Đạo Cao Đài – Tuần Cửu – Tiểu Đại Tường Tựa KINH THIÊN-ĐẠO & THẾ-ĐẠO Từ khi mở Đạo, Chí-Tôn duy giáng cơ truyền cho Phật-Giáo, Minh-Sư, Minh-Đường, Minh-Lý dạy dâng kinh cho Đại-Đao Tam-Kỳ Phổ-Độ, song kinh Tận-Độ vong linh chưa hề giáng cơ cho nơi nào tất cả.
Đức Quyền Giáo-Tông (khi còn tại thế) và Đức Hộ-Pháp, trót mười năm trường, nghĩa là từ ngày mở Đạo, đã nhiều phen dâng sớ cho Đại Từ-Phụ và các Đấng Thiêng-Liêng đặng xin kinh Tận-Độ, nhưng mà Chí-Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vẫn chưa định ban ân cho toàn sanh chúng.
Mãi đến ngày 23 tháng 7 tới mùng 4 tháng 8 năm Ất-Hợi (DL, 21 đến 31 - 8 - 1935) mới giáng cho Tân-Kinh. Ấy là một giọt nước Cam-Lộ của Đức Từ-Bi rưới chan đặng gội-nhuần cho các đẳng linh-hồn của toàn Thế-Giới.
Chúng ta thầm xét thì đủ hiểu rằng: Đã trải qua mười năm Chí-Tôn mới mở cơ tận độ. Cơ tận độ nhơn sanh duy kể từ ngày ban Tân-Kinh nầy mà thôi.
Thương thay cho những kẻ vô phần chịu phận thiệt thòi qui liễu trước ngày Tân-Kinh chuyển Pháp. Ấy cũng là quả kiếp của nhơn sanh do Thiên-Thơ tiền định. Nếu chúng ta thương tưởng thì duy có một phương độ-rỗi là trì tụng Di-Lặc Chơn-Kinh hầu các đẳng linh-hồn đặng siêu-thăng Tịnh-độ.
Ấy vậy, bổn kinh nầy nguyên của chư Phật, chư Tiên đã giáng-cơ truyền thế trong kỳ Trung-Ngươn Ất-Hợi.
Khi tụng phải thành tâm và phải để nơi tinh khiết.
Hội-Thánh kính cáo
Sau khi an táng, Tang gia đếm đủ 9 ngày làm lễ cúng, gọi là Nhứt Cửu (Phật Giáo 7 ngày là lễ cùng gọi là làm Thất).
Theo Đạo Cao Đài, cứ đếm tới đủ 9 ngày làm lễ cúng gọi là Nhị Cửu … cứ tiếp Nhị rồi Tam, Tứ, Ngũ, Lục, Thất, Bát, Cửu gọi là Chung Cửu (tức là hết Cửu). Ngưng – Đếm đủ 200 ngày thì làm lễ cúng gọi là Tiểu Tường – Ngưng - Đếm đủ 300 ngày thì làm lễ cúng gọi là Đại Tường – Thì xả tang – Đến ngày mất, thì làm lễ giỗ.
Phụng Tánh
(Giọng Nam-Xuân)
Đã quá chín tầng Trời đến vị,
Thần đặng an, Tinh, Khí cũng an.
Tầng Trời gắng bước lên thang,
Trông mây nhìn lại cảnh nhàn buổi xưa.
Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi.
Quên trần-ai mong mỏi Động-Đào.
Ngó chi khổ-hải sóng xao,
Đoạn tình yểm dục đặng vào cõi thiên.
Giọt lụy của Cửu-huyền dầu đổ,
Chớ đau lòng thuận nợ trầm-luân.
Nắm cây huệ-kiếm gươm thần,
Dứt tan sự thế nợ trần từ đây. (1)
THƯỜNG-CƯ NAM-HẢI QUAN-ÂM NHƯ-LAI
* * * * * *
Kinh Đệ Nhứt Cửu(Giọng Nam-xuân)
Vườn Ngạn-Uyển sanh hoa đã héo,
Khối hình-hài đã chịu rã tan.
Bảy dây oan-nghiệt hết ràng,
Bợn trần rửa sạch muôn ngàn đau thương.
Kìa Thiên-cảnh con đường vòi-vọi,
Ánh Hồng-Quân đương chói Ngọc-Lầu.
Cung Thiềm gắng bước cho mau,
Thoát ba Thần phẩm đứng đầu Tam-Thiên.
Khá tỉnh thức tiền-duyên nhớ lại,
Đoạn cho rồi oan-trái buổi sanh.
Đem mình nương bóng Chí-Linh,
Định tâm chí Thánh mới gìn ngôi xưa.
Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh,
Phách anh-linh ắt phải anh-linh.
Quản bao thập ác lục hình,
Giải thi thoát khổ diệt hình đoạn căn.
Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
NHỨT-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG
KINH ĐỆ NHỊ CỬU
(Giọng Nam-Xuân)
Tây-Vương-Mẫu vườn Đào ướm chín,
Chén trường-sanh có lịnh ngự ban.
Tiệc hồng đã dọn sẵn-sàng,
Chơn-Thần khá đến hội hàng chư-linh.
Đã thấy đủ Thiên-đình huyền pháp,
Cổi giác thân lên đạp Ngân-Kiều.
Đẩu-Tinh chiếu thấu Nguyên-Tiêu,
Kim-Quang kiệu đỡ đến triều Ngọc-Hư.
Khí trong trẻo dường như băng tuyết,
Thần im-đìm dường nét thiều-quang.
Xa chừng thế-giái Địa-hoàn,
Cõi Thiên đẹp thấy nhẹ-nhàng cao thăng.
Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
NHỊ-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG
KINH ĐỆ TAM CỬU
(Giọng Nam-Xuân)
Cõi Thanh-Thiên lên miền Bồng-Đảo,
Động Thiên-Thai bảy lão đón đường.
Cam-Lồ rưới giọt nhành dương,
Thất tình lục-dục như dường tiêu-tan.
Cung Đẩu-Tốt (1) nhặt khoan tiếng nhạc,
Đệ lịnh bài cánh hạc đưa linh.
Tiêu thiều lấp tiếng dục-tình,
Bờ dương bóng phụng đưa mình nâng thân.
Cung Như-Ý Lão-Quân tiếp khách,
Hội Thánh-minh giao sách Trường-xuân.
Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn,
Chơn hồn khoái-lạc lên đàng vọng Thiên.
Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
TAM-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG
KINH ĐỆ TỨ CỬU
(Giọng Nam-Xuân)
Sắc huỳnh chiếu roi vàng đường hạc,
Cõi Huỳnh-Thiên nhẹ thoát chơn Tiên.
Năm Rồng đỡ nổi đầu thuyền,
Vào cung Tuyệt-khổ kiến Huyền-Thiên-Quân.
Trừ quái khí roi thần chớp-nhoáng,
Bộ Lôi-Công giải tán trược-quang.
Cửa lầu Bát-Quái chun ngang,
Hỏa-Tinh Tam-muội thiêu tàn oan-gia.
Đạp Thái-Sơn nhảy qua Đẩu-Suất,
Định Kim-Câu đến chực Thiên-môn.
Chơn-thần đã nhập Càn-khôn,
Thâu quyền độ thế bảo-tồn chúng-sanh.
Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
TỨ-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG
KINH ĐỆ NGŨ CỬU
(Giọng Nam-Xuân)
Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,
Cõi Xích-Thiên vội mở ải-quan.
Thiên-Quân diêu động linh-phan,
Cả miền Thánh-vức nhộn-nhàng tiếp nghinh.
Đài Chiếu-giám cảnh minh nhẹ bước,
Xem rõ-ràng tội phước căn sinh.
Lần vào cung Ngọc diệt hình,
Khai kinh Vô-Tự đặng nhìn quả duyên.
Đắc văn-sách thông Thiên định Địa,
Phép huyền-công trụ nghĩa hóa thân.
Kỵ kim-quang kiến Lão-Quân,
Dựa xe Như-Ý oai thần tiễn thăng.
Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
NGŨ-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG
KINH ĐỆ LỤC CỬU
(Giọng Nam-Xuân)
Bạch-Y-Quan mở đàng rước khách,
Cõi Kim-Thiên nhẹ tách Tiên xa.
Vào cung Vạn-Pháp xem qua,
Cho tường cựu nghiệp mấy tòa thiên-nhiên.
Cung Lập-khuyết tìm duyên định ngự,
Lãnh Kim-sa đặng dự Như-Lai.
Minh-Vương Khổng-Tước cao bay,
Đem chơn-thần đến tận đài Huệ-Hương.
Mùi ngào ngọt thơm luôn Thánh-thể,
Trừ tiêu tàn ô-uế sinh-quang.
Thiên thiều trổi tiếng nhặt khoan,
Đưa linh thẳng đến Niết-Bàn mới thôi.
Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
LỤC-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG
KINH ĐỆ THẤT CỬU
(Giọng Nam-Xuân)
Nhẹ phơi-phới dồi-dào không-khí,
Hạo-Nhiên-Thiên đã chí môn-quan.
Đẹp xinh cảnh vật đòi ngàn,
Hào-quang chiếu diệu khai đàng thăng Thiên.
Cung Chưởng-Pháp xây quyền Tạo-hóa,
Kiến Chuẩn-Đề thạch-xá giải thi.
Dà-Lam dẫn nẻo Tây-Qui,
Kim chung mở lối kịp kỳ kỵ sen.
Động Phổ-Hiền Thần Tiên hội hiệp,
Dở Kim-Cô đưa tiếp linh-quang.
Im-lìm kìa cõi Niết-Bàn,
Lôi-Âm trống thúc lên đàng thượng Thiên.
Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
THẤT-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG
KINH ĐỆ BÁT CỬU
(Giọng Nam-Xuân)
Hơi Tiên-tửu nực-nồng thơm ngọt,
Phi Tưởng-Thiên để gót tới nơi.
Mùi trần khi đã xa khơi,
Say sưa bầu khí bồi-hồi chung phong.
Cung Tận-Thức thần-thông biến hóa,
Phổ-Đà-Sơn giải quả Từ-Hàng.
Cỡi Kim-Hẩu đến Tịch-San,
Đẩu-vân nương phép Niết-Bàn đến xem.
Cung Diệt-Bửu ngọc rèm đã xủ,
Nghiệp hữu-hình tượng đủ vô-vi.
Hồ Tiên vội rót tức thì,
Nước Cam-Lồ rửa ai bi kiếp người.
Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
BÁT-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG
KINH ĐỆ CỬU CỬU
(Giọng Nam-Xuân)
Vùng thoại-khí bát hồn vận-chuyển,
Tạo-Hóa-Thiên sanh biến vô cùng.
Hội Bàn-Đào Diêu-Trì-Cung,
Phục sinh đào hạnh rượu hồng thưởng ban.
Cung Bắc-Đẩu xem căn quả số,
Học triều-nghi vào ở Linh-Tiêu.
Ngọc-Hư-Cung, sắc lịnh kêu,
Thưởng, phong, trừng trị, phân điều đọa thăng.
CỬU-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG
Nơi Kim-Bồn vàn-vàn nguơn chất,
Tạo hình-hài các bậc nguyên nhân.
Cung Trí-Giác, trụ tinh thần,
Huờn hư mầu-nhiệm thoát trần đăng Tiên.
Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
DIÊU-TRÌ KIM-MẪU
* * * * *
Kinh Tiểu-Tường (200 ngày) (1)(Giọng Nam-Xuân)
Tịnh niệm phép Nhiên-Đăng tưởng tín,
Hư-Vô-Thiên đến thính Phật-điều.
Ngọc-Hư đại hội ngự triều,
Thiều quang nhị bá Thiên-Kiều để chơn.
Bồ-Đề-Dạ dẫn hồn thượng tấn,
Cực-Lạc-Quan đẹp phận Tây-Qui.
Vào Lôi-Âm, kiến A-Di,
Bộ Công Di-Lặc Tam-Kỳ độ sanh.
Ao Thất-Bửu gội mình sạch tục,
Ngôi liên-đài quả phúc Dà-Lam.
Vạn-Linh trổi tiếng mầng thầm,
Thiên-thơ Phật tạo độ phàm giải căn.
Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
DIÊU-TRÌ KIM-MẪU
1) Nghĩa là khi làm tuần cửu cửu rồi, đếm đủ 200 ngày thì làm Tiểu-Tường
* * * * *
Kinh Đại Tường (300 ngày) (2)(Giọng Nam-Xuân)
Hỗn-Nguơn-Thiên dưới quyền Giáo-chủ,
Di-Lặc đương thâu thủ phổ duyên.
Tái sanh sửa đổi chơn-truyền,
Khai cơ tận độ cửu-tuyền diệt vong.
Hội Long-Hoa tuyển phong Phật vị,
Cõi Tây-phang đuổi quỉ trừ ma.
Giáng linh Hộ-Pháp Di-Đà,
Chuyển cây Ma-Xử đuổi tà trục tinh.
Thâu các Đạo hữu-hình làm một,
Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên.
Tạo Đời cải dữ ra hiền,
Bảo-sanh nắm giữ diệu huyền CHÍ-TÔN.
Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
THÍCH-CA MÂU-NI VĂN-PHẬT
(1) Nghĩa là khi làm Tiểu-Tường rồi, đếm đủ 300 ngày thì làm Đại-Tường.
Nghe đọc Kinh
http://www.youtube.com/watch?v=bAr2Arv2Fu0
Xem Video chuyển thể các bài kinh
http://www.youtube.com/watch?v=Yp8AsctIRy4
Phụng Thánh