▪ BỐC BANH CHẤM PHÁI
    (Trích trong quyển Đôi Liễn: Ngọc Hư Cung)

    “Mùa lúa năm 1984, anh em tập trung nhổ mạ chuẩn bị cấy. Trong giờ nghĩ trưa, Thanh Sử hướng dẫn Chơn Pháp cho anh em biết để lập ngôn, anh cảnh báo trước, tới đây coi chừng Đức Chuẩn Đề thi.
    Trưa hôm ấy làm xong rủ nhau về Cung, quây quần vào ghế bàn tròn đang ăn hủ tiếu vui vẻ. Đức Chuẩn Đề nhìn thẳng Đái Lễ (Nguyễn văn Luân) nói:
    - Giờ ông hỏi con nghe, trong ba phái con thích phái nào?
Thanh Sử nhìn Đái Lễ, rồi đạp bàn chân anh ta khuất dưới bàn tròn nhằm ý báo hiệu, ông Tư thi đó !
    Đái Lễ trả lời:
    - Dạ thưa, ông cho con phái nào cũng được.
    Chuẩn Đề nói:
    - Cho thì được rồi, vậy ông hỏi làm chi. Giờ ông muốn hỏi, ý con muốn phái nào?
    Anh ta ngập ngừng:
    - Dạ thưa ông, thiêng liêng cho phái nào cũng được.
    Đức Chuẩn Đề tiếp:
    - Thiêng liêng thì ông biết rồi…
    Ông ngưng một hồi, làm cho bầu không khí thêm căng thẳng hồi hợp, ai cũng lo âu, sợ ông chuyển đề thi sang mình. Rồi ông nói tiếp:
    - Hồi đó Tôn Sư (Đức Hiến Pháp) cũng hỏi ông như vậy, ông thì thích Phái Thượng nên Ông trả lời: dạ thưa ông con thích phái Thượng. rồi ông chịu liền.
    Bây giờ ông hỏi con, riêng con thích phái nào?
    Đái Lễ trả lời ngay:
    - Dạ thưa ông, con thích Phái Thượng.
    Đức Chuẩn Đề và anh chị em cười rộ lên, làm Đái Lễ mắc cỡ thẹn thuồn, trong khi Dương Hiển đã báo trước và đạp bàn chân ra hiệu… mà còn tránh không khỏi”.
    2/- Anh em Cao Đài Hải Ngoại, có một câu chuyện kể trên mạng với tựa đề "HAI VIÊN SỎI "như vầy:
    “Ngày xưa, có một người nông dân nghèo khó, không có tiền trả món nợ lớn cho lão già xấu nết. Người nông dân có cô con gái xinh đẹp mà lão chủ nợ lâu nay ngắm nghé. Lão quyết định mặc cả với người nông dân. Lão hứa sẽ xóa hết nợ nần cho người nông dân nếu chịu gả con gái cho lão. Đề nghị của lão đã làm cho hai cha con lo lắng sợ hãi. Thấy vậy, lão già đề nghị một giải pháp dễ nghe hơn: Lão sẽ bỏ hai viên sỏi, một trắng, một đen vào trong một cái túi. Và cô gái sẽ bốc một trong hai viên sỏi từ cái túi được cột kín, không thể nhìn thấy bên trong được. Nếu cô gái bốc được viên sỏi đen, cô gái sẽ làm vợ lão già xấu xí đó và nợ nần cha cô sẽ được tha. Nếu cô bốc được viên sỏi trắng, cô không phải lấy gã và nợ nần cũng được xóa hết. Nếu cô từ chối, cha cô sẽ bị nhốt vào tù. Sau thời gian suy nghĩ, cô gái đã chấp nhận. Khi lão già lượm hai viên sỏi bỏ vào cái túi, cô gái nhìn rất kỹ và cô phát hiện ra lão già quỷ quyệt đã bỏ vào túi hai viên sỏi đen. Cô gái im lặng không nói gì cả. Kế tiếp, gã đề nghị cô thọc tay vào cái túi để bốc một trong hai viên sỏi. Trước khi bốc, cô gái đã nhìn xuống đất và thấy còn lại vô số viên sỏi đen mà lão già vừa lượm bỏ vào túi. Thế rồi, cô chậm rãi thọc tay vào túi bốc ra một viên sỏi và giả vờ sơ sẩy làm rơi viên sỏi xuống nằm lẫn lộn với các viên sỏi dưới đất.
    - " Trời! Tôi quá vụng về! " - cô gái nói.
    - " Nhưng không sao, còn lại một viên sỏi trong túi , tôi có thể nhặt nốt. Ai cũng thấy tôi nhặt viên sỏi đầu tiên rồi. Vậy, bây giờ, nếu tôi bốc viên sỏi còn lại màu đen, thì viên sỏi tôi đã vô tình đánh rơi là màu trắng, phải không ạ?"
    Lão chủ nợ không thể nhận lỗi gian dối, lừa đảo của mình nên cô gái đã thắng cuộc.
    Đó là do cô gái có cơ hội nhìn thấy được sự gian xảo của lão già khi bốc cả hai viên sỏi đen bỏ vào trong túi”.
    ▪ Chơn Khí Đức Lý vận hành trong bí pháp chơn truyền.
    Trong thời buổi khoa học hiện nay, mà “Hội Thánh Đạo Cao Đài ĐĐTKPĐ do Đức Chí Tôn sáng lập, chính Hộ Pháp giáng trần cầm Bí Pháp”. Thế mà đoàn hậu tấn sau nầy lại dùng 3 trái banh vàng, xanh, đỏ cao su vật chất vô hồn viết tử kia để bốc banh chấm phái cho Chức Sắc Lễ Sanh (Thiên Thần), chuẩn bị bước vào Hội Thánh anh, buộc vị Giáo Hữu (địa Thánh bốc banh) phải lào thông Chơn Đạo, trước tiên là dạy bạn.
    “Giả cuộc đừng coi trọng hệ, cả thảy nên hiểu và từ đây noi theo lẽ thiệt, đừng mơ sự giả, đó là điều mơ vọng ước ao của Hộ Pháp hơn hết”.
    Tại sao Đức Lý phải chấm phái? Để định cái năng lực trí thức tinh thần; sở năng sở kiến, vừa sức, đúng ý của mỗi người cho phù hợp trên bước đường tu tiến, tự mình định phận, định vị lấy mình. Thương yêu và công bằng của Đức Lý Đại Tiên kiêm Giáo Tông Đại Đạo chưởng quản Hội Thánh Cửu Trùng Đài là đó vậy.
    Quả thật, việc bốc banh của Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh sau khi Đạo Lịnh giải thể 01-1979 đến nay, tự họ gián tiếp công bố cho toàn thể nhơn sanh cả đạo lẫn đời biết rõ rằng không có bàn tay của Đức Lý trong ấy. Bởi Đức Lý là sự sáng là sự nhận thức chơn thật của tinh thần nhơn loại, Ngài là một nhân chứng sống của sự sáng; là sự sáng thật. Vậy môn đệ Cao Đài tìm Đức Lý nơi đâu:
    “Sự chơn thật của Chí Tôn bao giờ cũng tồn tại sự chơn là một năng lực tinh thần, không tinh thần nào đối chọi đặng. Ngày giờ nào Thánh Thể của Đức Chí Tôn biết bảo trọng sự chơn thật cho toàn đạo, thì không có năng lực nào thắng nổi quyền hành thánh thể của Ngài đặng”.
    - Phật: Trong năng lực của Đức Hộ Pháp tức chơn khí Cửu Trùng Đài của Ngài (1926-1959). Đức Lý tiếc lộ với Đức Hộ Pháp “Lão ở trong thân hiền hữu; hiền hữu ở trong thân của Lão”. Còn Hộ Pháp xác nhận trong thuyết đạo “Bần đạo nhân danh Đức Lý Giáo Tông” chủ quyền Đạo Thể Pháp Hiệp Thiên.
    - Pháp: Năm 1956 khi Đức Hộ Pháp ra thánh lịnh 65 ủy quyền cho Đức Trương Hiến pháp tại Campuchia năm 1956, điều hành đạo sự tại Tòa Thánh Tây Ninh thì lúc ấy chơn khí của Đức Hiến Pháp là Đức Lý chưởng quản Hội Thánh Cửu trùng Đài (1956-1976) thuộc Bí Pháp Hiệp Thiên.
    - Tăng: Đức Lý đến với bí pháp Hiệp Thiên là Tăng (1956-1976), nhưng sau khi Đức Lý giải thể xuất ngoại Đức Hiến Pháp, rồi đến hiệp một với Phật Chuẩn Đề phát tiết chơn khí năm 1969-2003. Vậy chơn khí của Cung Phật Hạo Nhiên Pháp Thiên Chuẩn Đề Bồ Tát là Đức Phi Phàm Chuẩn Đề Lý Giáo Tông, chưởng quản Bí Pháp Hạo Nhiên Pháp Thiên thuộc Chơn Pháp Thế Đạo tức Tăng của Thế Đạo. Nhưng lại là Phật của Thiên Đạo.
    - Pháp: Phổ Hiền Bồ Tát làm tướng diện căn bản của Bí Pháp Hạo Nhiên Pháp Thiên, đi ra từ Bát quái đài cầm Chơn pháp tối cao nơi Ngọc Hư cung xuống thế khai tịch Đạo Tâm, phát tiết chơn khí Đức Lý giúp cho Hội Thánh Cửu Trùng Đài Di Lạc Giáo Tông ra thiệt tướng, thuộc Chơn Pháp Hạo Nhiên (1986-2009), Hạo Nhiên Pháp là Ngài.
    ♦ Đến giai đoạn nầy Chơn Pháp Hạo Nhiên từ ngoài chuyển vào trong có tương liên với Hội Đồng Chưởng Quản Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh cùng gốc Bí Pháp Hiệp Thiên Đức hiến Pháp (1964-1976):
    - Tăng:
    1- Từ Tăng (CTĐ: 1992-1996) tùng Pháp (HTĐ: 1996-2001) qui Phật (BQĐ: 1998-2006). “Trả về vì gốc ở Hạo Nhiên Pháp Thiên, nên trả về gốc”. Đức Chuẩn Đề định căn: Thân Công Báo. Thuộc Cung Tăng Hạo Nhiên Pháp Thiên tại thế (CTĐ: 2006 -2013…):
    - Hạo Nhiên Phật: Bát quái đài chơn linh Hộ Pháp, gốc Phật Chuẩn Đề (1969-2003)
    - Hạo Nhiên Pháp: Hiệp thiên đài chơn thần Hiến Pháp, gốc Pháp Phổ Hiền Bồ Tát (1983-2009).
    - Hạo Nhiên Tăng: Cửu Trùng đài chơn khí Đức Lý, gốc Tăng tùng Pháp quy Phật (1992-2013).
    2- Thanh Công: Từ Phật (BQĐ: 1984-1985-1986) qua Pháp (HTĐ: 1986-2004) ra Tăng tại thế (CTĐ: 2004-2013…), Đức Chuẩn Đề định căn: Ngô Long.
    Lưu ý: hể nói Phật là Bát Quái đài, Pháp là Hiệp Thiên đài, Tăng tức Cửu Trùng đài.
Năm 2008 Thanh Sử ra thông tri triệu tập “Thất Quái Mai Sơn”, Thanh Công kiến nghị với Thanh Sử bổ sung thêm lời cảnh báo của Đức Lý, nếu không ghi tôi không ký tên, ông đồng ý : “Đến ngày giờ nhơn sanh thấy điều trọng yếu ấy buộc hiệp thì phải hiệp, bằng không chịu hiệp thì tự họ đào thảy lấy họ”. Thanh Sử xác nhận: “Ngày hôm nay mới có Đức Lý”.
    ▪ Tăng của Hội Đồng Chưởng Quản
    Đàn cơ năm 1973 của Đức Trương Hiến Pháp chấp bút “về phần em Tám để Lão dùng sau”. Nhưng chẳng bao lâu Đức Hiến Pháp quy thiên (1976), vậy nhân chứng sống của sự sáng là ai? Nếu không có chơn truyền thành ra mê tín; tự tôn tự xưng sao?
    1/- Đức Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa quyền Chưởng quản Hiệp Thiên Đài đang điều hành đạo sự (1976-1981) Nhị Hữu Hình Đài. Với tư cách chủ quyền đạo được chơn truyền, ký đạo lịnh 01-1979 giải thể tịch đạo Thanh hương để thay cũ đổi mới chuyển sang tịch Đạo Tâm, chuyển giả ra chơn giúp cho Cửu Trùng đài hiện tướng, chơn khí Đức Lý là Ngài. Cầm quyền Hội Trưởng HĐCQ Đầu Sư chánh vị là người của Hiệp Thiên Đài mà phẩm vị ở bên Cửu Trùng Đài thuộc Tăng.
    2/- Ngày chính thức ông Thượng Tám Thanh làm Hội Trưởng Hội Đồng Chưởng Quản Tôn Giáo, cũng là lúc chơn khí Đức Lý từ Ngài Bảo Đạo Hội Trưởng HĐCQ kế thừa cho Ngài Thượng Tám Thanh theo Thánh ý của Đức Hiến Pháp qua đàn cơ 1973 đến trấn thủ Cửu Trùng đài.
    Đức Lý Đại Tiên kiêm Giáo Tông Cao Đài Đại Đạo cầm thiên thơ cho Khổng giáo, xuống thế chuyển tinh thần nhơn loại sang Thượng Ngươn Tứ Chuyển.
 “Vâng lịnh Ngọc Hư nay xuống thế
Tam Kỳ độ rổi ức nguyên nhân”

    Thích Ca Đại Đàn – O giờ tin mừng, đêm mùng 7-4 Nhâm Thìn (2012), Hạo Nhiên Tăng thuộc Dương từ ngoài chuyển vào trong, tương liên và hiệp một với Tăng Cửu Trùng Đài Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh thuộc Âm, thi hành NHƠN NGHĨA trước Đền Thánh Bạch Ngọc kinh tại thế, lấy tinh thần nhơn sanh làm căn bản.
    Chơn khí Đức Lý là ý muốn nói lên tinh thần của một bậc Thánh hiền: trung can; nghĩa khí, nói thật và làm thật, Quan Thánh Đế Quân được biểu hiện tánh đức của Ngài. Đức Lý là một vị đại diện dẫn độ cho toàn thể 92 ức (9.200.000) nguyên nhân xuống thế mang xác phàm đang ẩn mình, họ hiện là những đấng Thánh đang cầm quyền trị thế trên mặt địa cầu nầy.
    Đến đây chúng ta biết hành tàng của Đức Lý là lẽ nào rồi, khẳn định ánh sáng từ khối lửa tạo lần nên vũ trụ chính là Ngài. Ngàn tuổi muôn tên mà thế gian từng áp đặt cho Ngài, đây là một lần đầu tiên duy nhứt Hội Đồng Chưởng Quản Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh mượn danh nghĩa Ngài, họ buộc Ngài phải bốc banh chấm phái chọn hạng Thiên Thần (Lễ Sanh), đối thủ với trí thức tinh thần của nhơn loại trong thời buổi khoa học văn minh hiện đại nầy, liệu có xứng phận không? thật hổ thẹn cho đoàn hậu tấn mê muội làm trò cười tiêu khiển cho thiên hạ xa lần chánh đạo. Còn gì cái phẩm giá trung dũng kiên cường của dân tộc Việt 4000 năm Văn Hiến với 5 châu.
 “Cười khan mà khóc bởi thương bây
Chẳng mất một con nghiệt cả bầy
Tiếc phận già không chờ chống gậy
Nương theo con dạy mới ra vầy”.
    Đức Hộ Pháp cảnh cáo:
    - “các con có lỗi với Thầy, Thầy vì lòng từ bi mà tha thứ. Lỡ động tới oai linh chư     Thần, Thánh, Tiên, Phật các Đấng ấy không hề biết tha thứ bao giờ”.
    - “coi chừng đụng vào các vị Bồ Tát cũng như đụng đầu vào xe lửa, khó tu lắm !”.
    Đức Hiến Pháp cho biết:
    - “ai đụng tới mình họ tiêu ra tro bụi”.
    Đức Phi Phàm Chuẩn Đề chỉnh lại cho nhẹ hơn:
    - “ai đụng tới mình thì họ rụi”.
    Thật vậy, Đức Hộ Pháp đã báo trước:
“Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ,
Giữa biển ai từng gặp lão Tô.
Mượn thế đặng toan phương giác thế,
Cũng như nương viết của chàng Hồ”.
    Nhơn sanh không tin rồi sanh tự mãn nhưng “ai dè như dè Cu Đinh” trước mắt, ý của Đức Hộ Pháp mắng: cu đinh là cu đui đó. “Dòng họ tiếc” đang trố mắt nhìn Đại Phong Thần xuất hiện dựng bảng Phong Thánh Kỳ Ba, trước Đền Thánh dưới Tịnh Tâm Đài với đề thi NHƠN NGHĨA đêm mùng 7-4 Nhâm Thìn (2012) Thích Ca Đại Đàn – O  giờ tin mừng.
    Qua đàn cơ năm 1973 do Đức Hiến Pháp Trương Hữu Đức chánh vị Chưởng quản Hiệp Thiên Đài chấp bút: “về phần em Tám để Lão dùng sau”. Thể theo Thánh ý của Đức Hộ Pháp “Đạo Cao-Đài không cần dùng mê-tín dị-đoan là do sự tín-ngưỡng đặng mạnh-mẽ của nó. Chúng ta không cần trái ngược lụng lại, đem hết triết-lý chơn-thật để tại thế nầy mà thôi. Bởi vì dối trá dầu cho Đạo hay Đời, trường dối trá ấy đã làm cho cơ thể Tạo-Đoan nghiên-ngửa. Chúng ta không cần xu hướng, theo cái dối-trá thường tình nữa, chúng ta phải tiêu-diệt cái dối-trá ấy”.
    Thế thì từ đàn cơ cho biết “về phần em Tám để lão dùng sau”, vậy thử hỏi “Lão Đức Lý Cơ Bút” năm 1973 ấy thế gian không có một người đặng gặp, chừng nào Ngài mới dùng ông Tám? Mà dùng vào việc gì mới phải? Nhơn sanh có thấy tận mắt không? Nếu không chỉ cho thấy chơn tướng hằng sống thì không phải là tôn giáo nữa. Người có thể làm cho thiên-hạ mê-tín dị-đoan được là Đức Hộ Pháp mà Đức Ngài không làm, bởi vì Ngài coi sự làm ấy là hèn tiện và vô đạo-đức, chỉ lấy một triết-lý chơn-thật của Đức Chí-Tôn để giáo đạo cho con-cái của Ngài mà thôi.
    Vậy Đức Lý ẩn trong Tam Bửu của Đức Hiến Pháp Trương hữu Đức như thế nào?
    - Chơn linh: Hộ Pháp (Đức Hộ Pháp BQĐ ra Thánh Lịnh 65 ủy quyền cho Đức Hiến Pháp năm 1956 tại Campuchia, điều hành đạo sự tại Tòa Thánh Tây Ninh).
    - Chơn thần: Hiến Pháp (Chưởng quản chánh vị Hiệp Thiên Đài năm 1973)
    - Chơn khí: Đức Lý Đại Tiên kiêm Giáo Tông Đại Đạo Cửu trùng Đài 1973.
    + Người: Trương Hữu Đức.
    ▪ Tam Bửu hiệp nhứt: là Hiến pháp Quan Âm.
    Năm 1973 là thời gian tối quan trọng của Đức Hiến Pháp vừa lo đạo sự đối nội thể pháp và đối ngoại Bí Pháp Hạo Nhiên Pháp Thiên gốc bởi Hiệp Thiên Đài. Do vậy Hiến Pháp Quan Âm chơn linh của Ngài là thời gian, mới chia nửa quyền Hội Thánh Cửu Trùng Đài cho Chức sắc Đại Thiên Phong vận hành cơ đạo cho đến ngày giờ… ông Thượng Tám Thanh làm chưởng quản.
    Đã đến ngày giờ nhơn sanh thấy điều trọng yếu “bốc banh chấm phái” là giả tướng không còn phù hợp với tri thức khoa học tư duy sở năng sở kiến của nhân loại hiện nay, đừng làm trò cười cho các tôn giáo và làm cho tinh-thần loài người điên-đảo, một trường ngôn-luận xù-xì đã kiếm thế hèn tiện của thiên-hạ đang tính tạo thành một phản-động-lực đặng làm mất giá-trị của nền chơn-giáo Đức Chí-Tôn. Toàn thể nhơn sanh buộc Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh hủy bỏ “bốc banh chấm phái” vô tri vô giác kia. Được vậy Ngài mới tự thân phát tiết hết cái năng lực vô đối thủ của Đức Lý đã tìm ẩn bấy lâu trong tinh thần còn thúc phược nơi Ngài. Vậy chơn khí là gì? Là sự nhận thức từ não bộ nói và làm thật của Ngài. Thế thì lợi và hại hai đường chơn giả đã quá rõ, do nơi Ngài tự định phận; định vị cho Ngài vậy.
    “Ngôi vị Thầy đã dành sẵn cho mỗi đứa, trừ khi đứa nào chê bỏ Thầy mới dành cho kẻ khác”. Quyền lực Đức Lý là chơn khí của Ngài Trương Hiến pháp chánh vị chưởng quản Hiệp Thiên Đài đã dành cho ông Thượng Tám Thanh từ năm 1973 mà ông chê bỏ sự chơn thật lại ôm ấp bày ra dùng cái giả “bốc banh chấm phái” làm cho rẻ rúng nền chánh giáo. Coi chừng Đức Lý lấy lại giao cho kẻ khác thì ông sẽ bị nhơn sanh đào thảy mà chớ!
    Xin phép hỏi ông Đầu Sư Thượng Tám Thanh, trưa ngày 27-10-1998 (al: 8-9 Mậu Dần) người xé tờ lưu niệm của ông AMOR đặc sứ LHQ có phải: 1- Nguyễn Thành Tám?, 2- Đầu Sư?, 3- chơn khí Đức Lý?, 4- tinh thần đại nghĩa 4000 năm Văn Hiến của toàn dân tộc Việt Nam? Trong 4 phần, ông chọn phần nào cho phải lẽ? Cả thảy 4 phải hiệp làm 1 vậy. Lúc ấy “em Tám” bày ra việc bốc banh có xin ý kiến của “Đức lý” chưa? Chắc chắn là không.
▪ TINH THẦN ĐẠI NGHĨA.
HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN TÔN GIÁO TIẾP PHÁI ĐOÀN LHQ (AMOR).
    Cuộc viếng thăm của phái đoàn Liên Hiệp Quốc do ông AMOR Trưởng đoàn đến viếng thăm Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh vào lúc 10 giờ 30’ ngày 27-10-1998 (al. 8-9 Mậu Dần.
    Ông Đặc Sứ AMOR Trưởng Đoàn và 2 tùy viên thông dịch, 2 tháp tùng người Hà Nội.
    Qua phần giới thiệu của nữ thông dịch, là Ông AMOR Trưởng Đoàn do Liên Hiệp Quốc cử đến Việt Nam, để khảo cứu và tìm hiểu về Tôn Giáo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh.
    Ông Nguyễn Thành Tám giới thiệu về phía HĐCQ tiếp đoàn gồm có các vị như đã nêu trên là cấp lãnh đạo được chính phủ nhìn nhận. Ông AMOR hỏi ngày khai Đạo của Cao Đài, tự do tôn giáo Việt Nam trong đó có Cao Đài ra sao? Và những tinh thần bất đồng chánh kiến tôn giáo như thế nào…?
    Ngài Phó Hội Trưởng. Thường Trực. giáo sư. Nguyễn Thành Tám trả lời rất khéo. Tuy Ông AMOR không hài lòng nhưng ông phải thầm khen ngợi một Phó Hội Trưởng, Lãnh đạo tinh thần Tôn Giáo Đạo Cao Đài khôn ngoan, sáng suốt, ôn hòa, mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam Đạo Đời tương đắc, ông trả lời rất khéo và không có kẻ hở nào cho đối phương vấn nạn.
    “Sau khi Đoàn viếng thăm Tòa Thánh trong vòng 15 phút cũng viết sổ lưu niệm tại Tịnh Tâm Đài Đền Thánh, ông AMOR ghi sổ lưu niệm bằng tiếng (Anh, Pháp) với nội dung:
 “Yêu cầu trả lại quyền Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh”.
     “Khi về tới văn phòng HĐCQ ông GS. Tám được nghe người dịch lại y như nội dung đã nêu trên, nên GS. Tám liền sai Lễ sanh Ngọc Vệ Thanh (tài xế) đến Đền Thánh để xé tờ mà ông AMOR đã ghi sổ lưu niệm, nhưng ban trật tự nơi đây không cho xé, vì không có lịnh bằng chứng từ, LS. Vệ về báo cáo ông GS. Tám, ông vội vàng đến Đền Thánh, chính tay GS. Tám xé tờ đó đi…
     ● Đoàn lên xe rời khỏi Tổ Đình Tòa Thánh vào lúc 11 giờ 45 phút cùng ngày”.
     Chúng ta phải hãnh diện và tự hào có một vị đại diện lãnh đạo tinh thần Tôn Giáo như thế! Ông đã biểu hiện được một tinh thần tự chủ quyết đoán, khôn ngoan sáng suốt, vững tâm, bền chí nhẫn nại. xứng là một tín đồ trung kiên trong hàng Thánh Thể của Đức Chí Tôn.
     Cao Đài, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chính Đức Chí Tôn sáng lập, do Hộ Pháp giáng trần cầm Bí Pháp. Với Chơn Pháp, thì Thể Pháp và Bí Pháp trong tay Đức Hộ Pháp.
Đức Hộ Pháp cho biết: Trong phạm Công Tắc có hai phần, Phạm Công Tắc là con kỵ vật còn Hộ Pháp là người cỡi. Phạm Công Tắc là tôi còn Hộ Pháp là ông chủ, không lẽ con vật không tuân mạng lịnh của chủ nó sao !
     Phạm Công Tắc đã chết, Hộ Pháp nào chết. Chẳng lẽ một người cầm giềng mối Đạo chết, thì diệt tiêu nền Đạo sao? Phải có Chơn Truyền chớ “Còn một mặt Tín Đồ Hội Thánh vẫn giữ bản quyền Hội Thánh”. Hộ Pháp là quyền năng của Đức Chí Tôn, để đúng với Pháp Chánh Truyền “Hiệp Thiên Đài còn thì Đạo còn”. Hộ Pháp Hằng Sống thì Hiệp Thiên Đài vẫn hằng hữu, nhơn loại không tuyệt ắt Hiệp Thiên Đài không tuyệt. Cho nên Chủ Quyền của Đạo vẫn còn trong tay của Hội Thánh Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh (Đàn cơ năm 1973 do Trương Hiến Pháp Chưởng Quản HTĐ chấp bút). Thế thì Chủ Quyền Đạo Hội Thánh Cửu Trùng Đài được Chơn Truyền cho Ngài GS. Thượng Tám Thanh rồi. Tuy lúc đó ông là PHT nhưng về mặt tinh thần duy chỉ có một mình ông được Chơn Truyền mà thôi. Đó là Bí Pháp của Thể Pháp Cửu Trùng Đài gọi là Hội Đồng Chưởng quản Tôn Giáo (1973…cho đến nay); còn Bí Pháp của Thể Pháp Hiệp Thiên Đài là Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên (1964..). Chỉ có khác danh xưng nhưng hình trạng vẫn là một.
    Nhơn sanh không biết Bí Pháp Chơn Truyền của Đạo rồi bảo rằng:
    1- Đạo Cao Đài mất chủ quyền ! Ô hay, chủ quyền Đạo trong tay Bát Quái Đài đang nắm chặt. Thử hỏi, thế gian biết Bát Quái Đài ở đâu mà lấy ? Không biết BQĐ thì đừng nói đến HTĐ? Kỳ nầy Ngọc Hư Cung Bát Quái Đài giao cho Cửu Trùng Đài cầm vận mạng nhơn sanh.
Đức Phi Phàm Chuẩn Đề cho biết:
     - Đức Hộ Pháp giáng linh tại Hạo Nhiên Pháp Thiên.
- Mặt thế nầy chưa biết ai cao ai thấp, phải vào Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên rồi mới biết.
 “Cung Chưởng Pháp xây quyền Tạo Hóa”.
     Kỳ nầy chính Đức Chí Tôn đến cầm quyền Chưởng Pháp. Hơn nữa Pháp Chánh Truyền đã cảnh báo: “Chưởng Pháp cũng là Giáo Tông mà còn trọng hệ hơn, vì là người thay Hộ Pháp nơi Cửu Trùng Đài”.
Mong rằng nhơn sanh kiếm hiểu, hãy an lòng “Tâm nhàn thì Pháp khởi”.
     2- Không biết, nên có hại là vậy ! Trong Kinh QUR’AN trang 928. câu 157 có đoạn: “ Thế, hãy mang kinh sách của các ngươi đến chứng minh sự thật, nếu các người nói đúng”.
     Cũng trang 228. câu 77 rất chơn thật:
     - “ Hởi người dân của kinh sách ! Chớ tỏ ra phi lý và thái quá trong tôn giáo của các người, không đúng với sự thật, cũng chớ nghe theo đám người lạc đạo trước đây, bởi vì chúng đã dắt nhiều người đi lạc và tự chúng đã lạc khỏi con đường bằng phẳng (của Islâm).
     Học Đạo cầu minh, đọc kinh cầu lý. Đạt Pháp là đạt ý, không biết ý thì nói và làm sai là vậy. Rồi đổ lỗi cho người khác, thậm chí đổ lỗi do trời, trời nào khiến mình làm bậy? tại không biết nên có hại là vậy. Phải học mới biết, biết rồi làm mới đúng.
     3- Ý họ bảo, chính quyền nước CHXHCN Việt Nam lấy chủ quyền Đạo Cao Đài, mà lấy để làm gì ? Trong khi Đạo Cao Đài là một tôn giáo của nước Việt Nam, tín đồ Cao Đài là công dân nước Việt Nam. Đạo trao Đời, Đời giồi Đạo. Nền Quốc Đạo 4000 năm văn hiến của dân tộc Việt Nam mang đậm cái bản chất đại nghĩa anh hùng.
“ Văn Hiến 4000 năm có sẵn,
Chi cần dị chủng đến dâng công”.
     Thế nào là Văn Hiến ? Thử hỏi Văn Hiến của các nước phương tây có không ?
     Nền Văn Hiến của Quốc Đạo Việt Nam ta là :
     - Văn là Văn Minh, tức nói lên quyền hạn, thông sáng về tinh thần đạo đức.
     - Hiến là Hiến Pháp.
     . Hiến: bằng tinh thần tự trị, tự nguyện, ban cho, thích thì dùng chớ không buộc ai theo…
     . Pháp: thuộc Nhu Hiến Pháp. Pháp trước luật sau, cái đặc sắc của dân tộc Việt Nam trên tinh thần tự trị, tự chủ và tự quyết vượt bao khó khăn…đi đến thống nhất hiệp quần mà lập quốc đã 4000 năm. Đó là cái Pháp tinh thần không có gì quý hơn độc lập tự do của dân tộc Việt Nam, tự biết, tự định vị mình. Thế thì cái hình trạng của sự biến hóa trong tinh thần Nhu Hiến Pháp cũng là Can Hiến Pháp, trong Nhu có Can, trong Can có Nhu là vậy. Cho nên Văn Hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam thi hành Pháp luật, Pháp định trước cho luật, rồi luật thi hành theo Pháp, hoặc biết luật thi hành đúng Pháp…Vì vậy, Pháp Luật hay luật Pháp của Nước Việt Nam nó có sự tương liên và hiệp một trong tinh thần Văn Hiến 4000 năm của một dân tộc kiên cường. Chớ không, như Pháp lệnh của những chính phủ đương thời trên thế giới buộc thiên hạ phải theo mình, ai không theo thì phạm luật pháp.
      Đặc biệt hơn các nước trên thế giới. Hiến Pháp của Tổ Quốc Việt Nam, của truyền thống Việt Nam gọi chung là bản sắc dân tộc, do con người Việt Nam tự nguyện, tự giác đã có từ ngàn xưa tổ tiên lưu lại…Dầu cho đất nước và con người Việt Nam đã trãi qua hằng bao thế kỷ, nếu có thay đổi về mặt Thể tướng, nhưng cái Chân tướng bản sắc dân tộc vẫn mãi trường tồn bất di bất dịch không hề thay đổi, bất kỳ một chủ nghĩa nào, một chế độ nào trong nước Việt Nam cũng đều lấy Văn Hiến 4000 năm làm căn bản, bởi họ là con người Việt Nam, đó là Đạo Nhơn luân: Trung, Hiếu, Nghĩa.
     Cái Đặc sắc của con người Việt Nam dù ở đâu, đi đâu, dù có tha phương tận chân trời góc bể nào, nhưng cái bản chất bất diệt của họ cũng vẫn là một con người đại Nghĩa.
     Chúng tôi muốn nói rõ lên cái khí tiết cội nguồn bản sắc dân tộc của người Việt Nam, cái Văn Hiến phong phú và sâu sắc tự trị của dân tộc Việt Nam được kết tinh từ “cái đơn nhất” tiến đến cái riêng rồi tự nó thống nhất thành “cái chung nhất”. Dám chắc trên thế giới chưa nước nào có được một nền Văn Hiến trong tinh thần Quốc Đạo như Nước Việt Nam. Đạo Cao Đài cũng từ Chánh lý đó mà thành tựu, rồi đây Pháp Chánh Quốc Đạo Nam Phong của Nước Việt Nam sẽ bắt cầu Trung, Hiếu, Nghĩa cho các nước trên toàn thế giới đồ theo mà giữ nước và dựng nước.
     ● Cho nên, cái hành tàng bất khuất kiên cường, tự chủ, tự quyết và tự trị ấy, dám xé toạc tờ lưu niệm mà Ngài AMOR đã ký nhận sau chuyến công du sang thăm Việt Nam, có dịp viếng Đền Thánh Tây Ninh tìm hiểu về tự do tôn giáo của Đạo Cao Đài, Ngài AMOR thay mặt Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, ký vào sổ lưu niệm:
 “YÊU CẦU TRẢ LẠI QUYỀN HỘI THÁNH CAO ĐÀI TÒA THÁNH TÂY NINH”.
     - Người xé tờ toạc lưu niệm ấy không phải là ông PHT.GS. Nguyễn Thành Tám, mà là cái tinh thần tự chủ quyết đoán đó của Đức Lý, của toàn thể dân tộc Việt Nam, của tất cả môn đồ Đạo Cao Đài, tự nó tự định phận, tự định vị lấy nó.
     - Như đã nêu trên… Chủ Quyền Đạo của Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, ai lấy đâu mà trả? Mất hồi nào mà phục quyền Hội Thánh? Của quý không bán nài vẫn còn đây, coi chừng người ta xúi bậy rồi ông nghe theo…sau nầy rõ ra, người thẹn thuồn mắc cỡ phải là ông ! mong Hội Đồng LHQ rút kinh nghiệm đừng để những sự việc như thế sẽ xảy ra lần thứ hai, cũng đừng để bao kỳ vọng của Đức Hộ Pháp Giáo Chủ Đạo Cao Đài đối với cơ quan Hiệp Chúng Quốc từ khi mở Đạo :
     - “ Biết đâu Cơ Quan hòa bình cứu thế của Liên Hiệp Quốc, sau nầy sẽ giúp cho Chơn Pháp của Đạo Cao Đài ra thiệt tướng ! ”.
     Kính chào ông ! chúc sức khẻo tốt lành.
     ▪ Thúc nhặt lại cái tinh thần trung can nghĩa khí, dám nói, dám làm, nói thật, làm thật, chỉ cho thấy sự chơn thật ấy là chơn khí của Đức Lý Thái Bạch, chớ không phải của Nguyễn Thành Tám; ông Tám là con kỵ vật cũng như muôn ngàn cái xác khác, quý hay chăng là cái khí tiết hùng dũng và cương quyết của Đức Lý, vâng lịnh Ngọc Hư cung xuống thế độ dẫn 92 ức nguyên nhân quy hồi cựu vị.
     Riêng Ngài Thượng Tám Thanh có đủ quyền năng vô đối xử dụng sự chơn thật của Đức Lý từ đàn cơ 1973 đó chớ!, tức ông có quyền chấm phái theo sở năng, sở kiến của chức sắc Cửu Trùng đài thọ phẩm Lễ Sanh. Đó là ngôi vị, là sứ mạng mà Thầy đã dành sẵn trừ khi ông chê bỏ sự chơn thật, thì Đức Ngài mới dành cho kẻ khác. Ngày giờ nầy Đức Lý vẫn còn cầm quyền trọng hệ nơi Ngọc Hư cung, thử hỏi hiện nay (2013) “Lão Đức Lý” dùng “em Tám” để chấm phái đó, đố có mấy ai không khẩu phục? Tâm phục? Nếu thiên hạ khẩu phục Đức Lý thì lẽ đương nhiên nhơn sanh phải kính trọng ông (Tám) rồi. mà hể nhơn sanh kính trọng Đức Lý thì dĩ nhiên họ trọng Ngọc Hư Cung, mà có Kính Ngọc Hư cung mới tin tưởng Đạo Cao Đài.
     Trái lại, ông chê cái thật, lấy cái giả bốc banh chấm phái để xài, quả vậy gậy ông đập lưng ông; cái giả đó nó sẽ phản phúc lại cái giả hình của ông. Trước khi bốc banh, nhơn sanh họ cầu xin mấy trái “banh Đức Lý” vành, xanh, đỏ chớ họ đâu có cần ông! Nhưng khi xác nhận huấn lịnh Phái: “Thái, Thượng, Ngọc” lại là Ngài Đầu Sư Thượng Tám Thanh, đúng ra ông phải xác nhận vàng, xanh, đỏ chớ? Còn quyền năng vô đối của Đức Lý là chấm phái Thái, Thượng, Ngọc kia mà! Cớ tại sao ông dám xác soán quyền Đức Lý? Bởi chơn khí của ông là Đức Lý: “về phần em Tám để Lão dùng sau”. Ông tự xét thấy có cái trắc trở nhơn tình hay không? Thay vì, nếu ông biết ý của Đức Lý thì 3 trái banh vô hồn viết tử kia không có chểnh chệ oai nghiêm trước mắt nhơn sanh, vi chủ cái thực thể phàm phu tục tử làm trò tiêu khiển cho đạo lẫn đời bấy lâu. Nói có chứng hết thảy, thiệt còn giả mất là do nơi Ngài Đầu Sư. “Ấy vậy mấy em phải rán sức, định tâm lấy tinh thần vi chủ nêu gương cho mấy em sau nầy đi theo. Nếu khối phàm còn trong óc mấy em thì không bao giờ đoạt mục đích tối cao, tối trọng được, phải có khối óc thiêng liêng mới mong thay hình thể Chí Tôn đối với con cái ngài là quần linh”.
     Từ Đêm mùng 7-4 Nhâm Thìn (2012) Vía Đại Đàn Đức Phật Thích Ca, thi hành Nhơn Nghĩa Trước Đền Thánh, mãi về sau này nên thì ông nhờ, hư ông phải chịu thất phận trước nhơn sanh đừng đỗ lỗi cho Đức Lý nữa. “kẻ nào đã lãnh phận sự mà để thất phận, buộc Đức Chí Tôn phải đến, kẻ ấy phải chịu một hình phạt mà từ trước tới nay không có một đấng chơn hồn nào không ghê sợ”. Cầu Xin Đức lý ban sự sáng tốt lành cho Ngài!
Tây Ninh, ngày 29-12 Nhâm Thìn (2012)
- Đồ Phi -



Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả