tát nước đặng tránh né cái khổ khoe công. Tổng Thương kiếm chuyện nhờ Tổng Khậu giải vây cho qua cái nạn nan giải biết mà không dám nói thật, cả 3 ông anh khó nói phải giả câm hể nói thật thì tự xưng sao? Đành ngậm miệng A Ă Â cho yên phận. Thương biết tánh khí của Khậu là một nhân chứng sống trên thuyền, dám nói thật; làm thật, nên anh quyết định nhờ đứa em út chót là đúng vậy). “rồi lại cất tiếng hát theo điệu chèo”.
Hát : “Con cá lý ngư sầu tư biếng lội; Con chim phụng hoàng sầu cội biếng bay. (Ngồi theo điệu chèo thúng bơi vô tới sân khấu mới đứng dậy thở hào hển và tiếp nói.)
Dạ quả hoa em sắm trang hoàng, Xin anh đến linh tiền kỉnh lễ bớ anh Ba”. (chơn đạo: hể mình tự kể công của mình thì công ấy tiêu trừ. Nếu phụng sự hữu ích cho nhơn sanh dầu mình có trốn trong hang núi, nhơn sanh cũng mời mình ra mà lập bàn hương án, có nghĩa cái công đức của mình nhơn sanh không bao giờ quên đâu mà sợ mất! có thể mình quên chớ người ta không thể nào quên. Bởi Tổng Khậu là Nhơn Sanh, nhân chứng sống của bạn đồng sanh. Nếu không có công thì có tội, có công mới xuất hiện sở hành của các đấng thiêng liêng! Đức Phi Phàm dạy: “Thiêng liêng cho xuất hiện do sở hành, có hữu hình nhìn nhận”. Nhờ Tổng Thương Nhị Ca giao Khậu, thay thế mình chèo chiếc thuyền nan, mà chính Khậu em út chót dưới Bát Quái Đài được quyền xác nhận, sở hành của 3 ông anh trên thuyền Bát Nhã là các đấng thiêng liêng, phục nguyên Thánh thể thi hành sứ mạng).
Thương viết : “Vậy thì ta bước vội vàng đặng tiếp kỳ báo vật” (Tam bửu hiệp nhứt, phục nguyên Thánh thể) “Giả từ Tứ đệ, bình thân.
Khậu viết : Vậy nơi Trung Thoàn em trở lại.
Thương viết : Cậy đệ thân canh giữ Trung Thoàn, Còn việc kỉnh lễ để qua lo toan liệu.
Cúng tế, ai viết : Ngài ôi ! Trước án nội nén hương xin kính; Nơi quan tài ly rượu tiễn đưa; Chốn Thiên cung lễ vật là thừa; Nơi trần thế tôi xin dâng ba lạy” (chơn đạo: từ ngoài chuyển vào trong thi hành nhơn nghĩa tiến đến đại đồng, trước Đền Thánh đêm mùng 7-4 Nhâm Thân 2012, Thích Ca Đại Đàn – O giờ tin mừng. Nguyễn Công Nhuận Kính Phật trọng Tăng, anh lạy tam bửu của Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh 3 lạy/1 lạy 4 gật hiệp một trong thể hình của Ngài lúc còn sống; anh không muốn lạy bằng những giọt nước mắt ân hận đau thương) “Ngài ôi ! Nay ngài đã tiên du một giấc; Đạo đồng môn tưởng nghĩa hằng ngày; Lẽ mất còn cơ tạo khiến vay; Còn lòng thảo kính người đời ai cũng vậy. Nay tuy hỡi linh thi còn thấy, Mai thôi đành phận mộ đưa sang; Nhớ nghĩa xưa luỵ nhỏ hai hàng; Nhìn cảnh cũ sầu tuông lả chả; Trong đàng trước ngọn đèn chấp chóa; Tưởng tình xưa bóng nọ hỡi mơ màng; Cắc cớ thay cho quán Âm Dương, Thày lai bấy chiếc đò tạo hoá. Vậy thì cả anh em tua khá niệm cùng ta; Nơi trước bài; Lễ nghinh hương đăng chúc bài khai; Tạc thủ lễ cho tròn đạo nghĩa; Cảnh biệt ly lòng những ngậm ngùi Sanh ký giả, tử hề quy giả” (chơn đạo: “Không có ai lột da mà sống đời, trước qua thì sau tới kế nghiệp đặng trường tồn, ngày nay phận sự của người đi trước dìu dắt người sau, đó là cả đại nghiệp tinh thần, mà trước khi giao, phải lựa, phải chọn, cho có người xứng phận bảo thủ vững vàng đại nghiệp đó mới phải. Mỗi vị tín đồ đều có cái mão của Giáo Tông và Hộ Pháp đội trước trên đầu, không lấy được là lỗi tại chúng ta, chẳng lẽ có một người mà người đó chết rồi là diệt tiêu nền đạo hay sao?, ý nói chết đời sống đạo; lấy giả tạo chơn mà thôi).
Khậu viết : “Dạ em xin phụng mạng Ngài ôi! Trước quan tài Khậu đốt hết bó nhang, Cầu linh hồn Ngài trở lại Tây Phan” (linh hồn là sự sáng thật hay là sự nhận thức đúng nơi Tây Phương Cực Lạc là Đền Thánh tức Bát quái đài tại thế. Đó là nơi 92 ức nguyên nhân trở về cựu vị); “Nương phướn Đạo” (pháp chánh thương yêu) “quy hồi cựu vị” (chơn linh phối nhứt thân vi Thánh hình; hay nhập thánh thể dò đường cựu vị; ngôi vị Thầy đã dành sẵn trừ khi kẻ nào chê bỏ, Thầy mới dành cho kẻ khác). “Ngài ôi! Bó nhang Khậu đốt còn ly rượu nọ, Khậu xin dâng nguyện linh hồn ẩm tửu nhứt bôi, Chứng lòng nghĩa toàn nơi bổn Đạo; Đã kỉnh thành một lễ đã an; Đầu tạ từ linh sàng, Khậu thối hồi thuyền nội. Cả tiếng kêu kìa hỡi anh Ba; Mau lãnh việc đặng tôi đi ngủ”.
Thương viết : “Tứ đệ, em cúng rồi đa há; Việc canh tuần anh khá mỏi mê; Em thay thế cho qua đôi phút; Ước đặng cùng chăng Tứ đệ?
Khậu gầm gừ nói : Thì cái mửng cũ, sai hoài, mượn hoài, mình muốn từ khước cái đi, nhưng nghĩ đến sự cực nhọc của anh nên không nỡ. Thôi thì mình thử làm ơn cho anh một phen nữa, coi ảnh có biết ơn nghĩa với mình chút nào chăng.
Dạ thưa anh Ba, anh mượn là em xin phụng mạng.
Thương viết : Mặt từ giả Đệ thân, Nơi hậu thuyền qua an nghỉ.
Khậu viết : Tam Ca đã vào sau an nghỉ Chừ một mình tôi, khuya khoắt lo âu Vậy thì kêu mấy đứa Trạo thức với mình cho có bạn.
(Kêu mấy đứa Trạo dậy, nó buộc câu cá cho nó ăn nên hoà ước bằng miệng rồi câu).
Đã ký xong hòa ước, Trạo không mét thót chi, Âu là xách cần nọ ngồi câu.
Ngâm : 1-Trần ai, ai dễ biết chi đâu; Ông Lữ ra tài giả chước câu; Sợi chỉ kinh luân đầm đoái bích; Miếng mồi thao lược thả dòng châu. 2- Nhợ dài cần vắn thả vòng câu; Lòng muốn câu công với hiền hầu; Chí quyết câu rồng nằm đáy biển” (tìm những bậc nguyên nhân, thiên tài anh hào tuấn kiệt), “Nào ai ham cá hội ngoài sâu”” (hai hạng hóa nhân và quỉ nhân).
- Chơn đạo: Năm 1995 Đức Phi Phàm cho Thân Công Báo biết: “Khương Thượng hồi trước câu cá cái lưỡi thẳng không có mồi. Còn nay Khương Thượng ngồi chờ thời câu cá đặc biệt hơn: cái lưỡi thì cong có ngạnh; lại có mồi”.
(Câu hụt bị Trạo cười kêu ngạo, Khậu than)
“Suy ra đà tuột mấu, Nghĩ lại cũng vuột kho, Chi nữa, bốc cần nọ cuốn vò; Đặng toan lo việc khác
Lái viết : Canh gà đà nhặt trổi; Bóng thỏ đã trải ngang. Cả tiếng kêu Tam đệ Tổng thương; Nổi đăng chúc tuần du Thuyền nội.
Thương viết : Phụng mạng, Tứ đệ, Đại ca đà xuống lịnh; Qua cùng em kiếp thửa tuần canh” (chơn đạo: cầm chắc pháp luân thường chuyển của Đạo, đừng để sái loạn chơn truyền); Vậy thì Qua truyền cho em Nối đăng chúc huy hoàng (Đại Ca cho phép nói thật, chỉ cho thấy sự chơn thật khi đã đủ đầy minh chứng); “Ngỏ cùng nhau tuần thám.
Khậu viết : Bá trạo, truyền trạo phu sắm sửa hoa đăng; Đặng cho mỗ tuần du thuyền nội à (nhân chứng sống trên thuyền), hoả đăng Khậu đã sắm rồi; Trình Tam ca sử dụng,
Khách : Phụng mạng Đại ca truyền mạng lịnh; Tuần du thuyền thượng thủ chư linh; Giáo dục trí a” (chơn đạo: đem chơn pháp cho vạn linh đạt để nhìn nhận Từ phụ Di Lạc và Từ Mẫu Quan Âm là hai đấng cha mẹ thiêng liêng của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật tại mặt thế gian nầy). “Thuyền môn đồ xã tắc Kinh thân như thử tận lực đồ vương” (chơn đạo: giúp cho nước Việt Nam nhỏ nhen trong vạn quốc, ngày sau Làm chủ mới lạ kỳ).
Viết : “Những mảng tuần du thuyền thượng Phúc nghe qua ngọn gió thổi vào Anh em ta biết liệu làm sao; Vậy thôi thì ta trở lại hậu thuyền, Đặng báo lại Ca trưởng Đại ca ôi! Giông bớ Đại ca giông.
Lái viết : Giông hiền hay giông dữ?
Thương viết : Đến nỗi này mà anh còn hỏi giông dữ hay giông hiền. Anh xem kia kìa Trời kia đà xuống gió. Mây nọ khác dường mây. Trăng kia đà khuất nặng về Tây, Thuyền mau kiếp lui về bãi nhạn. Chèo, anh em ôi.
Vát nam : Ta kiếp lui về bãi nhạn, Nguyện Thánh Thần cứu nạn phong ba.
Viết : Bớ thương, bớ thương, sao không kéo neo còn đợi chừng nào.
Thương viết : Thuyền thì Thuyền to, neo thì neo nặng, Để em coi đi coi lại cho chững chàng, Có quả giông lớn cùng không (Đạo loạn), Quả thật vậy rồi, anh ôi!
Tẩu mã tiếp : Chỉ bị lâm nguy cứu nhứt thời,
Trở thuyền lại hoang mang trực khứ.
Giảng viết : Trực khứ qua miền Bắc Hải, Nguyện Thánh Thần, Ngài độ khỏi cuồng phong; Lạy trời bớt gió ngừa mưa; Mây tan gió lặng thuyền đưa vững vàng.
Khậu báo : Dạ dạ, hết giông rồi bới Đại ca
Lái viết : Huý a, nay đã phong thanh nguyệt bạch; Lại thêm đường hải nhuận sơn cao; Nhị đệ cùng Tam đệ, Vậy thì trở thuyền lại nghêu ngao, Đặng dạo chơi cảnh lạ
Giảng viết : Cảnh lạ nhìn xem không lạ (phản hồi nguyên bổn, trở lại ngôi xưa); Cúi đầu từ bái tạ thần linh; Đoái nhìn phong cảnh hữu tình Kìa non Hàn Tín, nọ gành Thái Sơn” (chơn đạo: nhớ lại trước kia 1996 Hàn Tín giúp cho Hớn Bái Công phục nghiệp: Di Lạc giao cho Quan Âm chủ quyền Đạo bằng hai con đường Minh Tu Sạn Đạo; và Ám Độ Trần Thương).
Thương và Khậu hát : “Rày mừng hội hiệp rồng mây, Xuân Thu tứ quý tạc thay thái bình” (chơn đạo: Tổng Khậu được Đại Ca Tổng Lái giao sứ mạng trấn thủ cửa ải địa đầu cung Thánh, mượn danh nghĩa “trả về gốc Hạo Nhiên Pháp Thiên”, giai đoạn Bí pháp Thiên đạo thuộc Tăng” năm 1998-2005. Bằng mặt trận trí thức tinh thần “vươn đông kích tây” cũng vẫn sở dụng hai tinh thần Minh Tu Sạn Đạo và Ám Độ Trần Thương, không ai ngờ tới. Chiến thuật nầy không như mặt trận hình thức Thể pháp Thiên đạo năm 1995 của Đức Phi Phàm mượn danh nghĩa mua bán đất.
Chúng ta hãy để mắt nhìn coi Đức Di Lạc tạo hình thể nào, để chúng ta nương theo đó đặng tạo dựng đức tin vững chắc bền bỉ vậy? Quả thật, được sự giúp sức của Tổng Thương Tam Ca năm 2004, Đại Ca Tổng Lái đã đưa ra để tạo thành một lực lượng đủ chiến thắng trở mặt ra với tinh thần cường liệt của Đức Di Lạc. Thương và khậu xuống thế bằng chiếc thuyền nan ở giai đoạn loạn đạo thanh trượt bất phân, khó tầm nên hư, chánh tà, chơn giả. Mãi đến sáng ngày 13-4-2005 Thương và Khậu đã phản hồi thắng trận “Thiên quân diêu động linh phan; cả miền Thánh vức nhộn nhàn tiếp nghinh”, Đức Hiến Pháp Quan Âm đã đoạt phẩm vị Phật nơi cõi thiêng liêng hằng sống là Di Lạc Vương Bồ Tát tái sanh sửa đổi chơn truyền chủ Hội Ngươn Thiên. Đức Di Lạc vào Lôi Âm Tự kiến diện Đức Di Đà, đến lượt trở ra mới chịu danh là Đại Từ Phụ vậy thì Chơn pháp thành, khai hội Long Hoa Bạch Ngọc Kinh Thiêng liêng tại thế, trước khi xuất hội Đức Di Lạc vui mừng không tỏa, xác nhận: “ngày hôm nay trọn vẹn”. Đức Di Lạc đã đến chủ tọa hội Long Hoa nơi Bạch Ngọc Kinh thiêng liêng năm 2005 rồi, chỉ còn chờ Chơn đạo thành Đức Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát mới đến khai Long Hoa Đại Hội tại Đền Thánh Bạch Ngọc Kinh tại thế, sớm hay muộn đều do Tông đường thiêng liêng của con cái Đức Chí Tôn định quyết, vì bổn phận làm con phải hiếu hậu vi tiên quyền năng ấy cũng để cho là mẹ.
Mũi viết : “Bá trạo à, thuyền hồng đã kề nơi bể Thánh; Thuyền trạo phu sắp ngọn chèo loan; Đưa chư linh vào cảnh an nhàn Lui thuyền lại chúng ta an nghỉ à… Việc hầu Thần một lễ đã an Truyền thuỷ thủ lưỡng ban, Cúc cung đồng bái tạ”./.
THƯƠNG – KHẬU Đã Giúp CHƠN PHÁP THÀNH (1992-2006).
- Nay XUỐNG THẾ Hóa Thân thi hành CHƠN ĐẠO (Mùng 7-4 Nhâm Thìn - 2012…)
Cũng vẫn một mình độc chiếc cô quạnh không ai nâng đỡ giữa chợ đời khốn khó.
“Cơ chuyển thế khó khăn lắm nổi,
Mượn Thánh ân xây đổi cơ đời
Thuận nhơn tâm ắt thuận trời
Câu kinh vô tự độ người thiện duyên”.
Việc lạ xuất hiện trước Đền Thánh Tôn Giáo Cao Đài Tây Ninh.
Đúng thời Tí (o giờ) tối mùng 7, chuyển sang mùng 8 tháng 4 Nhâm Thìn (27-28/4/2012) kính mừng đại lễ Đức Phật Thích Ca.
Đoàn chức sắc lần lượt bước lên 5 cấp đặng vào cửa Đền Thánh hành lễ, đi trước là chức sắc bộ Pháp Chánh tiểu cấp của Hiệp Thiên Đài, rồi đến chức sắc Cửu Trùng Đài, dẫn đầu là Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh. Trong khi Ông Đầu Sư xuất phát từ phía nam phái, Ngài đi chậm rải, thông thả vừa đến trước Tam Thánh để chuẩn bị bước lên cấp 1, bổng chợt có một vị từ sân gạch cột Phướng phăng phăng bước nhanh vào, trang phục sơ mi chỉnh tề đối diện với Ngài Đầu Sư, xá 3 xá, người em quỳ gối phủ phục lạy Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh.
Vị ấy lại 3 lạy: một lạy 4 gật; rồi đứng dậy xá 3 xá, cùng lúc Ông Đầu Sư bước lên 5 cấp vào Đền Thánh, đặng chứng kiến khai lễ Đại Đàn vía Đức Phật Thích Ca. Thiên hạ lớp đứng, lớp ngồi, trước và hai bên nam nữ của Tòa Thánh, điện hoa tỏa sáng như ban ngày, cả thảy đều sửng sốt; nhốn nháo; xôn xao, may duyên tận mắt thấy cái thiệt tướng trăm năm hiếm có, 5 anh bảo vệ từ nữ phái và nam phái chạy nhanh vào hùng hổ; thúc ké hai tay ra sau lưng rồi mời vị ấy ra về. Trước khi làm tròn bổn phận một người em, nhìn nhận Ông anh Thiêng Liêng của mình,vị ấy quay lại xá 3 xá Đức từ Phụ Di Lạc Vương Phật trên nóc Hiệp Thiên Đài.
Quả thật, từ khi khai Đạo đã 88 năm chưa có một hành tàng Nhơn Nghĩa nào trước Đền Thánh, thể hiện đức tin có bằng chứng vô đối như thế. Với cử chỉ cao thượng tôn sư trọng Đạo giữ nghĩa đồng sanh của vị ấy, đã làm rung động hàng trăm nhơn sanh có duyên may tận mắt chứng kiến một chiếc chìa khóa thương yêu, tin chắc nó sẽ hóa thân ức vạn để mở cửa Thiên Đàng tại thế.
Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn báo trước rằng nước Việt Nam chúng ta có một tủ thuốc trường sanh, đó là cái đạo Nhơn Nghĩa 4000 năm văn hiến, Đức Ngài bảo hãy đem vị thuốc ấy cho cả nhơn loại trên hoàn cầu nầy uống đặng hằng sống. Thế nên trước mặt Đền Thánh đề hai chữ NHƠN NGHĨA là vậy, áp dụng nho tông chuyển thế làm sống lại trong thánh chất thương yêu: Trung với Cha; Hiếu với Mẹ; Nghĩa với anh em. Đã là anh em chỉ có thương đừng ghét, mình không thương mình biểu thiên hạ thương mình sao đặng? Được vậy, thì nước thiên đàng tại thế sẽ đến trong tầm tay chúng ta không xa lắm.
Từ sự chơn thật đó, sẽ đánh tiêu cái thuyết gọi là tận thế quá nông nổi viễn vong của những nhà nghiên cứu mê tín bấy lâu nay. Với chơn đạo phải khoa học thực tiễn mang tính khách quan. nhằm mục đích phụng sự cho nhơn loại tận thiện tận mỹ là chân đó vậy. Cụ thể nhất, đêm mùng 7-4 Nhâm Thìn Thích Ca đại đàn – O giờ tin mừng lúc ấy, là giờ giao thời giữa tinh thần tận cực âm của Hạ Ngươn Tam chuyển đặng chuyển tinh thần sang Thượng Ngươn Tứ chuyển mà những vị giáo chủ của các tôn giáo đã tiên tri bao đời nay. Với Tam Kỳ cho biết là trách nhiệm của Đức Lý cầm thiên thơ Khổng giáo. Để tạo đời cải dữ ra hiền, sở dụng bí pháp thay cũ đổi mới từ một tinh thần của thế giới chiến tranh làm cho nhơn loại khổ não bước sang một thế giới cực lạc vui mừng thương yêu hạnh phúc không tỏa được tại mặt thế gian này.
Thuyết đạo tại Đền Thánh, thời Tí mồng 1 tháng 6 năm Mậu Tí (7-7-1948) Đức Hộ Pháp khẳn định qua đề tài “ PHONG HÓA NHÀ NAM”:
“ Văn hiến bốn ngàn năm có sẵn
Chi cần dị chủng đến dâng công”
Nguyễn Công Nhuận là Thương Khậu hóa thân, cùng một lúc, tay phải anh là Đạo thi hành Nhơn Nghĩa; tay trái anh chăm sóc cho Đời thi hành Nhân Đạo. Suốt 6 năm (2006-2012) là Phó Chủ Tịch thường trực Hội Từ Thiện Chữ Thập Đỏ tỉnh Tây Ninh.
■ TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN
Với tư cách là một tín đồ thuộc Đạo,công dân của một nước thuộc Đời. Chúng tôi khẳng định tuyên ngôn với Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc và các nước anh em trên toàn thế giới, vui mừng và tin tưởng rằng: Nước CHXHCN Việt Nam của chúng tôi đã và đang có nhân quyền tự do Tôn Giáo, không riêng gì Đạo Cao Đài. Cái chủ quyền Đạo, Tam Kỳ Phổ Độ vẫn ở trong tay người Việt Nam, trong Tổ Quốc Thánh Địa Việt Nam. Thế mới xứng với danh nghĩa đại đồng “Quốc Đạo Nam Phong” cùng nhau thi đua: Trung với nước, hiếu với dân tộc, nghĩa với bạn đồng sanh. Nước Việt Nam sẽ làm gương cho thế giới phải đồ theo đặng hưởng đời thánh đức.
TỪ TRUNG-HIẾU-NGHĨA.
Lạy Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh, bởi vì anh kỉnh Đạo trọng Người, Đạo dạy người nên hiền; còn trọng người vì Ông cũng bình thường như mọi người; Ông không kiếm tìm chi vô ích, chỉ cần đồ theo nẻo thẳng cứ đi, bảo thủ và gìn giữ tại Thể Pháp Đền Thánh vẫn lập được đại kỳ công.
Không riêng Ngài Đầu Sư Đạo Cao Đài mà cả thảy những vị đại diện, những nhân chứng sống của các Tôn Giáo,…cũng khôn ngoan sáng suốt, hy sinh can đảm, vững tâm bền chí nhẫn nại, dìu dắt môn đồ trên con đường: Minh Đức, Tân Dân, Chí ư Chí Thiện.
Trước khi lạy Ngài Đầu Sư, anh đã tề gia của anh rồi. Anh em ruột, có cả dâu rể, con cái của anh lần lượt quỳ lạy bà mẹ còn sống sanh hóa ra các anh.
Tóm lại, anh lạy Ngài Đầu Sư là anh biết kính Phật trọng Tăng đó là Đạo. Còn kỉnh Đạo trọng Người đó là Đời. Đạo Đời tương đắc ở trong anh.
“ Tôn trọng Người như Trời với Phật,
Thương yêu cả hết chúng sanh thành”.
Thử hỏi, với kỷ nguyên hiện đại nầy cả thế giới có ai làm được như anh? Thế nên thiên hạ đại loạn là vậy. Nước Việt Nam nhỏ nhít của chúng tôi làm được, rồi đây tin chắc thế giới cũng vẫn làm được. Mong rằng với gương sáng 4000 năm văn hiến của Tổ Quốc Việt Nam sẽ bắt cầu Trung, Hiếu, Nghĩa cho thế giới đồ theo mà giữ nước và dựng nước. Thống nhất thành một khối thương yêu, công bình tiến đến đại đồng thiên hạ.
Đó là giải pháp cứu thế của Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam. Duy chỉ có chủ quyền Đạo trong nhân quyền tự do Tôn Giáo Việt Nam mới có! Hiện đã có và đang có!
Ban sơ, khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Chí Tôn chọn giống dân Việt Nam làm cơ quan cứu thế, Đức Ngài đem cho lại, nhắc lại cái tủ thuốc trường sanh của Tổ Phụ là đạo NHƠN LUÂN, để làm giềng mối kết liên 92 ức nguyên nhân thiệt hiện Đạo Đời tương đắc vạn linh hiệp chí linh quy hồi bổn thiện. Đức Hộ Pháp quả quyết: “ Một nước nhỏ nhen trong vạn quốc, ngày sau làm chủ mới lạ kỳ”.
Sở hành cao thượng tôn sư trọng đạo, giữ nghĩa đồng sanh ấy, đã 88 năm đề thi Nhơn Nghĩa dựng bảng Phong Thánh Kỳ ba trước Đền Thánh, đã được xuất hiện đêm mùng 7-4 Nhâm Thìn (2012) trước mắt hàng trăm nhân chứng sống và sau lưng hàng triệu môn đồ.
Nguyễn Công Nhuận đem thân ra làm tế vật cho sự chơn thật, thay mặt hàng triệu nhơn sanh làm một nhân chứng sống công bằng trong sự thương yêu. Anh lạy ông anh của mình khi còn sống, anh không muốn để những giọt nước mắt ân hận đau thương qua bài kinh “em tế anh” thì đã muộn màng. Quả thật, với tinh thần ấy; hành tàng ấy ai dám bảo đó là giả? đó mới thiệt là một tình thương thiêng liêng hằng sống, thế gian nầy hiếm thấy.
● Khi Chơn đạo, dựng bảng phong Thánh xuất hiện Kỳ Ba (2012), thì anh là người em út chót của đời trước nhưng lại là ông anh đầu đàn của đoàn em ở giai đoạn Chơn Đạo sau nầy. Nguyễn Công Nhuận là Nhơn sanh, một nhân chứng sống công bằng từ sự sáng thật Thương-Khậu hóa thân thuộc Tăng (7-4 Nhâm Thìn. 2012), tùng Pháp Chơn Đạo: I, II, III, IV, V…(2012…) bằng “chiếc thuyền nan” thực hiện đạo đời tương đắc, hòa bình hạnh phúc. Mình phải làm hết, đến khi ông chủ của Tông Đường thứ ba là Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát về thì đã xong rồi, ông chỉ có định vị mà thôi, lúc ấy gọi là Qui Phật. Chủ tọa Hội Long Hoa tại Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh.