ĐỨC PHỔ HIỀN NGỒI TRÊN BÀN CHÔNG.
(trích trong quyển Đôi Liễn Ngọc Hư Cung)
● Năm 1983 Đức Phật Chuẩn Đề Bồ Tát cầm quyền Chưởng Pháp xây quyền Tạo Hóa chủ Cung (tinh thần) Hạo Nhiên (công bằng) Pháp Thiên (thương yêu), giao viện Đại Học Chơn Pháp Đạo Tâm cho Đức Phổ Hiền Bồ Tát, ông bảo như vầy:
- “Con thực hiện đôi liễn ngoài của cung Hạo Nhiên Pháp Thiên:
Chơn giáo Cao Đài cứu khổ vạn linh quy Đại Đạo,
Pháp khai Ngươn Thượng nguyên nhân tỉnh ngộ hiệp Đồng Tâm.
Còn đôi liễn trong để ông:
Hạo Pháp du hành an võ trụ,Nhiên Thiên vận chuyển tịnh Càn Khôn”. Cuối cùng Đức Chuẩn Đề nghiêm nghị nhắc:
- Phải nhớ, có đói xuống ruộng bức cỏ ăn!
Tuy ông dặn như vậy, chớ có mấy ai trên thế gian nầy bức cỏ ăn đỡ đói chưa? Ý của ông muốn chúng ta phải rán giữ “thanh bần khổ hạnh trường công quả” có nghĩa dầu cho nghèo khó; bần hèn; đói rách đi nữa…cũng phải sống cho thanh sạch, đừng để vật chất tiền bạc vi chủ tinh thần ta; nó khống chế ta làm tôi mọi cho nó; đánh mất sự công bằng; quang minh; chánh trực, làm cho các nguyên nhân phải lầm đường lạc ngã, nhơn loại tương tàn, tranh quyền soán vị, nghịch sư phản bạn, bất nghĩa; bất hiếu; bất trung…
Nói thì dễ, khi làm quá khó. Tháng 02 năm 1992, cơ sở Cẩm Giang được Đức Phổ Hiền giao xây cất cung Thừa Thiên Hành Hóa lên một căn gác, để ông yên tâm viết bài cho chư vị Đạo Tâm học. Lúc ấy cuộc sống của anh chị em còn quá khó khăn, bằng những chiếc xe đạp củ kỷ vượt hằng chục cây số giữa trưa nắng chang chang mồ hôi ướt áo; trầm mình dưới những cơn mưa bảo gió lốc ngược chiều, phải xuống dẫn bộ trên con đường rộng thênh thang dưới chân núi bà đen hùng vĩ, như những cơ sở xã Bàu Bắc (Tân Châu. Tây Ninh) ở xa nhất, sáng đi chiều về góp sức vào công việc trong sự vui sướng và hạnh phúc.
Năm ấy cung Thừa Thiên Hành Hóa có 5 cơ sở: 1/- Thanh Liên (Cẩm giang). 2/- Thanh Nhơn. 3/- út Luân (Long Hải). 4/- 5 Vân (Bàu Bắc). 5/- ba Kiệt (Bàu Bắc). Cơ sở Cẩm giang được sự hướng dẫn của Thanh Liên tiên phong đi đầu về vật chất lẫn tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho Ngài Phổ Hiền được yên tâm giáo hóa môn sinh.
Đó là phương tu nhập thế của Tam Kỳ còn Nhị Kỳ thì sao? Thái tử Tất Đạt Ta bỏ lại sau lưng bàn chông nhọn sắc trong bóng đêm tăm tối, Ngài nói với Xa Nặc:
“Ta đi để thoát cái ngục vàng này mà ta đang bị giam hãm. Ta đi tìm chân lý để cứu độ chúng sanh.
- Ngài bỏ ngôi báu, bỏ nước nhà mà Ngài làm chúa tể để nắm cái bát của kẻ ăn xin?
- Phải ta muốn thế. Ta không muốn bịn rịn với tổ quốc nhỏ hẹp nầy để được yêu vũ trụ rộng lớn; ta muốn bỏ những kho báu bèo mây đi tìm cho nhân loại hưởng của quý vĩnh viễn. Đem con Kiền Trắc ra đây!
Xa Nặc quỳ xuống, chấp tay van xin:
- Xin Ngài hãy nghĩ đến sự đau khổ của Hoàng Thượng, nghĩ đến sự sầu thương của công chúa. Khi Ngài đi rồi, lấy ai bảo hộ những người thân của Ngài nữa?
- Người ạ! Ta không thể ở bên cạnh những người thân để hưởng lấy những lạc thú ích kỷ. Vì yêu Phụ hoàng ta, yêu vợ con ta hơn những lạc thú của chính ta, nên ta ra đi để tìm một tình yêu vĩnh viễn cho cả mọi người. Thôi ngươi hãy đem con Kiền Trắc ra đây! Xa Nặc buồn bả đi vào chuồng, đem con Kiền Trắc ra, lấy cương yên buộc vào , phủ lên mình ngựa một tấm nhung vàng. Con ngựa thấy Thái Tử mừng rỡ, hí lên. Ngài vỗ nhẹ vào gáy nó:
- Kiền Trắc ơi! Ta nhờ con chở ta đi trong một cuộc hành trình xa, xa lắm. Đêm nay ta đi để tìm chánh đạo. Ta chưa biết rõ nó ở đâu nhưng ta sẽ không dừng bước, nếu ta chưa tìm ra được nó. Con hãy hăng hái can đảm lên! Không một trở lực gì ngăn cẳn nổi, dầu đó là một ngàn lưỡi gươm sáng cản đường, hay đó là thành cao, hố hiểm. Con phải phi như một luồng bảo để giúp chủ con! Sau này nếu ta thành đạo, con sẽ dự một phần công đức.
Ngài nhẹ nhàng nhảy lên mình ngựa. Xa Nặc nhảy theo ngồi sau lưng ngài. Con ngựa trườn tới, rồi phi, phi… Những tia lửa sáng lòe tung tóe dưới bốn móng chân đạp vào đá sỏi của con đường mờ”.
▪ Với Phật giáo chấn hưng Tam Kỳ Phổ Độ, có khác hơn Phật giáo Nhị Kỳ buổi trước.
Thái Tử muốn giải thoát tam khổ: lão, bịnh, tử trước nhứt phải ly pháp phế đời hành đạo cắt ái ly gia. Bởi Nhứt kỳ thuộc phật; Nhị kỳ thuộc Pháp là vậy. Sau khi ly Pháp, mãi đến 49 ngày dưới cội bồ đề, đến ngày thứ 50 Đức Ngài mới Đắc Pháp thi hành tượng pháp tại mặt thế gian này. Cái khối thảm khổ của con người là do nơi sống tức sanh, muốn cho con thú nầy sống và tồn tại mới sanh khổ. Cho nên Đức Ngài thêm một đề sanh nữa, chính cái sống nó là nguyên nhân phát khởi của tứ khổ: Sanh, lão, bịnh, tử. Đức Ngài đã đắc đạo, thường du ta bà cứu khổ chúng sinh, thắng Tứ Diệu Đề Khổ được nhơn loại tôn tặng một phẩm vị Phật sống Thích Ca Mâu Ni thế tôn cho đến nay trên 2500 năm.
“BÀN CHÔNG NHỌN SẮC”
Đến Tam Kỳ cũng pháp luân từ tượng Pháp Nhị Kỳ thường du ta bà thuộc tăng nhập thế, mượn thế đặng toan phương giác thế, dễ tu mà khó đạt. Do vậy mới có sự việc ngộ nghỉnh của Đức Phổ hiền Bồ Tát xuống thế mang xác phàm giáo đạo kỳ ba trong giai đoạn Chơn Pháp, Ngài không như Phật Thích Ca mà phải nhập thế như bao nhiêu người khác; cũng vợ đẹp con xinh; nhà cao cửa rộng…chính Đức Phổ Hiền Bồ Tát cũng phải luyện trên bàn chông nghiệt chướng của Ngài.
Tháng 02-1992, ông Phan văn Sơn là con ngựa của Đức Ngài Phổ Hiền cởi, ông mượn danh nghĩa Cung Thừa Thiên Hành Hóa lo xây dựng nơi trú ngụ cho cả gia đình để ông yên tâm dạy đạo. Trong lúc xây cất ông thường than phiền với vợ con có nhiều người cùng nghe:
- Mẹ con của bà để tôi ngồi trên bàn chông biết hôn!
Bởi vì lúc ấy chẳng những cơ sở Cẩm Giang vừa lo xây nhà cho ông mà đảm đang cả về cuộc sống sinh hoạt; học hành… con cái của ông. Thử hỏi nội cái nắng mưa thôi, thế gian còn trách cứ ông trời huống lựa chi là con người. Vợ con của ông được voi đòi tiên, rù rì châm chích; giận hờn; than khóc đót ông, ông đót lại đạo tâm.
1/- Cứ thế thời gian qua dần, cơ sở đầu tiên của 5 Vân ở Bàu Bắc mượn cớ ra đi tìm Tăng để định hướng riêng cho mình sau mấy năm tùng Pháp. Có nghĩa đã đến lúc phải ra Tăng (1992), tức không còn trực tiếp với ông ba Sơn nữa, họ đi theo út Luân tôn xưng là Dà Lam đặng dẫn nẻo Tây Quy, miễn sao họ không còn làm tôi tớ cho cái bàn chông oan nghiệt của ông là tốt rồi.
2/- Năm 1992-1994, là hai năm xót xa nhứt của bà mẹ ruột và đứa em trai thứ năm của ông Phan văn Sơn là anh năm Trực. Hai mẹ con nghèo cô thế không ai nâng đỡ ở nhà kế bên sát vách, cứ tới giờ cơm trưa và chiều hai mẹ con rón rén khúm núm qua nhà đứa con trai mình; ông anh ba của mình đặng ăn cho đỡ đói, trong khi mọi người đã ngồi vào bàn ăn tự lúc nào rồi. Chị ba Ngọc Thành và Thọ thường xuyên qua mời hai mẹ con qua dùng cơm, không nở ngồi nhìn cảnh thương tâm xảy ra như thế.
Mãi chịu đựng đến năm 1998 cung Thể Thiên Hành Hóa “đưa 5 Trực ra, nhưng không mất từ trường”, anh mới dám thì thầm với tám Sơn là người của anh rằng “bây giờ nhờ tôi có người, cả nhà của ổng mới trọng tôi, chớ trước kia xem tôi như con chó ghẻ vậy”. Quả thật, cái tình cốt nhục giữa hai gia đình chỉ cách có một tấm vách tường, mà mãi đến nay vẫn còn oán hờn trách mốc xem nhau như người dưng kẻ lạ. Đức Phổ Hiền Bồ Tát ngồi bất động trên con kỵ vật nhân quả oan khiên tạo ra cái bàn chông cay nghiệt, mặc cho thế gian nhập trường thi khôn nhờ dại chịu.
3/- Mùa xuân năm 1996 được sự đồng ý của Đức Chuẩn Đề Bồ Tát theo lời xin của Thân Công Báo qua trận Minh Tu Sạn Đạo và Ám Độ Trần Thương đã thành công tốt đẹp, Ngài Phổ Hiền chuyển 21 Đạo Tâm vào cung Hạo Nhiên Pháp Thiên để kiến diện Đức Chuẩn Đề thạch xã giải thi “thiệt chiến đức tin tại cung Hiệp Thiên Hành Hóa trước Diêu Trì cung”. Đức Phi Phàm hỏi Phổ Hiền Bồ Tát vào sáng mùng 2 tết năm 1997:
- Con giao người cho ông rồi sau nầy con có buồn không?
- Dạ kính thưa, đưa người qua để phụng sự cho ông thì làm sao con buồn được.
Cả thảy 21 người ấy, trong đó có 10 người cơ sở Cẩm giang được Đức Chuẩn Đề giữ lại còn bao nhiêu người của cơ sở khác ông trả về. Kể từ sau đó, cho đến sau ngày ông Phan văn Sơn mất, chẳng những 21 người mà còn thêm nhiều anh chị em khác nữa, dần tránh xa cái bàn chông nghiệt chướng của Ngài Phổ Hiền không còn bước tới nơi trọng phú khinh bần; bất nhân bất nghĩa ấy nữa.
4/- Cuộc nội loạn chơn pháp năm 2008, Phan Tấn Kiệt cũng vì lo cho đạo nghiệp buộc phải ra 10 điều can gián để đúng với lời cảnh báo của Đức Phi Phàm với Ngài Phổ Hiền sáng mùng 2 năm 1997: “tới đây, màn hai dữ dội lắm con phải để tâm không mới đắc pháp, đắc phật, đắc duyên, đắc vị, đắc a nậu đa la, tam diệu tam bồ đề, xá lợi tử quy nguyên phật vị”. Phan Tấn Kiệt là em cô cậu ruột của ông Phan văn Sơn, anh được ông Sơn bảo lãnh minh thệ năm 1991, anh đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình góp công không nhỏ đối với đường lối chơn pháp. Qua cuộc biến thiên của cơ đạo được sự đồng tình của một số anh em, anh đã nói lên sự thật của lòng mình với ông ba Sơn qua bài “tâm ai nấy giữ”:
- “Ngay trong nhà anh cũng chẳng khác chi ai, Đạo Tâm ơi! Chán ơi là chán! Gần 20 trường tôi phụng sự cho ai??? Họ coi tôi như “con chó” ở bên đường… chịu mang tiếng mang tai, phỉ nhổ chê bai của đạo tâm nam nữ, như là “không muốn thấy mặt đến nhà”, thôi thì tâm ai nấy giữ, tâm của họ, họ trau dồi mặc họ, còn tâm em, em quyết định phải làm. Ai chịu nổi cảnh như tôi chịu thử, bất kể nắng mưa, đêm ngày không nghĩ đến, miễn cho rồi bổn phận của mình thôi.
Điều thứ 2 trong 10 điều can gián của Phan Tấn Kiệt:
- “Không cho phép gia đình anh từ chị ba đến các cháu tham gia ý kiến gì về “chánh trị đạo”, vì không có khả năng nhận thức, dễ làm chùng bước, hoặc năn nỉ, khóc lóc, làm anh ngã lòng, mất đi hiệu quả của sự toan tính sắp xếp của anh.
Anh bị thiêng liêng quây ngay tình “Ái” do thương con mà nghe lời tà quái, tưởng đem thờ rồi nó cứu sống được con anh, nhưng tà quái đâu biết sống là gì mà cứu sống, chỉ quậy cho hẩm mà thối cả gia đình, từ chị ba, cho tới thằng Sĩ, thằng Sò, rồi con Châu thì chết , con Như (cháu của tư Hùng giúp việc nhà, bị Sĩ ve vãn làm những điều quái gở) cũng vậy nếu em không cản “Tư Hùng” mọi việc đâu êm rồi tháng 10 tháng 11 sẽ tới anh, đau đồ đại phẫu, anh khó lòng qua khỏi…”
Những ngày cuối cùng tháng 8 năm 2009, ông ba Sơn nhắn nhủ vợ con của ông phải trả nghĩa cho chư vị đạo tâm trong đường lối chơn pháp rồi ông ôm đầu quả quyết như vầy:
- Phải đưa tôi xuống bệnh viện Thành phố cho tôi chết, ở nhà tôi chết không được!
Ông cứ đòi hỏi nhiều lần như vậy, trong khi bịnh ngày càng kiệt sức. Thật vậy, đêm hôm ấy tại bệnh viện T/P.HCM ông ra đi âm thầm không ai hay biết, mắt vẫn còn mở to cho đến khi nhập quan, như thầm nhắc nhở “bàn chông nghiệt chướng” của ông phải trả cái nghĩa đồng sanh, ông mới yên lòng nhắm mắt ra đi.
▪ LỜI HỨA ĐÃ 20 NĂM RA SỰ THẬT.
Một buổi sáng chuẩn bị đón giao thừa 26-12 Nhâm Thìn (2012) tại bàn cà phê ĐÔ MI NÔ trước cổng số 12 ngoại ô Tòa Thánh Tây Ninh cách nhà ông Phan văn Sơn 100m, gần 8 năm rồi Hoàng Thọ mới có dịp trao đổi thật lòng với Phan Cương con trai út của ông Sơn có Thanh Liên cùng nghe:
- Bác Hồ là một Đấng Thánh, vị cha già kính yêu sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.
Phan Cương không chịu:
- Ông ấy mà Thánh cái gì? Anh đâu biết quá trình trước kia của ổng…, ba tôi nói về bác Hồ như vầy: “xác nằm trơ như tượng gỗ, còn hồn bị nhốt dưới phong đô”.
Thọ rầy Phan Cương:
- Ngày giờ này mà chú còn có những tư tưởng ấu trĩ, dại dột, bất nhân bất nghĩa ấy thật đáng thương. Chú hiện là một nhân viên của cơ quan Tài Chánh tỉnh Tây Ninh vừa là một đảng viên của ai? Chẳng phải là con đẻ của Bác Hồ à ! Bác là một anh hùng của thế giới là một đấng Phi Phàm đi nhứt thân về ức vạn, giải phóng dân tộc thống nhất đất nước Việt Nam, xây dựng và tiến đến dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta phải sống với cảnh sống thật, đừng mê theo sự giả, đứng núi nầy trông núi nọ. Núi của chúng ta đang đứng đây là thiên đàng, hiện nay và sau nầy dám chắc trên thế giới chưa nước nào có được. Tôi biết, mấy ông trời tiền Lê quang Tấn đã hốt hồn cả nhà của chú tự lâu rồi.
Cương không phục, bảo thủ:
- Những gì tôi hiện có là do công sức lao động của tôi, chớ không do ai ban phát cho.
- Đó là lẽ tất nhiên, nhưng ít ra chú phải biết ai đã tạo những điều kiện thuận lợi từ vật chất lẫn tinh thần cho cả nhà chú có may duyên sống trong một thế giới Cộng Sản yên bình, chẳng những riêng chú mà cả dân tộc Việt Nam đang hưởng một cuộc sống hạnh phúc sang trọng hơn ông bà cha mẹ của chú khi xưa đó chớ. Mặt thế này, ai mà chối cái đạo nhơn luân còn thua loài thú dữ ở trong rừng kia vậy.
Trưa 29-12 Nhâm Thìn (2012), Thọ và bảy Sang vào chúc xuân và gởi cho gia đình của ông Phan văn Sơn một quyển đôi liễn: Ngọc Hư Cung, bảy Sang xin phép đi công việc rồi quay trở lại sau. Phan Cương con trai út của ông được vợ báo thức, từ trong phòng ngũ đi ra không cần hỏi ai ngồi xuống ghế bàn tiếp khách. Cương quan sát quyển Đôi Liễn Ngọc Hư Cung cỡ giấy A4 để trên bàn mà bảy Sang vừa gởi tặng cho bà bạn đời của ông Sơn, trước kia Đức Phi Phàm định cho bà lo “vận lương”.
Đôi liễn Ngọc Hư Cung là Chơn Đạo III, 300 trang, mặt bìa ngoài in hình màu hai Đấng: Đức Hộ Pháp ở trên; Đức Hiến Pháp ở dưới đúng với câu:
“Hậu – Đức Tắc – Cư thiên địa cảnh”
Phan Cương khảo sát bên trong, đến trang 166 thuộc phần Chơn Đạo IV Đôi liễn Bát Quái Đài, có chèn hình màu (9/12) ông Du văn Siêu được Đức Hiến Pháp cho biết căn là Chuẩn Đề Bồ Tát. Lật tiếp trang 217 thuộc phần Chơn Đạo V là Đôi liễn Quốc Đạo Nam Phong chèn hình màu (9/12) ông Phan văn Sơn xuất hiện sở hành Phổ Hiền Bồ Tát nhập thế thi hành chơn pháp. Út Cương lật nhanh đến trang cuối cùng rồi hỏi ba Thọ:
- Quyển nầy anh lưu hành nội bộ hay phổ biến ra ngoài?
- Cái bản chất của Chơn đạo là phổ biến khách quan, nói thật; làm thật; chỉ cho thấy sự chơn thật chớ không cho thấy ảo ảnh, những cám dỗ mê tín dị đoan; mượn danh đạo tạo danh mình là một điều đệ nhứt tối kỵ của tinh thần Chơn đạo.
Phan Cương đề nghị:
- Theo tôi anh nên lưu hành nội bộ, rồi hợp mặt anh em cùng nhau góp ý xây dựng, đi từ bước một, tôi thấy hiện nay chưa đến lúc phải ra mặt như vậy.
Hoàng Thọ khen:
- Phải chi năm 2007 Cương góp ý với ba của chú như thế nầy, biết đâu ông chưa trút hơi thở cuối cùng năm 2009 tại bệnh viện T/P. HCM vì chơn pháp chưa thành, vào đêm hôm ấy không có một người thân bên cạnh, đến khi phát hiện thì ông đã bỏ xác tự lâu rồi. Bởi sứ mạng làm xong mới nghĩ an, ông đã thắng tứ diệu đề khổ bỏ hẳn sau lưng cái bàn chông oan nghiệt của kiếp cuối cùng nầy.
Họ không phải là người trên thuyền bát nhã cũng không phải là người của cung Hạo Nhiên Pháp Thiên, thế thì họ biết gì mà hội ý ? Họ là những kẻ dục loạn nghịch sư phản bạn từ năm 1998 cho đến nay, mượn danh đạo tạo danh mình, thà theo thầy bụng rỗng óc no; còn hơn theo họ bụng no óc rỗng.
Phan Cương dứt khoát:
- Nếu anh muốn phổ biến hình của ba tôi ra bên ngoài thì trước nhứt anh phải hỏi ý kiến của gia đình tôi, trong khi gia đình chúng tôi không đồng ý thì việc của anh tự ý làm là sai.
- Nếu Đức Chuẩn Đề không giao viện Đại Học Đạo Tâm cho ông ba Sơn thì chắc chắn chúng ta không gặp nhau gần 20 năm nay, và nếu Đức Chuẩn Đề không định ông ba Sơn để làm phương tiện hữu hình cho đường lối chơn pháp thì anh cũng không đến đây để chứng kiến cái cảnh ông ngồi trên bàn chông nghiệt chướng đệ nhứt khổ trên thế gian này..
- Như vậy anh tiếc rẻ lắm chớ gì?
- Anh không hề ân hận, anh rất tự hào và hạnh phúc hưởng được một kho tàng bửu pháp cái trí thức tinh thần vô giá, mà thế gian không hề có đặng, 20 năm đào luyện của anh quả thật xứng đáng hiếm có một người đặng gặp! Hiện nay không có một ai là người của Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên, kể cả gia đình của chú. Năm 1998, Đức Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đã tuyên ngôn để làm bằng chứng trong quyển Phổ Tế Tổng Pháp Tông: “Thân Công Báo thuộc gốc Hạo Nhiên Pháp Thiên nên trả về gốc”. Ông cũng thường nói, ông chỉ có quyền dạy chứ không có quyền gì định cho ai, chỉ có Đức Phi Phàm Chuẩn Đề Bồ Tát mới có quyền đó. Vậy với tư cách là người của cung Hạo Nhiên Pháp Thiên anh có quyền phổ biến và truyền bá đức tin thờ các đấng thiêng liêng xuống thế mang xác phàm, không ai được quyền ngăn cản.
- Nếu anh nói vậy thì tôi không nhận quyển nầy, anh đem ra khỏi nơi đây.
- Nơi đây là nơi nào? Nay Cương đã đủ lông đủ cánh rồi, một đảng viên cộng sản Việt Nam mà còn chối vị cha già kính yêu của mình thì đừng nói chi 4 đấng tàu hủ; tương chao. Nếu chú sợ ảnh hưởng trên con đường công danh của chú thì hãy dẹp ngay 4 ông vô vi dấu ở tầng trên ra khỏi cái nhà nầy đi, đừng mượn danh đạo tạo danh mình bằng vật chất nữa. Chú hãy cẩn thận giới khẩu làm thinh , nhớ kỷ 19 điều những đảng viên không nên “nói và làm” mới là người khôn. Cương nói thật đi, cái nhà nầy do đâu mà có? Nó có được là do tình yêu thương vô tận của nhơn sanh hiệp một, kể cả sự nghiệp của chú hiện nay, phải chăng do 10 cây vàng xương máu của nhơn sanh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chú trên con đường học vấn đó chớ.
Thọ nhắc đến đây, mẹ của Cương ngồi khóc; miếu máo nói:
- Chuyện đã qua rồi nhắc lại làm chi, lỡ có ai nghe được người ta cười xấu hổ lắm.
Phan Cương đau lòng trách Thọ:
- Anh thấy hôn, nhắc làm chi cho mẹ khóc!
Hoàng Thọ giận nói to:
- Những giọt nước mắt để đổi lấy tiền tài vật chất của mợ đã gián tiếp làm cho gần cả trăm người phải xa thầy bỏ đạo, tại sao 20 năm về trước mợ không khóc giùm tôi? Cũng vì 10 cây vàng mà sáu Đông (Cẩm giang) nói với tôi rằng “tao để ba Sơn trên thớt chặt làm hai khúc; còn mầy chặt làm ba khúc”. Lúc ấy mợ được vàng mê mắt cần biết chi ai sống chết mặc bây! Nay nhắc lại mợ thấy xấu hổ à? Nay lầu cao cửa rộng; ruộng đất; xế hộp; vật chất đủ đầy…cũng được tiếng đại gia cả họ. Đúng ra mợ nên hãnh diện và tự hào vì sao mình có nhiều người thương mới phải chứ? Ngược lại mợ sợ xấu muốn dấu nhẹm cái đại nghĩa của nợ đồng sanh, chẳng hóa ra bất nhân bất nghĩa hay sao?
Út Cương trách ba Thọ:
- Anh nóng giận quá, nói nhỏ lại thôi.
- Thiên lý chi nộ là anh! Gốc Hạo Nhiên Pháp Thiên cũng chính anh. Anh rất tiếc đã 20 năm rồi mà cả nhà chú vẫn còn theo người chớ không theo đạo, theo tiền tài vật chất chớ không biết gì về nhơn nghĩa Nho phong. Nếu nói rằng, bằng những lời lẽ ru ngũ chưa chắc ai tài tình mưu lượt như anh, ở giai đoạn thể pháp thiên đạo (1992-1996) anh đã thắng cái trận trí binh giả ngọt ấy rất tuyệt vời, ai nghe qua cũng sanh mê mẫn: giúp thầy nên đạo; giúp bạn đồng sanh có dịp thi công và đẻ ra 10 cây vàng cho cả nhà chú được nhờ. Đến năm 1998, ba Kiệt và hết thảy anh chị em bảo rằng cha của chú bị thằng Thọ xỏ mũi. Họ khủng bố dọa giải tán cơ sở nếu ba chú còn liên hệ với anh, nên buộc lòng ông phải trả anh về gốc Hạo Nhiên Pháp Thiên từ đó. Ông nói: “bây giờ Thọ buồn anh em, nhưng sau nầy cám ơn anh em”. Nhưng đến Chơn Đạo là giai đoạn chót (2006-2013…) buộc phải diệt giả tùng chơn, tới đây anh sẽ thuật lại cái bàn chông oan nghiệt của Ngài Phổ Hiền cho nhơn sanh nhận xét.
Phan Cương thách thức:
- Anh rêu rao đi, tôi không có sợ đâu!
- Đã 20 năm, đây là lần đầu tiên chú gặp Thân Công Báo rồi, để thay mặt nhơn sanh, là một nhân chứng sống phải “quan pháp bất vị thân” mà Đức Phi Phàm đã buộc vào năm 1996, dám nói và viết lên sự thật một cách công bằng, với Chơn Đạo không thể dấu nhẹm mãi sự chơn thật và chối bỏ sự chơn thật được. Cách nay 20 năm, ba của chú có hứa với nhơn sanh dùng 10 cây vàng lo cho chú học công nghệ thông tin đặng sau nầy giúp đạo, chú đã làm cho ông phải thất hứa với nhơn sanh bởi con cải lời cha; và chú đã bạc nghĩa với tôi rồi. Bởi vì vừa rồi chú nói phải chi ngày hôm qua chú không copy hình của ba chú dán vào trang 217 của quyển đôi liễn Ngọc Hư Cung. Thế thì kể từ nay sự kỳ vọng của ba chú không thành sự thật, cả nhà chú ráng tu thân; tề gia để hưởng âm chất hết cuối đời còn lại của một kiếp người.
Phan Sĩ tự dấn thân vào trận trí binh, ngồi xuống ghế đối diện với Hoàng Thọ, nói:
- Anh biết ông Tư giao cho ba làm gì không?
- Anh quên cả rồi!
- Ông tư giao cho ba, thực hiện đôi liễn ngoài cung Hạo Nhiên Pháp Thiên: “Chơn giáo Cao Đài cứu khổ vạn linh quy Đại Đạo, Pháp khai Ngươn Thượng nguyên nhân tỉnh ngộ hiệp đồng tâm”.
Hoàng Thọ vấn nạn:
- Ông tư và ông ba chỉ là con kỵ vật của cung HNPT mà thôi, chú phải nói như vầy:
1- Đức Chuẩn Đề Bồ Tát giao cho Đức Phổ Hiền Bồ Tát thực hiện đôi liễn ngoài.
2- Chú biết “Chơn giáo Cao Đài” là gì không? Nếu không biết thì đừng mộng tưởng “cứu khổ vạn linh quy Đại Đạo”, mình cứu mình còn chưa xong còn đi cứu ai?
Anh là Thân Công Báo được Đức Phi Phàm Chuẩn Đề đưa qua giúp cho cung Thừa Thiên Hành Hóa (1992-1996), màn một hoàn thành sứ mạng về phần Nhơn đạo.
- Và nếu không biết “Pháp khai Ngươn Thượng” thì đừng trông mong ở đó quỳ gối đọc bài trù; lạy dập đầu bể trán tự vận cho chết chờ “nguyên nhân tỉnh ngộ hiệp đồng tâm”.
Đến màn hai thuộc phần Thiên đạo (1998-2006), nếu cung Thể Thiên Hành Hóa không nhờ họ Thân và Thanh Công thì nền Đại Đạo Tam Kỳ, Đức Di Lạc chưa đến khai Hội Long Hoa nơi Bạch Ngọc Kinh thiêng liêng (13-4-2005), thì chắc chắn tới đây Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát chủ tông đường lớn thứ ba của Ngọc Hư Cung không bao giờ dám đến chủ tọa mở Long Hoa Đại Hội tại Bạch Ngọc Kinh hữu hình Đền Thánh Tây Ninh.
Út Cương xua tay ra dấu biểu Phan Sĩ rút lui. Lúc ấy bảy Sang bước vào cũng là lúc mặt trận trí thức tinh thần vừa kết thúc.
Quả thật Đức Lý đã báo trước: “Trong trận Trí binh nầy, nếu không đủ tài tình oai võng thì chẳng hề thắng đặng”.