Phong Thần tái diễn kỳ ba
HƯNG CHÂU PHẠT TRỤ

*****
CHƠN NGÔN

     Nếu quý vị đã một lần xem truyện Phong Thần của Trung Quốc, chắc hẳn đã thấy rõ một triều đại suy tàn dưới thời Trụ Vương Ân Thọ, một vì vua bất minh bất chánh ham mê tửu sắc, nghe lời sàm tấu của nịnh thần giết hại tôi trung, lấy cực hình làm trò vui như chế Bào Lạc, chặc chơn người xem mỡ, mổ bụng xem thai, lập tửu trì nhục lâm…thật không còn một triều đại nào bạo ngược hơn nữa.
Phong thần là một sự kiện tất nhiên để chấm dứt một triều đại sa đọa, một giai đoạn suy tàn đồng thời khai sáng một thế hệ mới đạo đức hơn, một tương lai sáng lạng của một nhà Châu hưng thịnh, cải tiến trên diện tinh thần.
    1- NHÀ CHÂU THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC TRUNG HOA
    Theo sử Trung Hoa thì ý thức thống nhất đất nước Trung Hoa bắt đầu từ nhà Châu. Trước nhà Châu, nhà Thương chỉ là một xã hội bộ lạc, thời kỳ bộ lạc ấy là thời kỳ quá độ, trong đó các chư hầu là những bộ lạc nhỏ, qui thuận một bộ lạc lớn. Khả năng kinh tế phát triển, nước Trung Hoa cần có sự thống nhất chính quyền trung ương để tạo một nền kinh tế quốc gia vững mạnh, có một luật lệ chung để bảo vệ sự phát triển ấy.
    Trụ Vương dâm bạo, yếu đuối, bê tha, không quân bình nổi mọi mâu thuẫn đương thời, nên trong nước sanh ra loạn lạc, các chư hầu không phục và phá vỡ chế độ bộ lạc, để đưa lên một chế độ tập quyền. Nhà Châu đã đi đúng với nhu cầu phát triển của xã hội nên giành được thiên hạ, và tổ chức một chế độ trung ương tập quyền, có nghĩa cả thảy những bộ lạc thống nhất lại làm một gọi là bộ tộc nhà Châu.
     Đáng lẽ nhà Châu lên ngôi là xóa bỏ chế độ tập quyền để tiến lên hiệp quần thành một dân tộc, nhưng công việc có một chế độ thống nhất thành một quốc gia chung không thể một sớm một chiều mà sửa đổi và làm được, cho nên nhà Châu chỉ chấm dứt được chế độ nô lệ, và chế độ bộ tộc vẫn còn phải duy trì trên con đường hóa độ thống nhất dân tộc. Tuy nhiên thời kỳ thành hình tập quyền của nhà Châu vẫn còn trong vòng phôi thai, nên sau 800 năm cai trị, nhà Châu phải sa vào cuộc loạn Xuân Thu chiến quốc, rồi nhà Tần gồm thâu thiên hạ, thống nhất sơn hà dân tộc Trung Hoa một nhà Tần hưng thịnh.
    Chiến tranh là một mâu thuẫn cá thể và cá thể của xã hội loài người. Thường thường nó dùng để phá vỡ một trạng thái thối hóa. Nhưng cuộc chiến nào cũng vậy, do lớp người trí thức cầm đầu nhưng rồi lớp người ấy dễ bị phân hóa và hủ hóa trước nhứt, để rồi lớp người trí thức khác với quan niệm mới mẻ khác lại đứng lên cổ động chiến tranh để đưa xã hội tiến tới một hình thức mới tư duy hơn, trật tự hơn.
    Với ý tưởng nầy chúng ta kiểm điểm lại lịch sử chiến tranh Trung Hoa trải bao nhiêu thời phong kiến, ông vua nầy mất đi thay vào đó một ông vua khác. Với triều đại khác nhìn bên ngoài chúng ta cứ tưởng nó không khác gì nhau cả, chỉ có khác người cầm quyền cai trị mà thôi. Tuy nhiên đi sâu vào địa hạt chính trị chúng ta thấy cả một trạng thái thay đổi thuộc về ý thức của con người, là nguyên nhân của sự phát triển xã hội loài người, giúp cho thế giới vật chất tiến đến chân thiện mỹ, văn minh hơn.
    2- TRỤ VƯƠNG SA BẨY HỒ LY TINH
    Đắc kỷ lừa Trụ Vương, một ông vua mê muội, đem bọn chồn hôi nhập triều giả thần tiên, cho uống rượu say lòi đuôi ra, tác giả Phong Thần viết đoạn nầy quả là một đoạn khôi hài, châm biếm cả vua chúa, thần tiên. Vua chúa thì u mê, thần tiên thì giả tạo. Đó cũng là quan niệm sanh ra trong thời loạn, cái gì cũng giả dối được hết.
    Trụ Vương đắm chìm trong yêu thuật của Đắc Kỷ đến nổi không còn biết gì  mọi vật xung quanh. Thế thì Đắc Kỷ bảo gì Trụ Vương không nghe? Làm vua, là chúa tể một dân tộc, cầm cả quyền sanh sát, nắm cả vận nước, thế mà trở lại làm một công cụ sai khiến cho một người đàn bà độc ác Hồ Ly thì mối nguy hại ấy khó lường.
    Uy quyền mạnh thật, nhưng sắc đẹp lại khống chế cả uy quyền. Xem thế thì chế độ phong kiến truyền tử lưu tôn thật bất công thối nát, bắt mọi người phải kính trọng một kẻ hèn hạ, không đáng kính. Tuy nhiên, thời nào cũng vậy. Hể làm phải thì việc lợi tìm đến, làm sai thì việc dữ phát sinh. Kẻ đã mê muội như vua Trụ còn biết gì là lợi. Là một minh quân sử dụng quyền uy để trị an thiên hạ, đem lại thái bình cho muôn dân; trái lại một hôn quân chỉ lo vui sướng bản thân mình, giả nhân giả nghĩa, thượng đội hạ đạp, dùng uy quyền làm hại muôn người, gây lắm đau thương loạn lạc.
    Người xưa thường nói:
    - “Thời suy quỷ lộng”. Quỷ chỉ lộng hành trong lúc thất thời thôi, còn thời đang thịnh quỷ cũng phải tránh xa. Đắc Kỷ thuộc hàng yêu nghiệt đến báo Trụ Vương, nhưng cũng chỉ thừa lúc Trụ Vương suy mới báo được.
    Với quan niệm nầy, nói về “Thời” không nhứt thiết thành hay bại, mà là sự hiểu biết, trí sáng suốt của con người, nắm bắt đúng lúc, hội đủ điều kiện thuận lợi gọi là thuận thời; nếu ngược lại là thất thời. Còn “quỷ” không phải là yêu ma vô hình tướng, mà chính là cái tối tâm, cái hành động dục vọng quỷ quái quá độ của con người. Như vậy con người sáng suốt biết thương người thì không có tánh quỷ; còn những kẻ ám muội, hung tàn, bạo ngược, xấu xa, tìm phương hại người như vua Trụ tức thành “quỷ “ rồi đó vậy.
    Trụ Vương đam mê tửu sắc, không phải Đắc Kỷ báo, mà chính con quỷ dâm dục trong tâm trí của Trụ Vương đã báo hại Trụ Vương. Nếu ông ta tỉnh táo thì dù cho cả hang động Đắc Kỷ hồ ly cũng phải bất lực trước con người sáng suốt khôn ngoan.
    Tác giả Phong Thần đã dựa trên quan niệm “thời vận và quỷ mị”, đưa Đắc Kỷ vào cốt truyện để làm nổi bật vai trò ác phụ của một “Mỹ nhân kế”, một con quỷ dữ thầm lặng chui rúc sống trong ngôi mộ hoang hôi thối hèn hạ trong xã hội, có thể làm sụp đổ một triều đại hùng mạnh trăm năm gầy dựng của nhà Thương phải suy tàn. Hay nói cụ thể hơn, cái xấu xa, bại hoại, thú hình, quỷ tánh đều ở trong người của Trụ Vương mà ra cả.
    Phải tu thân, rồi trị quốc, mới bình thiên hạ. Gia đình là nền móng của quốc gia, kẻ không trị nổi gia đình thì đừng mong gì trị quốc được. Trụ Vương đắm mê tửu sắc, cái cơ mất nước đã thấy trước mắt, nhưng điều hại trước tiên là khuynh đảo gia đình. “Con mọt” chị em Đắc Kỷ Hồ Ly và hai tên siêu nịnh Vưu Hồn; Bí Trọng, kể cả bọn mã tà Ma Gia Tứ Tướng chằng tinh gấu ngựa; quái vật mai sơn: rắn, rít, chó, heo, vượn, dê, trâu nằm sình mài sừng âm thầm đục khoét đến mục nát cái đầu thối tha của vua Trụ, rồi đến gia đình, kế tiếp là quốc gia, còn gì nhơn nghĩa đức hạnh, chiêu an 800 trấn chư hầu đem binh sát phạt.
    Trụ Vương say mê Đắc kỷ và nghe lời sàm tấu giết hại tôi trung của hai tên nịnh thần Vưu – Bí, làm cho nhà Thương phải tiêu vong là chuyện có thật trong lịch sử Tàu. Trụ Vương vốn bản chất độc ác, nên nghe đến việc ác hại người để làm trò tiêu khiển thì thích thú làm theo. Đắc Kỷ đã lợi dụng sắc đẹp, quỷ kế tà tâm, khôn khéo tác động trúng ngay yếu điểm thú hình dâm dục quá độ của Trụ Vương làm cho ông ta không còn lý trí, mê mẫn đâm đầu lao vào hỏa ngục. Đó là cái bản lĩnh đặc biệt của Đắc Kỷ và hai tên siêu nịnh ma hồn, quỷ xác Vưu Hồn – Bí Trọng mà chúng ta phải dè chừng!
    Có lẽ truyện Phong Thần ảnh hưởng mạnh trong thời nhà Minh, lúc mà các giáo đạo du nhập vào nước Tàu quá nhiều, nhân dân lại bị các thuyết thần giáo chi phối.
    Cứ như Phong thần thì tác giả có khuynh hướng chống lại tà đạo, nên chia làm hai phe rõ rệt. Tất cả những gì thuộc về ngoại đạo thì cho là tả đạo, tức là tà giáo. Và tà giáo bao giờ cũng bị chính giáo khinh bỉ, cô lập và tiêu diệt.
3. CẢNH BÁO: PHONG THẦN TÁI DIỄN
Ngoài ra Phong Thần cũng do Thiên Thơ tiền định. Sự kiện được chứng minh qua đoạn văn mô tả lúc Đức Khương Thượng về Côn Lôn Sơn lãnh lịnh lập bảng Phong Thần, hoặc trong hai đoạn văn thuật lại cuộc đối thoại giữa Đức Ngươn Thỉ với Thông Thiên Giáo Chủ trong trận Tru Tiên và lời của Hồng Quân lão Tổ trong trận Vạn Tiên.
Mục tiêu của Phong Thần còn được thể hiện rõ rệt hơn nữa qua bản sắc phong của Đức Ngươn Thỉ mà Đức Khương Thượng đã đọc trong ngày Phong Thần.
Về phương diện xuất xứ, mặc dù đến ngày hôm nay lịch sử vẫn chưa tìm biết một cách đích xác chuyện Phong Thần từ nguyên thỉ của nó. Nhưng về mặt tinh thần có người cho rằng chuyện hoàn toàn có thật, lại có thuyết cho rằng tác giả là một người tu tiên biết được cơ bí mật huyền vi của tạo hóa lúc bấy giờ, vì cũng để tiên tri cho thời buổi hôm nay. Hay nói rõ Phong Thần Trung Hoa là một án văn tuyệt tác của tác giả, nhằm để nêu lên một giải pháp thu phục nhân tâm trên mặt trận đấu trí của một khối đông người chí sĩ anh hào tuấn kiệt hội đủ những điều kiện thuận lợi về mặt đạo đức tinh thần. Họ muốn thống nhất đất nước Trung Hoa thời bấy giờ, nhưng trước tiên phải chiến thắng và thu phục tất cả các giáo hệ lại làm một trong tay của họ, cho nên họ mượn cốt truyện Phong Thần bằng chiến tranh đấu trí trên mặt trận trí thức để làm phương tiện vạch ra một chân lý sống giữa hai tinh thần xiển - Triệt của thời nhà Thương hưng Châu phạt Trụ, để xóa bỏ một triều đại sa đọa suy tàn thay đổi một chế độ an bình thống nhất muôn dân của thời Trung Hoa cổ và áp dụng cho cả thời buổi khoa học hiện đại đang xảy ra hằng ngày trên thế giới.
Tuy nhiên chúng ta cùng nhìn một đấng cha chung là Cao Đài Ngọc Đế. Do đó lúc bấy giờ là một chuyện có thật và bằng chứng đã quả quyết qua hai bày thi sau đây, mà Đức Chí Tôn đã tiền định trong năm Bính Dần:
“Tang thương biến đổi cuộc hầu gần,
Bắc Hải rồi sau lại hóa sân.
Thanh thế con người toan cải ác,
Tùng theo nhơn cách để Phong Thần”.
………………………………………
“Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ,
Giữa biển ai từng gặp Lão Tô.
Mượn thế đặng toan phương giác thế,
Cũng như nương viết của chàng Hồ”.
Và để chứng minh phần nào thời buổi hôm nay là tấn tuồng Phong Thần diễn lại như lời của Đức Giáo chủ Hộ Pháp đã nói: “Chúng ta nên ghi nhớ và kiếm hiểu”.
Vậy tôi xin lược thuật lại những đoạn chính yếu trong cốt chuyện và đồng thời trích lục ra những lời giáo huấn của các bậc tiền bối ngõ hầu giúp quí vị đối chiếu được ít nhiều với thời cuộc hiện tại.
Lời của Đức Hiến Pháp trong lúc giáo hóa lớp Bí pháp Hiệp Thiên Đài năm 1964:
- “Các Đấng Thiêng Liêng phá trận Phong Thần hồi trước kỳ này xuống thế mang xác Phàm. Vì Đức Chí Tôn xuống thì họ cũng xuống hết bỏ Bạch Ngọc Kinh trống lõng”.
Đức Hộ Pháp cho biết sau ngày mở Thể pháp (1926-1956):
- “Kỳ nầy Đức Chí Tôn để trận Vạn Tiên bí mật trong cửa đạo Cao Đài”.
Còn Đức Chuẩn Đề Bồ Tát Chưởng Quản cung Hạo Nhiên Pháp Thiên tiết lộ với Thân Công Báo vào năm 1996:
- “Trận Vạn Tiên xảy ra ở biển Đông Thái Bình Dương, thế chiến thứ ba kỳ nầy Nguyên Tử Khí phải nổ, nổ đặng cho các chư Thánh phục nguyên Thánh thể trở lại chớ! Mà con biết Nguyên Tử Khí tại mặt thế gian nầy là gì không?”
- Thưa ông, nếu Nguyên Tử Khí nổ thì còn gì sự sống trên mặt địa cầu nầy?
         Ông rầy: “Nguyên Tử Khí thuộc thổ là ba cái tánh chất nhơn đạo của con người là: trung, hiếu, nghĩa. Ba bửu pháp đó hiệp một là vị Thánh sống cứu thế kỳ ba, các Đấng ấy chế ngự võ khí tối tân dành để giết người bằng “trí tài mưu lược” đặng thu phục nhân tâm, chỉ vì biết thương người mà tìm đủ phương cách để bảo tồn sang mạng cho người. Nói đại thế chiến nghe dữ lắm chớ đến màn ba tới đây không có chết ai đâu mà sợ !”.
VÍA ĐỨC THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN
Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo tại Đền Thánh, đêm 14-2 Kỷ Sửu (1949).

Hôm nay là ngày 15 tháng 2 Nhị Ngoạt thập ngũ, là ngày Đức Thái Thượng Lão Quân giáng trần lập nền tôn giáo, cái kiếp sanh của Ngài thế nào thì trót 24 năm đã giảng rõ, nhứt là năm rồi.
Bần Đạo đã giảng cái huyên sanh của Ngài tưởng cả thảy đều thấu hiểu chẳng cần  lập lại chi nữa. Bần Đạo lấy cái tinh ba của Tiên Giáo nhứt là do nơi tay Đức Thái Thượng Giáo Chủ tạo thành bí mật quyền ấy thế nào? Bần Đạo thuyết minh ngày nay mà thôi.
Có bốn ngụyên linh yếu trọng đã giúp Đức Chí Tôn khi Ngài đã đoạt định thành hình, mỗi cái chơn linh giúp Đức Chí Tôn và Phật Mẫu tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ hữu hình.
● Đấng đứng đầu hơn hết là khối THÁI CỰC tức LỬA nổ đùng một tiếng đầu tiên là Đức Thái Thượng Lão Quân đó vậy.
● Khi Thái Cực đã nguội, vật đã xuất hiện Đấng thứ nhì là NƯỚC tức nhiên là Đức Thái Thượng Ngươn Thỉ đó vậy.
● Khi tượng hình đã có KHÍ sanh quang bao trùm Càn Khôn Vũ Trụ đặng biến sanh vạn vật là HỘ PHÁP đó vậy.
● Khi Đất nguội thì trái địa cầu nãy sanh ra ĐẤT là Thông Thiên Giáo Chủ đó vậy.
Bốn Chơn Linh giúp cho Đức Chí Tôn và Phật Mẫu tạo cơ quan hữu hình của Càn Khôn Vũ Trụ nó có tinh ba của nó đặc sắc.
■ Đức Thái Thượng nguyên linh của Ngài tối yếu tối trọng là cái huyền vi bí mật tạo đoan vô đoán của loài vật, muôn vật ở Càn Khôn Vũ Trụ này tức nhiên là nguyên căn sản xuất của vạn linh.
■ Đức Thông Thiên Giáo Chủ, nguyên căn sản xuất hình thù của vạn linh đó vậy.

Một là nguyên linh hai là vật.
- Đức Thái Thượng vốn là nguyên linh tức nhiên là Tinh Thần, nếu chúng ta nói rõ hơn nữa Đức Thái Thượng vốn thiên lương tức nhiên Tâm của đời đã đặt tên.
- Còn Đức Thông Thiên Giáo Chủ là Vật.
Cái thuyết của chúng ta đã ngó thấy đương nhiên, bây giờ các nền tôn giáo cũng thế, cơ quan hữu hình tại mặt địa cầu này cũng thế, có hai quyền năng tương đương với nhau, một là TÂM hai là VẬT.
Một là Người hai là Thú tương đương với nhau, cái thuyết duy tâm và duy vật chẳng phải buổi này mà thôi.
Cơ quan tạo đoan thiêng liêng thế nào mới nãy sanh Càn Khôn Vũ Trụ đã có trong Phong Thần là một áng văn về đạo giáo đã minh tả Đức Thái Thượng, Đức Ngươn Thỉ, Đức Thông Thiên Giáo Chủ trước đã được một đặc ân thọ giáo ngay với Đức Hồng Quân Lão Tổ tức là Đức Chí Tôn đó vậy.
Nếu chúng ta minh đoán ra Đức Chí Tôn có môn đệ đầu tiên hơn hết, những môn đệ đầu tiên là ba vị mà chúng ta ngó thấy trong đạo pháp ở Phong Thần đã nói, có một chỗ bí mật, chúng ta nên suy đoán nhứt là nền Đạo Cao Đài này, khi đã nhập vào trận Vạn Tiên.
Đức Thái Thượng vì giận Đức Thông Thiên Giáo Chủ, Ngài biến ra Tam Bành tức nhiên là hình ảnh của Đức Chí Tôn lập giáo ngày nay trên mặt địa cầu này.
Thái, Thượng, Ngọc tức nhiên Tam Thanh ứng hóa là ba tinh thần duy chủ của nền tôn giáo. Thái, Thượng, Ngọc đương nhiên là thánh thể của Đức Chí Tôn đó vậy.
Tại sao Đức Chí Tôn lấy nguyên căn Tam Bành trong buổi nộ khí của Đức Ngươn Thỉ lập giáo?
Đức Chí Tôn quyết định lấy cơ quan tối đại của Duy Tâm đánh tan Duy Vật, tức nhiên lấy tinh thần đạo giáo diệt tiêu Tả Đạo Bàn Môn.
Vạn Pháp qui tồn sanh chúng sản xuất ấy là cơ quan chuyển thế đó vậy. Quyết đem vào khuôn khổ cơ quan tạo đoan chí linh, Đức Chí Tôn bảo thủ nguyên căn vạn linh còn tồn tại, nhứt là bảo thủ các nhơn loại toàn thể trong càn khôn vũ trụ này.
Ngày hôm nay Đạo Cao Đài biến theo trọng yếu của nó, chúng ta không có tưởng rằng hôm nay là Đức Chí Tôn đã tuyên chiến và quyết thắng cùng Tả Đạo Bàn Môn đó vậy.

4- PHONG THẦN TÁI DIỄN
Phong Thần tái diễn kỳ ba trong cửa đạo Cao Đài đặc biệt hơn Phong Thần Trung Hoa nhà Thương thời Trung cổ cách nay khoảng 3000 năm. Lúc ấy tinh thần của nhơn loại vẫn còn chấp vào thể tướng chứ không chú trọng vào chân tướng, tức không có lý luận tư duy làm căn bản cho một chân lý sống nhân ái hiện hữu, phát triển trường tồn của con người trong thế giới vật chất nầy. Cũng như cuộc trao đổi giữa Thân Công Báo và Khương Thượng  dưới chân núi Kỳ Sơn của thời Phong Thần Trung Hoa:
“Tử Nha trách:
- Sao sư đệ lại nói bừa như vậy? Lẽ nào cải mạng trời?
Thân Công Báo nói:
- Theo tôi thì không phải khí số gì cả. Nói đến số trời chẳng qua là lời gạt gẫm của giáo phái độc tài mượn danh nghĩa thiêng liêng, muốn dùng chiêu bài để tác yêu tác quái trong thế gian này mà thôi.
Tử Nha nói:
- Trong trời đất có luật tuần hoàn, trong mỗi người chúng ta đều có số mệnh, trong thế gian phải có vận khí. Đó là lẽ chánh trong càn khôn. Đệ nói như vậy thì dựa vào đâu mà hành Đạo.
Thân Công Báo vấn nạn:
- Sư huynh còn non nớt lắm, chỉ chết chìm trong giáo điều của các giáo hệ độc tài về tư tưởng. Tôi hỏi anh khí số là gì? Định mệnh là gì? Ai tạo ra những điều ấy? Chẳng lẽ ý muốn của một nhóm người thế lực nào đó tạo ra rồi bảo là vận mạng, khí số sao?
Tử Nha cãi:
- Vận mạng, khí số là quy luật tự nhiên của càn khôn vũ trụ, sự chuyển vận của trời đất, chúng ta làm sao phủ nhận được.

Thân Công Báo luận bằng sự chơn thật:
- Chúng ta có thể tìm hiểu qui luật tự nhiên ấy, và cải biến đi được. Cũng như chúng ta đang tu luyện tức là sửa đổi lại con người của chúng ta.
Tử Nha bí đường:
- Như vậy là sư đệ theo tà đạo rồi.
- Tà đạo hay chính đạo vẫn là đạo, không có cái nào xấu tốt. Nói cho đúng hơn kẻ nào chống lại các giáo hệ độc tài thì họ bị gọi là tà mà thôi! Tôi báo với sư huynh, tôi sẽ xuống giúp Trụ diệt Châu, nếu sư huynh muốn cho tình anh em chúng ta sau này khỏi xích mích thì cùng tôi giúp Trụ.
Tử Nha nói:
- Sư đệ luận sai rồi. Tại sao chúng ta đi phò một hôn quân mà bỏ một chúa thánh?
 Thân Công Báo vững lập trường:
- Vua Trụ là hôn quân, nhưng nhà Thương không phải là những ông vua bạo ngược cả. Cũng như Võ Vương nhân đạo, nhưng các đời vua nối tiếp vẫn còn nhân đạo hay không? Như vậy từ một hôn quân trở thành một thánh chúa, rồi từ một thánh chúa trở thành một hôn quân. Chẳng qua chỉ là một thể tướng chớ không phải là một chân tướng. Chúng ta chạy theo thể tướng mà không hiểu gì đến chân tướng ư ?
Tử Nha bảo thủ:
- Sư đệ có ý như vậy, nhưng tôi không thể trái lời Thầy. Vả lại lúc nào tôi cũng phục tùng thiên mệnh”.
Qua cuộc đối thoại giữa Tử Nha và Thân Công Báo, chúng ta hãy phán đoán một cách chơn thật là lẽ nào? Cái thể tướng không tuyệt đối mà là tương đối, còn chân tướng là thương yêu, có thương yêu mới đem đến công bằng, nếu thế giới vật chất nầy không có luật thương yêu sẽ tự tiêu vong, cho nên Chân tướng là tuyệt đối. Bởi trong cái giả có cái thiệt, trong cái đúng có cái sai… nó là một phạm trù đối lập điều hòa tương tác, phủ định lẫn nhau, để thay cũ đổi mới, nhờ đó mà sự vật ngày càng phát triển và tồn tại theo thời gian trong không gian, cho nên thế giới vật chất là vĩnh hằng tự nó vận động và phát triển trong quy luật thương yêu và công bằng.
▪ Khương Tử Nha là đệ tử Ngọc Hư Cung, được Đức Ngươn Thỉ giao lập bảng Phong Thần, còn truyền cho cây cờ Hạnh Huỳnh Kỳ buộc thi hành Nhơn nghĩa và roi Đã Thần Tiên tức cầm cân công chánh, xuống thế giúp Tây Bá Hầu Văn Vương hưng Châu phạt Trụ. Đủ chứng cớ, mới nói Khương Thượng cầm pháp chánh được Ngọc Hư cung chơn truyền, gọi là thiên mạng.
▪ Riêng Thân Công Báo, được thầy là Đức Ngươn Thỉ truyền mật pháp “khổ nhục kế” xuống núi giúp Thông Thiên Giáo chủ qua câu đố: “Công Báo do nào giúp Trụ Vương, cũng là Xiển giáo phải tầm thường?”, nếu không giúp Trụ Vương thì làm sao biết Trụ? và có cơ hội từ trong chuyển ra ngoài rồi từ ngoài chuyển vào trong để gài trận: từ Thập Tuyệt; đến Tru Tiên; cuối cùng là Vạn Tiên Trận cho sớm đủ số 365 vị lên bảng Phong Thần?

Còn Khương Thượng lãnh lịnh phạt Trụ mà không biết rõ về Trụ thì làm sao hoàn thành sứ mạng? muốn thắng Trụ phải vào triều Trụ, cũng như muốn bắt cọp phải giả thành cọp rồi mới vào hang bắt cọp. Phải chăng, cái chính trị trên mặt trận trí thức tinh thần bằng thủ thuật “nội công ngoại kích”, từ “trong chuyển ra ngoài rồi từ ngoài chuyển vào trong” của Đức Ngươn Thỉ giáo chủ Ngọc Hư Cung, sử dụng hai đệ tử Khương Thượng và Thân Công Báo cũng đủ mở đường phạt Trụ hưng Châu. Ngươn Thỉ định sứ mạng của hai đồ đệ:
- Khương Thượng cầm binh thảo phạt “ngoại kích” từ ngoài vào trong, thuận hành lo về thể pháp.
- Thân Công Báo lãnh sứ mạng “nghịch chuyển nội kích” từ trong ra ngoài, thuộc về bí pháp thay cũ đổi mới mà duy vật biện chứng bảo rằng “quy luật phủ định của phủ định”.
Quả thật, cho nên mới nói dầu thể pháp lẫn bí pháp đều do Đức Ngươn Thỉ giáo chủ Ngọc Hư Cung cầm quyền quyết định. Chính Khương Thượng trong cuộc còn không biết cái dụng ý bí pháp của Thầy trên mặt trận hưng Châu phạt Trụ, thì thế gian làm sao biết được?!
Nhưng cuộc chiến của Phong thần Trung Hoa chỉ là mặt trận hình thức Thể tướng cũng như Tam Kỳ Cao Đài Đại Đạo gọi là Thể Pháp Thanh Hương đó vậy. Bởi Thể pháp hữu hình thì hữu hoại, nên để hư bỏ, thiệt còn giả mất, cho nên muốn thay cũ đổi mới chỉ có  sở dụng Bí pháp để diệt giả tạo chơn, nên để hư bỏ, thiệt còn giả mất. Vì vậy Ngọc Hư quyết định thảo phạt Trụ Vương, giúp nhà Châu phục nghiệp.
    Nay Phong Thần tái diễn tức Phong Thánh xuất hiện trong Đạo Cao Đài, để làm nhân cho toàn thiên hạ lấy đó làm gương để cảnh giác và vui mừng! Đức Hộ Pháp đã quả quyết từ lúc ban sơ khai đạo năm 1926: “các tôn giáo tại mặt thế gian nầy dù Thể pháp có cao siêu bao nhiêu đi nữa mà không có Bí pháp để làm tướng diện căn bản thì nền tôn giáo ấy chỉ là Bàn môn Tả đạo mà thôi”.
Vậy, Phong Thần tái diễn kỳ ba được phân ra làm hai giai đoạn: Thể Pháp Thanh Hương thì “Hưng Châu Giúp Trụ” đến Bí Pháp Đạo Tâm buộc phải “Hưng Châu Phạt Trụ”.




Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả